0081.0006-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

13/1/16
0081.0006-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Tục truyền rằng Mạc-đĩnh-Chi ở Tàu, ai cũng chịu là người tài, mà xét đến tướng mạo, thì không có gì làm quí cách, mới cho người rình, lúc đi đại-tiện thấy tiện ra hình vuông, mới biết có ẩn tướng ở đấy.

    Đến lúc đi sứ về, người Tàu lại theo sang xem địa-lý, xem đến ngôi mộ thân phụ ông ấy, chịu là ngôi đất hay và có nói rằng ngôi mộ ấy hình thế rất đẹp, chỉ hiềm không có nước tụ, thiếu mất thổ-thủy, cho nên quí mà vẫn nghèo.

    Đĩnh-Chi làm quan liêm quá, vua Minh-tôn biết tính ông ấy; thường sai người đem 10 quan tiền, rình lúc tối bỏ vào cửa nhà ông ấy. Sớm mai, Đĩnh-Chi vào tâu ngay với vua, xin bỏ tiền ấy vào kho.

    Vua bảo rằng:

    - Tiền ấy không có ai nhận, thì cho ngươi cứ việc mà tiêu.

    Bấy giờ Đĩnh-Chi mới lấy, đại để thanh liên như thế cả. Đến triều vua Hiến-tôn, làm nên đến chức Tả-bộc-xạ (Tể-tướng). Văn-chương lưu truyền lại về sau rất nhiều, mà bài nào cũng vui thích cho tai mắt người ta cả. Vả lại có đức hiền-hậu, cho nên để phúc mãi đến đời con cháu. Con ông ấy là Khản, Trực, cũng làm đến Viên-ngoại-lang. Cháu là Địch, Toại, Viễn, cùng có quyền thế làm quan đương lúc nhà Minh cai trị. Đời cháu chắt thiên sang ở làng Cổ-trai huyện Nghi-dương, thì có Đăng-Dung là cháu bảy đời ông ấy làm vua nhà Mạc.

    [​IMG]Nhà Mạc lên làm vua, truy phong Đĩnh-Chi làm Huệ-việt linh-thánh đại-vương, bây giờ ở làng ấy còn thờ làm phúc-thần.

    (1) Quá ải chậm, người coi ải đóng ải, mời khách qua đường qua ải mà đi.

    (2) Ra đối dễ, làm lại đối khó, xin ông sinh trước đối trước đi cho.

    (3) Đang lúc nắng nẫu nực, thì như ông Y-Doãn, ông Chu-Công (ý là đắc dụng với thời). Đến khi mưa tuyết lạnh ngắt, thì như ông Bá-Di, ông Thúc-Tề (ý là xếp xó một chỗ).

    (4) Nắng chẩy vàng tan đá, giời đất như lò lửa, người về lúc ấy ví như Y, Chu hai ông quan to, gió bắc lạnh lẽo, mưa tuyết lấp đường, người về lúc ấy ví như Di, Tề hai người chết đói. Than ôi! Khi dùng đến thì ra, khi không dùng đến thì cất đi, chỉ ta với ngươi được thế thôi.

    (5) Chạm vào ngựa của ta cưỡi ấy là người Đông-di hay người Tây-di?

    (6) Chắn đường lừa của ta đi, thử xem người phương Nam khỏe hay là người phương Bắc khỏe?

    Câu ra thì dùng chữ sẵn ở sách Mạnh-tử, câu đối thì dùng chữ ở sách Trung-dung cho nên hay mà tài.

    (7) Chữ an bỏ chữ nữ, chữ thỉ vào thì là chữ gia.

    (8) Chữ tù bỏ chữ nhân, chữ vương đến thì là chữ quốc.

    (9) Lửa mặt giời, khói đám mây, ngày trắng đốt tàn con thỏ ngọc.

    (10) Cung mặt nguyệt, đạn ngôi sao, chiều hôm bắn rụng cái ô vàng

    (11) Bốn chữ LI VỊ VÕNG LƯỠNG cùng có chữ QUỈ.

