0081.0008-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

13/1/16
0081.0008-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    -phương-Sóc, một người là Hàn-Kỳ. Hai người đứng cạnh đọc lên cho Phạm-Trấn viết. Rồi lại thấy Đông-phương-Sóc bảo với Hàn-Kỳ rằng:“Phải có một người sang làm cho Đỗ-Uông đau bụng, để giảm bớt sức văn của hắn đi mới được”. Một lát sau nghe tiếng Đỗ-Uông ngồi lều bên kia, rên lên khừ khừ, không sao viết được. Đến lúc Phạm-Trấn viết hơn một đoạn, thì Đỗ-Uông mới bớt đau bụng, làm được văn, cho nên nhớ nhiều mà sức văn hơi kém.

    Khi xướng hồi-danh, quả nhiên Phạm-Trấn đỗ Trạng-nguyên, mà Đỗ-Uông thì đỗ Bảng-nhãn, Phạm-Trấn mừng lắm nói rằng:

    - Phen này ta mới đè nổi được Đỗ-Uông!

    Đỗ-Uông nghe vậy tức lắm. Đến lúc vinh-qui, Trạng, Bảng cùng về một đường. Bảng nhất định không chịu nhường Trạng đi trước, cứ song cương ngựa đi ngang hang nhau. Đi mãi đến chợ Bồng-khê làng Hoạch-trạch, người làng ấy vốn biết tiếng hai ông hay chữ, nay cùng vinh-qui về qua cầu làng, mới ra xin hai ông cho một bài thơ đề vào cầu.

    Hai ông bảo nhau rằng:

    - Cầu ngói này hơn mười gian, hạn đi qua bảy gian, thì người vịnh xong một bài thơ, hễ ai làm xong trước thì đi trước, không được tranh nhau.

    Phạm-Trấn y ước, ngồi trên xe ngựa vừa đi vừa vịnh, đi khỏi bảy gian, thì vừa xong tám câu thơ. Ai cũng chịu là tài, chỉ Đỗ-Uông không chịu, nói rằng:

    - Bài ấy chẳng qua làm sẵn tự bao giờ, không phải mới làm, tài gì mà khen.

    Nói thế rồi lại cứ đi ngang hàng. Đi đến làng Minh-luân, lại có người mới làm nhà xong, đón đường xin một bài thơ để mừng nhà mới.

    Phạm-Trấn ứng khẩu đọc một bài rằng:

    Năm năm thêm phú quí,

    Ngày ngày hưởng vinh hoa

    Xưa có câu như thế,

    Nay mừng mới làm nhà.

    Đỗ-Uông hơi chịu tài nhanh hơn mình. Khi đến cầu làng Đoàn-lâm, tục gọi là cầu Cốc. Trong cầu có một người con gái bán hàng, tên là cô Loan. Hai ông mới thách nhau làm bài thơ nôm, đầu bài ra: “Cô Loan bán hàng cầu Cốc”. Hạn phải mỗi câu dung hai tiếng thuộc về giống cầm, qua cầu phải xong bài thơ, hễ ai xong thì được đi trước, không được tranh nhau nữa.

    Ông Phạm-Trấn ngồi trên ngựa lại ngâm xong trước.

    Thơ rằng:

    Quai vạc đôi bên cánh phụng phong,

    Giở giang bán trác tựa đồ công.

    Xanh le mở khép nem hồng mới,

    Bạc ác phô phang rượu vịt nồng.

    Vân vân(1) ……………………

    Đỗ-Uông bấy giờ mới chịu nói rằng:

    - Thò đọc ra đã thành thơ, nếu không có quỉ ngâm thần trợ, thì sao được thế này?

    Từ đấy mới nhường Trạng đi trước. Một hôm, Đỗ-Uông đi lẻn xem ngôi mả tổ nhà ông Phạm-Trấn, thấy có hai cái gò đất nhỏ ở hai bên ngôi mộ, tục gọi là gò Thần-đồng. Đỗ-Uông trỏ vào nói rằng:

    - Mấy phen thằng ấy nó đè ta là bởi có hai đống đất này đây!

