0081.0010-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

14/1/16
0081.0010-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    -tổ ở dưới hành-tại(2). Đức Thế-tổ cả mừng, cho Tính làm tiên-phong doanh khâm-sai Tổng-nhung chưởng-cơ; rồi lại gả em là Trưởng công-chúa Ngọc-Du (con gái đức Hưng-tổ, em đức Thế-tổ) cho.

    Khi ấy tướng Tây-sơn là Thái-bảo Phạm-văn-Tham giữ thành Sài-gòn, Tính đem quân vây đánh. Tham cùng quẫn xin hàng, dẹp yên được vùng Gia-định.

    Năm Quí-sửu, Tính được thăng làm Khâm-sai chưởng Hậu-quân doanh Bình-sơn tham-thặng tướng-quân, theo đức Thế-tổ ra đánh thu phục được Phú-an.

    Năm Giáp-dần, Tính phụng mệnh trấn thủ thành Diên-khánh (bây giờ là Khánh-hòa). Trần-quang-Diệu (tướng Tây-sơn) đem hết cả quân vào vây. Tính kiên thành cố thủ, khi ấy trong thành thiếu lương, quân-sĩ rất kham-khổ, Tính lấy lời trung nghĩa khích-khuyến, tướng sĩ đều cố sức đánh, giặc không thể nào phá được. Mùa hạ, năm Ất-mão, đức Thế-tổ đại cử quân-thủy, bộ ra cứu viện. Tính nghe tin có viện-binh đến, bèn thân đốc tướng-sĩ đương đêm mở cửa thành ra đánh, quân giặc tan chạy. Đức Thế-tổ úy lạo khen Tính rằng: “Tên Diệu là kềnh-địch, mà ngươi hay giữ được thành này, có gặp gió to mới biết được cỏ cứng thật!”. Bèn phong cho Tính tước quận-công.

    Tính tuổi trẻ, mà lại là bậc thân-quí, lập được nhiều công chiến-trận, vậy nên có ý kiêu căng. Tiền-quân tôn-thất Hội thường chê Tính là người thiển-hiệp, và bảo rằng: “Cậy mình quí mà không xét đến kẻ sĩ, là lỗi quan Phiểu-Kỵ họ Hoắc(3), nay ngươi có bớt kiêu đi, thì mới giữ trọn được tiếng hay”. Tính nghe lời cảm tạ, từ đấy nén bớt kiêu-khí, đều được lòng tướng-sĩ.

    Năm Kỷ-mùi, Tính hộ giá đức Thế-tổ ra thân chinh, hạ được thành Qui-nhân. Đức Thế-tổ vào thành úy lạo, đổi tên là thành Bình-định, lưu Tính cùng Lễ-bộ Ngô-tùng-Chu ở lại trấn thủ.

    Mùa đông năm ấy, Trần-quang-Diệu, Vũ-văn-Dũng lại đem hai đạo quân vào vây Bình-định, Tính nghe tin biết thế giặc đương mạnh, chửa có thể đánh được, bèn thu quân giữ thành. Đức Thế-tổ nghe tin báo, đại cử thủy, bộ chư quân ra cứu viện.

    Tính kiên thành cố thủ, tùy phương chống chế, quân lịnh nghiêm minh, khích lệ tướng-sĩ đều liều chết mà đánh, nhớn nhỏ cả thảy hơn vài mươi trận, không thua trận nào.

    Hoặc có kẻ khuyên Tính vượt vòng vây mà lẻn ra. Tính không nghe, bảo rằng: “Ta phụng mệnh giữ thành này, thì ta nên thề cùng với thành cùng sống thác. Nếu bỏ thành mà lẩn trốn lấy một mình, thì còn mặt mũi nào mà trông thấy chúa-thượng nữa?”.

    Khi ấy quan quân đến cứu viện đã non hai năm giời, đánh mãi không tài nào giải vây được. Đức Thế-tổ sai người lặn nước từ cửa bể lẻn vào, bảo Tính bỏ thành mà ra hội với quan quân. Tính nhất định xin cố thủ, sai người cầm tờ mật-biểu ra tâu rằng: “Nay quân giặc tụ vây cả ở thành này, thì ngoài Phú-xuân hẳn không-hư, xin đem quân thừa hư ra đánh lấy Phú-xuân, chẳng khác gì đổi ngói lấy vàng; dẫu chết một mạng tôi, mà đổi lấy được Phú-xuân, cũng phải”.

    Đức Thế-tổ được tờ mật-biểu, ngài mới quyết ý đem quân do đường thủy kéo ra. Đêm hôm ấy đốt lửa ở núi Độc-sơn làm hiệu, Tính thấy hỏa hiệu, lại mở cửa thành ra đánh, giết được vài tên tướng giặc.