    (12) Bốn chữ CẦM SẮT TÌ BÀ mỗi chữ đều có hai chữ VƯƠNG thành tám.

    (13) Chim đậu cảnh đọc sách Luận-ngữ, có câu chi-tri...(Nghĩa là điều gì biết thì cho là biết, điều gì không biết thì cho là không biết). Có ý chê là tiếng nói như tiếng chim.

    (14) Ếch kêu trong ao học sách Mạnh-tử, có câu: Lạc dữ... (Nghĩa là nhạc cùng với nhiều người vui nhạc, cùng với ít người vui, thì đằng nào vui?) Có ý chê lại người Tàu nói như tiếng ếch.

    (15) Con rùa sông Lạc báo triệu tốt, số giời chín, số đất chín, chín chín thành tám mươi mốt số, số số hợp thành ba đạo nhớn, đạo hợp với Nguyên-thủy thiên-tôn, bởi một bụng thành cảm cách lên.

    (16) Con phụng núi kì trình điềm hay, tiếng đực sáu, tiếng cái sáu, sáu sáu thành ba mươi sáu tiếng, tiếng tiếng suốt đến chín từng giời, giời sinh ra Gia-tĩnh hoàng-đế, cho muôn tuổi thọ dài lâu mãi.

    (17) Một đám mây trên giời xanh, một giọt tuyết trong lò đỏ, một cành hoa vườn thượng-uyển, một vầng giăng ao Giao-trì. Than ôi! Mây rã, tuyết tan, hoa tàn, giăng khuyết.

    18.- Chu-văn-An

    Tiên-sinh húy là Văn-An, tự là Linh-triệt. Người làng Quang-liệt, huyện Thanh-trì, đỗ Tiến-sĩ về triều nhà Trần.

    Ngài tính ngay thẳng mà điềm đạm, không ham đường danh lợi, chỉ cốt lấy sự tỏ đạo thánh-nhân mà triệt mối dị-đoan làm việc mình.

    Ngài mở một trường dạy học ở cạnh đầm thôn Cung-hoàng làng ấy. Học-trò đến học rất đông, mà nhiều người làm nên hiển đạt, như là Phạm-sư-Mạnh, Lê-bá-Quát làm đến Tể-tướng, mà vẫn phải giữ phép học trò, đứng hầu dưới đất. Trong bọn học-trò, ai có điều gì không phải, thì lập tức quát mắng đuổi đi ngay.

    Trong năm Khai-thái đời vua Minh-tôn, vua nghe tiếng ngài là bậc đạo-học mô-phạm, vời vào làm Quốc-tử-giám Tư-nghiệp để dạy Thái-tử học. Đến năm Đại-trị đời vưa Dụ-tôn, chính sự triều đình mỗi ngày một suy đốn, bọn quyền-thần lắm kẻ sinh ra kiêu ngạo, ngài dâng sớ xin chém 7 người gian nịnh, thì toàn những người quyền thế hách dịch bấy giờ. Vua không nghe, vì thế ngài cởi mũ giả chức quan, xin về làng cũ.

    Ngài trí-sĩ rồi, nhân ra chơi làng Ái-kiệt, huyện Chí-linh (Hải-dương), thấy có phong cảnh lạ lùng, núi non vui vẻ, (1) mới làm nhà ở trong khoảng núi Lân-phụng, tự hiệu là Tiều-ẩn tiên-sinh. Mỗi khi nhàn ngài ra thẩn thơ chơi trên đầm Miết và trong sông Thanh-lương, ngâm thơ uống rượu làm vui. Khi nào có việc triều-hội gì, thì lại vào chầu. Vua Dụ-tôn muốn dùng ngài làm tướng, nhưng ngài nhất định không làm quan nữa.

    Bà Hiếu-từ Thái-hậu nói rằng:

    - Người ấy là bậc cao-hiền, thiên-tử không có quyền bắt người ta làm tôi được, giao thế nào được chính sự cho người ta!