    [​IMG]Mới lấy chân đạp vào hai gò đất ấy. Phạm-Trấn từ khi ấy phải bệnh điếc tai, chưa thuốc mãi không khỏi. Có người mách với Phạm-Trấn rằng: Đỗ-Uông đạp vào gò Thần-đồng. Phạm-Trấn kêu với vua, vua bắt Đỗ-Uông phải tạ mả tổ nhà ông Phạm-Trấn bấy giờ mới khỏi.

    (1)Bài đủ tám câu nhưng tục truyền mất bốn câu dưới.


    26.- Lê-như-Hổ


    Lê-như-Hổ người làng Tiên-châu, huyện Tiên-lữ (bây giờ thuộc về tỉnh Hưng-yên). Như-Hổ to lớn đẫy đà, cao 5 thước 5 tấc, lưng rộng 1 thước rưỡi, nhà nghèo mà hay học; ăn thì cực khỏe, mỗi bữa ăn một nồi bảy cơm mà chưa no. Học được nửa năm, vì nhà nghèo không đủ ăn, mới ở gửi rể một nhà giàu ở làng Thiên-phiến. Nhà vợ mỗi bữa cho ăn một nồi năm cơm, thì Như-Hổ thường lơ lửng nhác học.

    Bố vợ hỏi bố đẻ Như-Hổ rằng:

    - Trước tôi nghe thấy nói con ông chăm học lắm, sao từ khi hắn đến ở nhà tôi, thì lười biếng không chịu học, là cớ làm sao?

    Ông này hỏi:

    - Từ khi cháu ở nhà ông, ông cho ăn uống như thế nào?

    Ông kia nói:

    - Mỗi bữa nồi năm cơm rồi đấy!

    - Nhà tôi nghèo như thế, mỗi bữa còn phải cho nó ăn nồi bảy cơm. Ông cho nó ăn ít làm vậy, trách nào mà nó chẳng biếng học.

    Ông kia nghe nhời, mới cho ăn hơn khi trước, từ bấy giờ Như-Hổ học thêm được một vài tiếng lại thôi.

    Mẹ vợ bảo với chồng rằng:

    - Ông khéo kén được rể quí hóa nhỉ! Chỉ được bộ ăn khỏe thì không ai bằng. Dù có gượng mà học nữa, cũng không làm trò gì được tuồng hay ăn ấy.

    Bố vợ biết điều, bảo rằng:

    - Nó ăn hơn người, sức nó tất hơn người, can gì mà lo?

    Mẹ vợ hỏi:

    - Có phải sức nó hơn người, tôi có vài mẫu ruộng bỏ cỏ rậm kia kìa, ông thử bảo nó dọn cỏ đi cho tôi, xem nó có làm được không.

    Như-Hổ nghe thấy nói như vậy, sang sớm mai, lập tức vác dao phát bờ đem ra ruộng. Đến chỗ gốc cây đa to, thấy chỗ ấy mát mẻ, mới nằm ngủ ở dưới gốc cây.

    Mẹ vợ thấy rể vác dao ra đồng, cũng đi chợ mua đồ ăn để về làm cơm cho rể ăn. Khi về qua ruộng, thấy rể nằm ngủ khì ở dưới gốc cây, bà ấy điên tiết, chạy tất tả về bảo với chồng rằng:

    - Ông còn bảo thổi cơm nhiều cho nó ăn nữa thôi? Gớm mặt nó! Nó nói ra đồng dọn cỏ, thế mà từ sang sớm đến giờ, vẫn còn nằm chương thây chương xác ra ngoài ấy, rể ông quí thật!

    Hai ông bà mới dắt nhau ra đồng xem. Không ngờ từ lúc bà kia đi về, thì Như-Hổ lập tức đứng dậy phát cỏ. Chỉ một lúc, dọn sạch quang cả vài mẫu ruộng. Cá dưới ruộng chạy không kịp, chết nổi lều bều cả lên mặt nước. Khi hai ông bà đến nơi, thì thấy ruộng đã sạch rồi, bấy giờ mới biết tài sức của Như-Hổ.

    Khi lúa chín, mẹ vợ thổi sẵn nồi 20 cơm, sai Như-Hổ ra gọi thợ gặt, Như-Hổ ra ngoài một lát, trở về nói dối rằng:

    - Tôi đã gọi nhưng không ai chịu làm, vậy để tôi ăn xong sẽ gặt giúp cho mẹ.

    Nói rồi dọn cơm ra ăn, một mình đánh hết nồi 20 cơm.

    Mẹ vợ lấy làm quái lạ, nói rằng:

    - Cối xay nào mà chứa được như thế, có vỡ bụng ra mất không?

    Như-Hổ nói:

    - Mẹ đừng ngại, việc gặt hôm nay, tôi xin nhận làm một mình.

    Mới lấy một cây tre to làm đòn càn, và đem sẵn liềm hái thừng trạc ra đồng. Vừa được nửa buổi thì gặt xong hai mẫu ruộng lúa, bó làm bốn gánh quảy về nhà. Mẹ vợ từ đấy mới có bụng yêu, mỗi bữa cho ăn thật no để mà học.

    Làng bên cạnh có hội đánh vật, năm nào Như-Hổ cũng đến phá giải. Các đô vật ai cũng chịu, không ai dám ganh sức với Như-Hổ, vì thế đặt tên là Như-Hổ.

    Đến năm gần 30 tuổi, văn chương hay lẫy lừng có tiếng ở đời, rồi thi đỗ Tiến-sĩ trong thời Quang-hòa nhà Mạc. Bấy giờ có người đỗ đồng khoa với Như-Hổ tên là Nguyễn-Thanh, ở huyện Hoằng-hóa, tỉnh Thanh, có khi nói chuyện đến gia-tư nhà mình, Như-Hổ nói bỡn rằng:

    - Gia-tư nhà bác, chỉ đủ cho tôi ăn một tháng là cùng.

    Nguyễn-Thanh nói:

    - Ông khinh tôi quá làm gì thế, tôi tuy chẳng có gì nhưng cũng đủ cung phụng ông được ba tháng.

    - Thôi đừng nói ba tháng, ông thử cho tôi ăn một bữa xem làm sao.

    Ông kia vâng nhời, hẹn ngày mời Như-Hổ vào chơi. Đến hôm hẹn, Như-Hổ vào nhà Nguyễn-Thanh, không ngờ hôm ấy lại đi vắng.

    Như-Hổ bảo với người vợ Nguyễn-Thanh rằng:

    - Tôi bạn với quan Nghè đây, nhân có việc quan đi qua đây, có hơn 30 đứa đầy tớ, nhờ phu-nhân một bữa cơm.

    Phu-nhân lập tức sai người nhà làm thịt con lợn, dọn 5,6 mâm cơm mang ra.

    Như-Hổ bảo người đầy tớ rằng:

    - Mày ra gọi chúng nó vào đây.

    Lâu mãi không thấy một người nào, chỉ trọi một mình ông Như-Hổ, ngồi đánh hết cả sáu mâm cơm. Ăn xong, gửi nhời tạ ơn rồi đi.

    Chiều tối, Nguyễn-Thanh trở về, vợ nói rằng:

    - Hôm nay có một truyện nực cười quá chừng! Có một người nói là quen nhau với ông, nhân việc quan đem nhiều đầy-tớ đi qua, nhờ một bữa cơm, tôi tưởng là thật, làm 5,6 mâm cỗ. Té ra chỉ một mình người ấy ngồi ăn, tôi ở trong buồng trông ra, cứ mỗi một bát và một miếng, ăn như hùm đơm đó, chỉ một lát hết ba nồi cơm và sáu mâm cỗ, không biết là người hay là quỉ đói.

    Nguyễn-Thanh phàn nàn nói rằng:

    - Đấy là người anh em với tôi, trước có hẹn đến chơi, nhỡ ra quên mất, chắc là ông ta lại trách tôi sai hẹn.

    Bữa khác, Nguyễn-Thanh nhân việc, đi qua làng Tiên-châu, vào chơi nhà ông Như-Hổ. Như-Hổ sai người nhà làm thịt hai con lợn béo và thổi bốn mâm sôi, dọn ra hai bàn, mỗi bàn một con lợn, hai mâm sôi. Một bàn thết Nguyễn-Thanh, còn mình ngồi riêng một bàn. Nguyễn-Thanh ăn hết một góc mâm và một phần chia tư con lợn. Như-Hổ thì ăn hết sạch cả bàn mình, lại ăn thêm sang một góc xôi thịt ở bàn ông kia, chỉ còn một nửa để cho người nhà.