    Vua mới sai đem áo mũ đến ban cho ngài, ngài nhận lấy nhưng lại lấy đem cho người khác, thiên-hạ ai cũng khen ngài là cao. Học-trò bấy giờ coi ngài như núi Thái-sơn, như sao Bắc-đẩu, trọng vọng vô cùng.

    Không bao lâu, ngài mất ở nhà, vua Nghệ-tôn sai quan đến dự-tế, ban cho tên gọi là Văn-trinh-công, và cho hiệu là Khang-tiết tiên-sinh, cho được tòng tự vào bên hữu-võ đền Văn-miếu (đền thờ đức thánh Khổng-tử) ngang hàng với các bậc tiên-nho.

    Tục truyền khi ngài dạy học ở cạnh làng Cung-hoàng, có người học-trò trẻ tuổi, mặt mũi phương phi, sáng nào cũng đến nghe sách, ngài khen là người siêng năng, mà không biết là người ở đâu, mới sai người rình, xem lúc về đi đường nào, thì thấy đi đến đầm Cung-hoàng rồi biến mất.

    Ngài biết người ấy tất là thủy-thần, nhân bấy giờ giời nắng mãi, ngài mới bảo người ấy rằng:

    - Thiên tai khi nắng, khi lụt, số giời không biết đâu mà nói, nhưng mắt trông thấy dân phương này tiều tụy lắm, ai là chẳng thương tình. Anh cho phép gì làm mưa, giúp cho thầy mà cứu lấy dân này không?

    Người học trò ấy có ý khó lòng, nhưng nể nhời thầy, không biết nói làm sao, mới mài mực đen ra giữa sân, hòa với nước phun ra, một lát mưa to như chút nước xuống. Dân được trận mưa ấy, lúa má đỡ hại nhiều.

    Người ấy từ về, sáng mai, thấy một con thuồng-luồng to chết nổi ở trong đầm, mới biết tức là người học trò ấy.

    [​IMG]Ngài thấy vậy thương xót lắm, sai học-trò vớt xác thuồng-luồng lên chôn cho tử tế. Bây giờ vẫn còn gò mả thuồng-luồng.

    (1)Núi ấy có 72 ngọn, cây cối rườm rà u uất, mé tả là núi Kì-lân, mé hữu là núi Phụng-hoàng. Trên núi Phụng-hoàng có suối ngọt chảy ra thành nguồn, vòng quanh sườn núi chảy xuống đọng lại một chỗ, gọi là đầm Miết. Nước đầm ấy ngon lắm, rồi lại chảy quanh ra ngoài chân núi thông xuống sông.

    19.- Nguyễn-bỉnh-Khiêm

    Tiên sinh tên húy là, hiệu là Bạch-vân cư-sĩ, người làng Trung-am, huyện Vĩnh-lại, tỉnh Hải-dương. Tiên-thế nhà ngài có âm-đức, đời ông là Văn-Tĩnh được phong tặng Thiếu-bảo Tư-quận-công, được ngôi dương-cơ, hợp vào kiểu đất của Cao-Biền. Đời thân-phụ ngài là Văn-Định được phong tặng làm Thái-bảo Nghiêm-quận-công. Mẹ ngài là Từ-thục phu-nhân họ Nhữ, nguyên là con gái quan Hộ-bộ thượng-thư là Nhữ-văn-Lan, ở làng An-tử, huyện Tiên-minh. Bà ấy thông kinh-sử, giỏi văn-chương, mà lại tinh nghề tướng số.

    Bà ấy kén chồng đến ngoài 20 tuổi, thấy ông Văn-Định có tướng sinh ra quí-tử mới lấy. Về sau lại gặp một chàng trẻ tuổi đi qua bến Hàn, ngạc nhiên nói rằng: “Tiếc thay! Khi trước không gặp người này!” Hỏi ra thì chàng ấy là Mạc-đăng-Dung (về sau làm vua nhà Mạc). Bà ấy phàn nàn không ngần nào.

    Bỉnh-Khiêm sinh về năm Tân-hợi đời Hồng-đức (niên hiệu vua Lê Thánh-tôn); đẫy đà to lớn, mặt mũi khôi ngô, chưa đầy tuổi đã biết nói. Một khi Văn-Định đang ẵm trên tay cho trông ngóng bỗng dưng nói rằng: “Mặt giời mọc về phương đông”. Văn-Định lấy làm kỳ-dị. Đến năm bốn tuổi, phu-nhân dạy ngài học chính-văn trong kinh truyện, dạy đến đâu thuộc đến đấy. Bà ấy lại dạy học thuộc lòng vài mươi bài thơ nôm.

    Một bữa, phu-nhân đi vắng, Văn-Định kéo một cái dây đùa với con, rồi ngâm đùa một câu rằng: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”. Đương đọc dở dang, thì con tiếp theo mà ngâm rằng: “Vén tay tiên hốt hốt rung!” Văn-Định thấy con thông minh mừng lắm, về khoe truyện với phu-nhân. Phu-nhân giận nói rằng:

    - Mặt giăng là phận bày tôi, sao ông lại dạy con điều ấy?

    Văn-Định thẹn thò xin chịu lỗi, nhưng bà ấy vẫn còn căm tức, xin từ về, , nhất định không ở đấy nữa, về sau bà ấy già đời ở nhà bố mẹ đẻ(1).

    Khi Bỉnh-Khiêm còn để hai trái đào, cùng bọn trẻ con tắm ở bến Hàn, có người đi thuyền trông thấy nói rằng:

    - Tiếc thay cho thằng bé này, bộ da dày lắm, chỉ làm được Trạng-nguyên Tể-tướng là cùng!

    Khi ngài bé thì học ở nhà, đến lúc nhớn, nghe tiếng ông Bảng-nhãn Lương-đắc-Bằng hay chữ, mới vào Thanh-hóa theo học ông Bảng-nhãn.

    Lương-đắc-Bằng vốn ở làng Hội-trào, huyện Hằng-hóa. Nguyên có một chi họ lạc sang ở Vân-nam, đời đời làm quan bên Tàu. Khi Đắc-Bằng sang sứ nhà Minh, gặp một người cùng họ là Lương-nhữ-Hốt cho một quyển “Thái-ất chân-kinh”. Đắc-Bằng đem về học tập, cho nên tinh nghề lý-số, việc gì cũng tính biết được trước.

    Nguyễn-bỉnh-Khiêm học hết được phép thuật của ông Lương-đắc-Bằng. Khi ông Đắc-Bằng mất, dặn lại Nguyễn-bỉnh-Khiêm về sau phải trông nom cho con mình là Lương-hữu-Khánh.

    Trong năm Quảng-thiệu (Lê Chiêu-tôn), có việc biến loạn, Nguyễn-bỉnh-Khiêm ở ẩn một chỗ, không muốn cầu tiếng tăm với đời. Bấy giờ, Trịnh-Tuy, Mạc-đăng-Dung cùng có ý muốn tranh quyền, đánh nhau luôn mấy năm. Ngài tính số Thái-ất, biết cơ nhà Lê lại khôi phục được.

    Ngài có thơ cảm hứng sau này:

    Non-sông nào phải buổi bình-thời,

    Thù đánh nhau chi khéo nực cười!

    Cá vực, chim rừng ai khiến đuổi?

    Núi xương, sông tuyết thảm đầy nơi!

    Ngựa phi chắc có hồi quay cổ(2).

    Thú dữ nên phòng lúc cắn người(3).

    Ngán ngẩm việc đời chi nói nữa,

    Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi!

    Về sau, nhà Mạc chiếm giữ Kinh-thành, bốn phương đã hơi yên ổn, các bạn bè nhiều người khuyên ngài ra làm quan. Ngài bất-đắc-dĩ phải ra thi, thi đỗ Trạng-nguyên năm Đại-chính thứ sáu nhà Mạc. Bấy giờ ngài đã 44 tuổi.

    Vua nhà Mạc cất ngài làm Tả-thị-lang, Đông-các đại-học-sĩ, Ngài làm quan được 8 năm, trước sau dâng sớ hạch 18 người lộng-thần, nhân có chàng rể là Phạm-Dao cũng kiêu hoạnh, ngài sợ phải vạ lây, mới từ quan cáo về dưỡng lão.