    Nguyễn-Thanh thất kinh nói rằng:

    - Ngày xưa ông Mộ-Trạch đã có tiếng ăn khỏe, mà chỉ hết 18 bát cơm và 12 bát canh là cùng. Nếu ông ấy sinh ra đồng thời với ông, thì cũng phải kém ông ba bậc.

    Hai người cùng cười ầm cả lên.

    Về sau Như-Hổ làm đến Thượng-thư, được phong làm Thiếu-bảo Lữ quận-công, rồi về trí-sĩ. Thọ 72 tuổi mới mất.


    27.- Phùng-khắc-Khoan

    Khắc-Khoan người làng Phùng-xa, huyện Thạch-thất, tỉnh Sơn-tây.

    Tục truyền Khắc-Khoan tức là anh em cùng mẹ khác cha với ông Nguyễn-bỉnh-Khiêm (Trạng Trình). Nguyên bà ấy từ lúc bỏ ông Văn-Định, lên Sơn-tây lấy chồng khác, rồi sinh ra Khắc-Khoan. Khắc-Khoan sinh ra có tư chất thông-minh. Khi mới nhớn, bà mẹ cho xuống Hải-dương theo học anh là Bỉnh-Khiêm. Bỉnh-Khiêm hết lòng dạy dỗ, mới thành ra một người kiêm đủ văn chương tài đức. Nhân khi bấy giờ nhà Lê giữ ở Thanh-hóa, Bỉnh-Khiêm biết cơ nhà Lê có hồi trung-hưng được, xui Khắc-Khoan vào trong đấy để giúp nhà Lê. Khắc-Khoan vào thì vua Trang-tôn nhà Lê mừng rỡ tin dùng lắm, bàn mưu lập mẹo, giúp lên được lắm việc to tát. Đến thời vua Thế-tôn nhà Lê khôi phục được kinh thành Thăng-long, vua sai Khắc-Khoan sang sứ nhà Minh để cầu phong tước. Nhà vua phong cho vua Thế-tôn làm An nam Đô-hộ-sứ.

    Khắc-Khoan trả lại sắc vua Tàu và dâng biểu nói rằng:

    - Chúa tôi là họ Lê, nguyên là dòng dõi vua nước An nam tôi, không có tội gì như nhà Mạc, mà lại phải chịu chức tước như họ Mạc, thì chúng tôi không dám nhận sắc-mệnh, xin Hoàng-đế thiên triều xét lại cho.

    Vì thế vua nhà Minh lại phong cho vua Thế-tôn làm An nam quốc-vương.

    Trong khi đi sứ, gặp ngày tết Nguyên đán, vua Tàu sai các đình-thần và các sứ-thần ngoại-quốc, mỗi người phải dâng bài thơ chúc mừng. Các người kia ai cũng dâng một bài, chỉ Khắc-Khoan dâng lên 36 bài, mà bài nào cũng hay. Vua Tàu phê cho đỗ Trạng-nguyên, bởi thế mới gọi là trạng Bùng. (Bùng tức là làng Phùng-xá, tục gọi là Bùng).

    Khi đi sứ trở về, qua tỉnh Lạng-sơn, gặp khi bà chúa Liễu hiện hình chơi trên đỉnh núi. Đôi bên đối đáp với nhau một hồi, rồi bà chúa Liễu biến mất. Khắc-Khoan lại trông thấy gỗ ngổn ngang dọc đường, nhận ra chữ “Liễu-Hạnh” và chữ “Phùng”, biết là ý bà chúa Liễu muốn nhờ Khắc-Khoan đứng lên khởi công lập đền thờ bà ấy.

    Về sau, nhân lúc thong thả, Khắc-Khoan đem hai người là Ngô, Lý đi chơi hồ Tây, lại gặp bà chúa Liễu phen nữa, có làm thơ xướng họa liên ngâm.