    Khi ngài trí sĩ rồi, làm nhà chơi mát mẻ ở mé dưới làng, gọi là am Bạch-vân, lại bắc hai dịp cầu gọi là cầu Nghênh-phong và cầu Tràng-xuân, thường thường ra chơi hóng mát. Lại làm một cái quán Trung-tân ở bến sông Tuyết-giang, dựng bia kí sự mình. Khi thì ngài bơi thuyền chơi ở bể Kim-hải và bể Úc-hải; khi thì đi với một vài nhà-sư chơi ở các núi An-tử, núi Ngọa-vân, và núi Đồ-sơn. Đi đến đâu làm thơ ngâm vịnh đến đấy, hoặc gặp chỗ nào có cây cối mát, chim kêu ríu rít, thì lấy làm khoái chí lắm, nhởn nhơ cả ngày.

    Ngài tuy ở nhà, nhưng vua nhà Mạc vẫn coi ngài quí trọng, nhà nước có công việc gì to, thì sai sứ đến hỏi tận nhà, hoặc khi mời về Kinh mà hỏi. Ngài bàn định lắm điều ích lợi cho nhà nước, nhà Mạc phong ngài làm Lại-bộ thượng-thư, Thái-phó Trình-quốc-công, vì thế ta thường gọi là Trạng-Trình.

    Năm Ất-dậu, ngài phải bệnh, Mạc-mậu-Hiệp sai sứ đến thăm và hỏi việc hậu sự.

    Ngài bảo rằng:

    - Ngày sau, nước có việc, ở xứ Cao-bình tuy nhỏ, nhưng cũng có thể hưởng phúc được vài đời nữa.

    Đến sau nhà Mạc mất nước, chạy lên Cao-bình, quả nhiên còn giữ được 4 đời, rồi mới tuyệt.

    Ngày 28 tháng một năm Ất-dậu ngài mất, thọ 95 tuổi. Học-trò gọi ngài là Tuyết-giang phu-tử.

    Ngài học tinh về thuật số, phàm các việc tai, tường, họa, phúc, cùng là ngày mưa, ngày nắng, việc gì cũng biết trước. Có một người học-trò tên là Bùi-Sinh, ngài bảo người ấy về sau tất phú quí. Đến khi Bùi-Sinh gần 70 tuổi vẫn còn nghèo hèn, cho là ngài đoán số mình sai. Ngài cười không nói gì. Một hôm ngài bảo Bùi-Sinh mượn lấy 10 chiếc thuyền đánh cá, cho bơi ra bến Hồng-đàm bể Vạn-ninh, dặn đến giờ ấy… hễ gặp cái gì thu lấy đem về, chắc được thưởng to. Bùi-Sinh tuân nhời, quả nhiên gặp một bà cụ già, áo mũ chỉnh tề, thuyền bạt phong đến đấy. Bùi-Sinh đem về phụng dưỡng coi như mẹ. Được vài hôm có quan Tổng-đốc Quảng-đông sai người sang nói với vua rằng: “Thái phu-nhân chơi bể bạt phong, xem thiên văn thì thấy ở phương nam, xin nhà vua vì nghĩa làng giềng mà tìm giúp cho”. Ngài sai Bùi-Sinh đem bà cụ ấy dâng lên, vì thế được phong tước là Thao quận-công.

    Năm Thuận-bình thứ 8 nhà Lê (1556), vua Trung-tôn mất không có con, bấy giờ Trịnh-Kiểm đang cầm quyền, có bụng hồ nghi, không biết nghĩ ra thế nào. Hỏi Phùng-khắc-Khoan, Khắc-Khoan cũng không biết thế nào cho phải, mới sai người đi lẻn ra Hải-dương để hỏi ngài, ngài chẳng nói câu gì, chỉ ngoảnh lại bảo đầy tớ rằng:

    - Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ.