    Khắc-Khoan làm quan đời trung-hưng, công-nghiệp rất là hiển hách. Dần dần làm đến Thái-phó, được phong làm quốc-công, ngoài 70 tuổi mới mất.


    28.- Lê-quí-Đôn

    Lê-quí-Đôn quê ở làng Diên-hà, phủ Thái-bình, (bây giờ mới đặt riêng thành tỉnh).

    Khi trước ở phủ ấy có một ngôi đất quí, mà ai táng vào thì dân động, lại phải nhổ đi. Các thầy địa-lý ai cũng khen kiểu đất đẹp mà không ai dám táng vào. Một hôm, có một người say rượu, lập tâm muốn táng vào ngôi đất ấy, mới nằm liều ở đấy, cho chết đi thì thôi. Nửa đêm thấy có thần nói truyện với nhau rằng: “Chúng ta giữ đất này, mà có người muốn liều chết để chiếm lấy, chúng ta chẳng hóa ra phải tội với thượng-đế ư?”. Một ông thần kia nói rằng: “Hãy thử xờ vào bụng nó xem còn ấm hay lạnh rồi”. Mới lấy tay sờ vào bụng anh ta, anh ta sợ phải đứng dậy chạy về.

    Đêm hôm ấy, thần báo mộng cho người đàn anh trong làng rằng:

    - Ngôi đấy này là để dành cho người họ Lê ở làng Diễn-hà, dân chúng mày phải giữ, nếu để cho người khác táng vào thì dân chúng mày sẽ phải vạ cả.

    Người ấy tỉnh dậy lo lắm, hôm sau hội dân lại bàn rằng:

    - Ngôi đất ấy có thần giữ, người làng ta táng không được, mà để cho người xứ khác đến táng thì dân động. Các nhà địa-lý, thường thường đi lại, chỉ sợ tiếng ấy lộ ra ngoài, thì người quyền thế bắt hiếp dân mà táng, dân ta chẳng thiệt hại lắm ư? Bây giờ thần bảo để dành cho người họ Lê làng Diên-hà, không biết bao giờ cho họ ấy đến táng, để dân ta đỡ một đoạn khó nhọc.

    Giữa lúc đang bàn, thì có một cụ già vào ăn xin. Người làng hỏi:

    - Ông cụ kia ở đâu?

    Thưa rằng:

    - Tôi ở làng Diên-hà.

    - Họ gì?

    - Thưa tôi họ Lê.

    Cả làng mừng nói rằng:

    - Ở đây có một ngôi đất to, thần cho họ Lê làng Diên-hà. Cụ có phải họ Lê, thì đem tiên-phần lại mà táng, về sau phát đạt, chẳng những cụ khỏi phải khổ sở, mà dân tôi cũng đỡ được một sự quan ngại.

    Cụ kia mừng rỡ, về ngay nhà đem tiên-phần lại táng vào huyệt ấy. Về sau, con cụ ấy là Lê-trọng-Thứ quả nhiên đỗ Tiến-sĩ, làm quan rồi sau được phong là Trung-hiếu công.

    Trung-hiếu công muộn con, cùng với phu-nhân cầu tự ở chùa Quang-thừa huyện Kim-bảng. Phu-nhân nằm mơ thấy giời cho một con Kì-lân, mới có thai mà sinh ra Lê-quí-Đôn.

    Quí-Đôn thông minh khác thường, mới lên hai tuổi đã biết được hai chữ “hữu vô”. Thử một trăm lượt cũng cứ trỏ vào chữ ấy. Lên 5 tuổi, cho học Kinh-thi, thì học đâu nhớ đến đấy, không chữ gì phải bảo đến hai lượt. Lên sáu tuổi đã biết làm thơ, làm văn.

    Khi 7, 8 tuổi cởi truồng đi tắm, có một quan Thượng vào chơi với ông Trung-hiếu-công. Trông thấy đứa trẻ, hỏi thăm vào nhà ông kia, đứa trẻ ấy đứng giang hai chân ra và bảo quan Thượng rằng:

    - Tôi đố ông biết chữ gì đây, hễ ông biết được thì tôi sẽ đưa ông vào nhà.