    Nói rồi, sai tiểu quét dọn đốt hương, để ngài chơi chùa và bảo tiểu rằng:

    - Giữ chùa thờ phật thì ăn oản.

    Đó là có ý khuyên Trịnh Kiểm tìm lấy dòng dõi nhà Lê mà lập lên, mà phải giữ đạo làm tôi ăn mày phật thì mới được hưởng phúc.

    Sứ-giả về nói với Trịnh-Kiểm, Trịnh-Kiểm hiểu ý, mới đón vua Anh-tôn lập lên, quả nhiên dựng lại được cơ đồ nhà Lê mà họ Trịnh cũng đời đời được vinh-hiển.

    Khi ấy đức Dụ-tổ triều Nguyễn ta (Đức Nguyễn-Hoàng) đang có hiềm với Trịnh-Kiểm. Trịnh-Kiểm có ý muốn âm hại, đức Dụ-tổ lo sợ, không biết nghĩ mưu gì cho tránh được nạn, mới sai người đi hỏi ngài. Bấy giờ ngài đang chống gậy chơi trong vườn cảnh. Trong vườn có vài mươi ngọn núi non-bộ, lại chồng chất đá làm một rặng núi ngang. Trên núi cây cối rườm rà, có đàn kiến đang bò trên tảng đá, ngài nhìn xem đàn kiến, rồi tủm tỉm cười nói rằng:

    - Một dải núi Hoành-sơn (núi ngang) kia có thể yên thân được muôn đời.

    Người kia thấy nói vậy, về nói với đức Dụ-tổ. Đức Dụ-tổ biết ý, mới xin vào trấn thủ trong Thuận Quảng (trong ấy có dải núi Hoành-sơn), quả nhiên mỗi ngày một thịnh, mở ra cơ nghiệp Nguyễn-triều.

    Học-trò ngài rất nhiều, nhưng chỉ có Phùng-khắc-Khoan, Lương-hữu-Khánh, Nguyễn-Dữ, Trương-thời-Cử là làm nên to mà có danh vọng hơn cả. Phùng, Lương thâm thúy về nghề lý-học, cùng làm danh-thần lúc nhà Lê trung-hưng.

    Khi trước ông Phùng-khắc-Khoan thuê nhà đến học ngài. Lúc học giỏi rồi, ngài đang đêm đến chơi nhà chọ, gõ cửa mà bảo rằng:

    - Gà gáy rồi, sao không đứng dậy mà thổi cơm ăn, còn nằm mãi đấy ư?

    Nhời ấy có ý giục ông Khắc-Khoan vào Thanh-hóa giúp nhà Lê. Ông Khắc-Khoan cũng biết ý thế, mới cùng với Nguyễn-Dữ vào giúp nhà Lê, làm đến công thần.

    Tính ngài thuần nhã, không hay nói, mà đã nói câu nào thì là đích đáng. Ngài làm ra thơ từ rất nhiều, đến nay vẫn còn một tập thơ Bạch-vân và một quyển sấm ký truyền lại.

    [​IMG]Khi ngài mất rồi, người làng nhớ ân đức của ngài, lập miếu ở nơi nhà cũ cho ngài, bốn mùa cúng tế. Miếu ấy đến bây giờ vẫn còn.

    (1) Tục truyền bà ấy tức ông Văn-Định lên Sơn-tây lấy chồng khác, sinh ra ông Phùng-khắc-Khoan (tức ông Trạng-Bùng).

    (2) Ứng về sau nhà Lê khôi phục được nước.

    (3) Ứng về sau nhà Trịnh lại giữ quyền nhà Lê.


    20. Đặng-đình-Tướng

    Đặng-đình-Tướng người làng Lương-xá, huyện Chương-đức.

    Tục truyền đời tổ-mẫu nhà ông ấy nghèo khó, phải đi ăn xin. Trong làng có một cái đầm, bốn mùa không lúc nào cạn nước. Những người cấy gặt thường phải bơi thuyền thúng đi làm. Giữa đầm có một gò cao, chúng thường tụ ở đấy ăn cơm. Bà cụ kia cũng thường theo người ta vào đấy kiếm ăn. Một hôm giời rét lắm, bà già ấy không chịu được, nằm xuống ở đấy. Khi chúng trở về, không ai bảo. Đến lúc bà ấy đứng dậy thì không còn người nào. Giời hôm đấy rét lại thêm mưa phùn, bà kia chết ở đấy. Hôm sau chúng trở lại, thì thấy mối lấp đất lên lù lù một đống to, mới biết bà ấy chết mà được ngôi thiên táng.

    Từ khi ấy con cái làm ăn mỗi ngày một khá. Đến đời cháu là Đặng-đình-Tướng học hành thông thái rồi thi đỗ Tiến-sĩ năm Canh-tuất đời Cảnh-trị (đời vua Lê Huyền-tôn). Từ đấy ra làm quan, rồi phụng mệnh sang sứ Tàu, được thiên lên làm Lại-bộ Thị-lang. Lâu mãi làm đến Thái-phó, phong tước Quận-công. Sau lại làm đến Đại-tư-đồ.

    Tính ngài nhân hậu phúc đức lắm, chỉ mong làm những việc cho dân được nhờ. Trên từ vua, các quan, dưới đến trăm họ, ai ai cũng có lòng kính trọng. Đến lúc ngoài 70 tuổi thì ngài làm trí sĩ, về làng Lương-xá chơi bời sông núi, xem phong cảnh cho vui tuổi già. Nhưng cứ đến ngày sóc vọng thì lại vào chầu vua một lần.

    Trong lòng ngài lúc nào cũng thương đến dân. Khi ngài từ quan về rồi, treo hai cái rỏ tre ngoài cổng ngõ, phàm dân gian ai có điều gì oan uổng, cho bỏ giấy vào hai cái rỏ ấy. Mỗi khi ngài vào chầu Kinh-đô, thì tâu lên vua để gỡ hết oan cho người ta. Tuy vậy, ngài không thèm kể ơn với ai, cứ đạo công bằng mà cứu cho thôi, nếu ai đến tạ ơn thì ngài lấy làm ghét lắm, và không cho ai đến cửa. Vì thế ai cũng phục bụng ngài.

    Ngài thọ 80 tuổi mới mất. Vua nhớ người nhân-đức, phong làm Thành-hoàng làng ấy, sai dân lập miếu thờ.

    Từ khi ấy nhà ngài thịnh vượng lắm, con cháu làm quan khắp triều-đình, mà thời nào cũng có người hiển-đạt, hơn 200 năm, không lúc nào hết người làm quan. Tục có câu rằng: “Đánh giặc họ Đinh, làm quan họ Đặng”.

    [​IMG]


    CHƯƠNG THỨ IV

    [​IMG]Các bậc văn-tài

    21.- Nguyễn-Hiền

    Nguyễn-Hiền quê ở làng Hà-dương, huyện Thượng-nguyên (Nam-định). Đỗ thủ-khoa năm Bính-ngọ thời vua Thái-tôn nhà Trần, đến năm sau thi đình đỗ Trạng.

    Nguyễn-Hiền thông minh từ thuở nhỏ. Khi 6,7 tuổi học nhà sư ở chùa, nhà sư mỗi buổi dạy 10 tờ giấy, Nguyễn-Hiền chỉ học qua là thuộc lòng.

    Một hôm, nhà sư tụng kinh vừa xong, vào phòng nằm nghỉ, mơ thấy phật giáng xuống bảo rằng: “Nhà sư sao không biết bảo Trạng, cứ để cho lên chùa nhờn với Phật”. Nhà sư tỉnh dậy soi đèn xem các tượng phật, thì thấy sau lưng một tượng có chữ đề: “Phạt 30 trượng” và sau mình hai tượng hộ-pháp thì có chữ đề: “Phạt 60 trượng”. Nhận nét chữ thì đúng chữ ông Nguyễn-Hiền. Nhà sư quở mắng Nguyễn-Hiền, bắt phải lấy nước tẩy đi.