    Ông kia thấy đứa trẻ con hỗn sược, không thèm nói gì. Đứa ấy cười ầm lên nói rằng:

    - Chữ thái thế mà không biết!

    Ông Thượng thấy đứa kỳ dị, hỏi ra mới biết là con ông Trung-hiếu công. Lúc vào chơi nhà gọi lên mắng rằng:

    - Mày là thằng rắn đầu rắn cổ, phải làm một bài thơ tự trách mình, nếu không làm được thì phải đòn.

    Quí-Đôn vâng lời làm một bài thơ nôm rằng:

    Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà,

    Rắn mà chẳng học chẳng ai tha.

    Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,

    Nay thét, mai gầm rát cổ cha.

    Chém mép chỉ quen tuồng nói dối,

    Lằn lưng cam chịu tiếng roi tra.

    Từ rầy Châu, Lỗ chăm nghề học,

    Chớ để người ta tiếng thế gia.

    Ông kia thấy bé một tí tuổi, mà văn chương tài hoa, nức nở khen mãi không thôi. Lại một khi, Quí-Đôn đến chơi nhà lý-trưởng, nhác trông thấy một quyển sổ, biên những người thiếu thuế má, kẻ thì một vài quan tiền, người thì năm bảy đấu thóc. Quí-Đôn xem qua một lượt, rồi trả người lý-trưởng. Đến sau nhà ấy bị cháy, mất cả quyển sổ, các món nợ kẻ thiếu người đủ, không biết tra khảo vào đâu. Khi gặp Quí-Đôn phàn nàn về sự mất quyển sổ.

    Quí-Đôn bảo rằng:

    - Quyển sổ ấy tôi đã nhớ cả rồi, để tôi đọc cho mà sao lại, can gì mà lo.

    Quí-Đôn đọc thì không sai lẫn một ly nào, nhưng người lý-trưởng vẫn chưa dám quyết. Đến lúc chiếu sổ ra thu các món, thì phải cả, không ai cãi cọ gì, mới biết là Quí-Đôn sáng dạ.

    Năm 18 tuổi, đỗ Thủ-khoa. Ai cũng chắc Quí-Đôn thi hội thì đỗ Trạng-nguyên. Có một ông quan triều bảo với ông Trung-hiếu-công rằng:

    - Nước ta lâu nay không có Trạng, khoa này hẳn con ông đỗ được Trạng-nguyên.

    Lại hỏi rằng:

    - Nội các sách, công-tử đã xem được hết cả chưa?

    Ông kia nói:

    - Sách nhà tôi thì cũng nhiều, duy còn thiếu một bộ “Trinh-quán chính-yếu”, vậy thì ngài có bộ ấy, xin cho cháu nó mượn xem vài hôm.

    Ông kia cho mượn, nhưng bỏ ra vài tờ, để ra đầu bài, vì thế khoa ấy Quí-Đôn chỉ đỗ Bảng-nhãn.

    Khi đỗ rồi, hai cha con cùng làm quan thời vua Hiếu-tôn nhà Lê. Vua có khen rằng:

    - Hai cha con nhà ngươi, cùng có bụng trung-quân ái-quốc, thế mới gọi là trung-hiếu truyền gia!

    Về sau, Quí-Đôn phụng mệnh sang sứ bên Tàu, các quan Tàu, thấy người thông-minh, ai cũng có lòng kính trọng.

    Có một ông Tú-tài Tàu vào bậc hay chữ, thông cả thiên-văn địa-lý tướng-số. Nghe tiếng Quí-Đôn là người anh-tài nước Nam, có ý muốn thử. Một bữa rủ Quí-Đôn đi chơi chùa xem bài văn bia. Ngọn chùa ấy, ở cạnh bờ sông, cứ mỗi buổi chiều thì có nước thủy-triều tràn lên, ngập cả bia. Khi Quí-Đôn mới xem xong thì nước đã kéo đến, ông Tú-tài dắt Quí-Đôn về chơi nhà, hỏi lại bài văn bia, thì Quí-Đôn đọc cả bài, không nhầm lẫn một chữ nào. Ông kia chịu là thông-minh.

    Ông Tú-tài kia bảo với Quí-Đôn rằng:

    - Tôi xem tướng ông, về sau tất phải chịu tội cách hết chức tước. Tôi có ngôi mộ ở trước chùa Quang-minh bên nước Nam, ông có về nước, trông nom sửa sang giúp cho tôi; sau 20 năm nữa, thì tôi chắc đỗ Trạng mà sang xứ bên ấy, thì tôi sẽ cứu cho ông.

    Quí-Đôn vâng nhời từ về, tìm thấy ngôi mộ ấy sửa sang lịch sự. Về sau, con và một người học-trò Quí-Đôn, cùng có tiếng hay chữ. Đến khoa thi, vua Lê chúa Trịnh đánh cuộc với nhau: vua thì đoán con Quí-Đôn đứng đầu; chúa thì đoán học-trò Quí-Đôn đỗ đầu. Nhưng Quí-Đôn dặn người học-trò đánh tráo văn cho con mình, bởi thế người con đỗ đầu, mà người học-trò thì đỗ thứ hai. Vua được cuộc mà chúa thì thua. Chúa Trịnh xưa nay vẫn biết sức người học-trò hơn mà mình bị thua cuộc, lấy làm tức lắm. Rồi dần dà vỡ cái mưu gian, chúa Trịnh nổi giận, cách chức Quí-Đôn và cách cả khoa-mục của hai người.

    Quí-Đôn phải cách chức buồn rầu lắm. Được vài năm, quả nhiên người Tú-tài Tàu đã đỗ Trạng-nguyên và sang sứ bên nước Nam. Khi sứ vào đến cửa ải, hỏi thăm biết Quí-Đôn phải cách rồi, mới lưu lại ở cửa ải, sai người mang một tấm vóc đề một chữ và đưa giấy nói rằng:

    - “Đố cả nước Nam biết là chữ gì, nếu không ai biết thì không sang sứ nữa”.

    Vua và chúa hội cả quần-thần lại hỏi, thì không ai biết là chữ gì. Vua và chúa lấy làm lo lắm. Các quan nói với chúa rằng:

    - Việc này phải hỏi đến Lê-quí-Đôn mới xong. Xin chúa phục chức cho Lê-quí-Đôn, rồi triệu đến mà hỏi.

    Chúa Trịnh bất-đắc-dĩ, phải trả lại hết chức tước của Lê-quí-Đôn, rồi cho đòi vào triều-đình hỏi chữ ấy.

    Lê-quí-Đôn trước còn từ tạ không biết, chúa lại trả khoa-mục cho con và người học-trò. Lê-quí-Đôn mới giải nghĩa chữ ấy và viết bốn chữ: “Phỉ xa bất đông” vào tấm vóc sai người đưa lên cho sứ Tàu.

    Vua và chúa bây giờ mới nghĩ ra nó đố mẹo; chữ viết không ra hình chữ xa, mà cũng chẳng ra chữ đông. Mà kinh thi có sẵn câu rằng:“Phỉ xa bất đông”. Đó là đố một câu, nhưng chỉ viết một chữ mà đủ ý cả 4 chữ.

    Sứ Tàu thấy nói trúng vào ý mình mới sang sứ, đó là mẹo nó cứu cho Quí-Đôn đấy.

    Tính ông Quí-Đôn trung tín thành thực, làm quan được bổng lộc, thường chia cho những người họ hàng thân thích. Dựng vợ gả chồng cho người trong họ, trước sau cả thẩy 18 người. Những vợ con anh em bạn nghèo khó, cũng thường tư cấp cho ít nhiều. Mà xử vào trong mình rất tiết kiệm, thường chỉ mặc cái áo vải ăn cơm rau mà thôi. Lại hay xem sách, đã làm đến khanh-tướng, cũng vẫn học đến nửa đêm mới thôi. Xử với người ta thì cực nhũn, không có kiêu ngạo với ai bao giờ.

    Đến khi trí-sĩ làm một cái nhà gianh, sửa sang vườn cảnh chơi bời, cửa đề hai chữ: “cẩn trai” để tỏ ý mình. Học-trò nhiều người làm nên đến khanh-tướng.
  • Chia sẻ trang này