    Nguyễn-Hiền học các sách, qua mắt một lượt là nhớ ngay. Thơ từ phú sách, nói ra tức là văn chương. Năm 11 tuổi, đã nổi tiếng thần đồng, bấy giờ có người học-trò ở Kinh-bắc tên là Đặng-Tính, tự thị tài mình hơn cả đời. Nghe tiếng Hà-dương có thần-đồng, đến chơi tận nhà, thử xem tài học ra làm sao. Khi đến ra một bài phú:

    “Phụng-hoàng sào vu A-các, Kì-lân du vu Uyển-hựu”(1).

    Nguyễn-Hiền đọc ngay bốn câu rằng:

    a) Qui phi Lạc-thủy(2),

    b) Long bất Mạnh-hà.

    c) Ý bỉ Hữu-hùng chi quốc,

    d) Ấp vu Trác-lộc chi a.

    Đặng-tính mới nghe được bốn câu, đã lắc đầu le lưỡi nói rằng:

    - Thiên tài xin nhường bác trẻ tuổi này!

    Năm đấy thi đỗ thủ-khoa. Năm sau vào thi đình, vua ra bài phú: “Áp tử từ kê mẫu phi hồ(3)”. Văn Nguyễn-Hiền hay nhất, vua cất lên đỗ Trạng-nguyên, bấy giờ mới 12 tuổi.

    Trạng vào bái mạng vua trong sân rồng, vua thấy còn bé loắt choắt, lấy làm lạ, hỏi rằng:

    - Trạng nguyên học ai ở nhà?

    Trạng thưa rằng:

    - Tâu bệ-hạ, tôi sinh ra đã biết ngay, chỉ còn chỗ nào tôi không biết, thì hỏi nhà sư một vài chữ mà thôi.

    Vua thấy trạng ứng đối, chưa biết lễ-phép, ăn nói không được khiêm tốn, mới cho về học lễ-phép, ba năm rồi mới dùng làm quan.

    Nguyễn-Hiền về nhà ở không được bao lâu, có sứ Tàu đem một bài thơ ngũ-ngôn sang thử nhân tài nước Nam.

    Thơ rằng:

    Lưỡng nhật bình đầu nhật,

    Tứ sơn điên đảo sơn;

    Lưỡng vương tranh nhất quốc,

    Tứ khẩu tung-hoành gian.

    Vua hỏi các quần-thần thì không ai hiểu nghĩa lý ra làm sao. Phải sai hai quan văn võ đến nhà ông Nguyễn-Hiền mời vào triều để hỏi. Hai quan sứ đến làng Hà-dương, gặp một đứa trẻ trong nhà hàng, mặt mũi phương phi. Sứ-giả hỏi thì đứa trẻ ấy không thèm đáp lại. Mới đọc câu đối nôm rằng:

    “Tự là chữ, cất giằng đầu chữ tử là con: Con ai con ấy?”

    Đứa trẻ đối ứng khẩu ngay rằng:

    Vu là chưng, bỏ ngang lưng chữ đinh là đứa: Đứa nào đứa này?”

    Sứ-giả biết đứa trẻ ấy tức là Trạng Hiền, mới hỏi thăm đến tận nhà, thì thấy Trạng đang lúi húi ở dưới bếp, nhân lại đọc một câu rằng:

    Ngô văn quán-tử viễn bào trù; hà tu mị táo(4)”.

    Trạng ứng khẩu đối rằng:

    “Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại; khả tạm điều canh(5)”

    Sứ-giả thấy ứng đối nhanh nhẩu và có ý cao, chịu là giỏi, mới bày kể ý vua xin mời vào kinh.

    Trạng nói rằng:

    - Thiên-tử trước bảo ta chưa biết lễ-phép, nhưng chẳng những là Trạng chưa biết lễ-phép, cả đến thiên-tử cũng chưa biết lễ phép.

    Nói thế rồi nhất định không chịu đi. Sứ-giả về tâu lại với vua, vua phải sai đem xe ngựa và đồ lễ đến đón, bấy giờ Trạng mới đi.
  • Chia sẻ trang này