    Khi ấy trong thành hết cả lương thực, quân-sĩ phải giết voi, ngựa mà ăn, mà cũng không ai có lòng phản bội gì cả. Tính sợ rằng hãm thành, thì tướng-sĩ chết bại nhiều, bèn đưa thư ra bảo Diệu rằng: “Phận sự ta làm chủ-tướng, thì đành liều chết ở dưới cờ. Còn như các tướng-sĩ không có tội gì, không nên giết hại”. Lại bảo các tướng rằng: “Ta uống thuốc độc, nhảy vào lửa, đàng nào cũng chết. Nhưng ta không muốn cho giặc trông thấy mặt, ta đành chết vào lửa mà thôi”. Mới sai quân lấy củi khô chất đầy dưới lâu Bát-giác, và để thuốc súng vào giữa.

    Một hôm buổi sớm, Hiệp-trấn Ngô-tùng-Chu sang hỏi Tính xem định kế gì? Tính trỏ lẩu bát-giác mà rằng: “Kế tôi đành chịu thác ở đó mà thôi!”. Lại bảo Tùng-Chu rằng: “Tôi là võ-tướng, không lẽ cùng sống với giặc được; ông là văn-quan, giặc nó không nỡ giết nào, nên liệu mà tự toàn lấy mình”.

    Tùng-Chu cười mà rằng: “Dù văn, dù võ, ai cũng có một lòng trung ái cả, chớ có phân biệt chi? Tướng quân hay liều mình với nước, tôi lại không hay tận trung với vua hay sao?”. Nói rồi lui về dinh, uống thuốc độc mà chết.

    Tính than rằng: “Ông này lại hơn ta một chước!”. Liền thân đến liệm táng cho Chu-Tùng tử tế. Cách hai hôm sau, Tính mặc triều-phục lên lầu hội các tướng bảo rằng: “Ta nhờ có các tướng đồng tâm mới giữ được thành mà chống nhau với giặc. Nhưng nay lương cạn, lực cùng, giữ cũng không được nữa, thôi thì ta liều mình chịu thác, chớ không làm khổ tướng sĩ mãi nữa”. Các tướng nghe nói, ai cũng thương xót, đứng chung quanh lầu mà khóc. Tính khoa tay bảo các tướng lui ra, rồi sai Phó-tướng Nguyễn-văn-Biện châm lửa. Biện cũng khóc mà chạy, Tính bấy giờ đang hút thuốc lá, lấy tàn ném xuống đống thuốc súng, lửa tức thì bốc lên mà thác. Thống-binh Nguyễn-tấn-Huyên ở ngoài chạy vào, cũng nhảy vào lửa mà chết theo, hôm ấy là ngày 27 tháng 5 năm Tân-dậu.

    Diệu đem quân vào thành, trông thấy cũng rỏ nước mắt, sai làm lễ niệm táng tử tế. Còn các tướng-sĩ trong thành, không giết hại người nào cả. Nhưng bọn tướng-sĩ sau đều lẻn về, không có một người nào chịu ở theo giặc.

    Đức Thế-tổ nghe tin Võ-Tính, Ngô-tùng-Chu tử tiết, thương khóc than rằng: “Toàn tiết như thế, dẫu Trương-Tuấn, Hứa-Viễn ngày xưa, cũng không hơn được”.

    Gia-long nguyên niên, sai lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát-giác, truy tặng Tính làm Dực-vận công-thần Thái-úy Quốc-công; Chu làm Tán-trị công-thần Thái-tử thái-sư Quận-công; Huyên được tặng làm Chưởng-cơ. Năm Minh-mệnh thứ 12, truy phong Tính làm Hoài quốc-công; Chu làm Ninh-hòa Quận-công; Chu làm Ninh-hòa Quận-công, đều được phối hưởng ở nhà Thái-miếu.

    [​IMG] (1) Đỗ-thanh-Nhân, Chu-văn-Tiếp và Võ-Tính là ba kẻ hùng trong Gia-định.

    (2) Là nơi vua đi đóng quân ở đó.

    (3) Là võ tướng đời nhà Hán.


    36.- Nguyễn-văn-Thành


    Nguyễn-văn-Thành trạng mạo khôi ngô, tính thâm trầm, cương nghị. Chăm đọc sách, giỏi võ nghệ. Tổ-tiên trước ở Thừa-thiên; cha là Hiền dời vào ở Gia-định.

    Đời vua Duệ-tôn triều Nguyễn. Tây-sơn Nguyễn-văn-Nhạc khởi binh cướp Bình-thuận. Hiền mộ quân hương-dũng theo đi đánh giặc, khi ấy Thành cũng ứng mộ theo cha, đóng quân ở Cầu-giang Tống-phúc-Hợp sai Hiền đem vài nghìn quân đi tải lương, Thành cũng theo đi. Lúc đang đi nửa đường, quân lính già nửa mắc đội thóc, không kịp phòng bị, thì có quân giặc đổ ra chẹn ngang đường. Hiền thấy quân giặc kéo ập đến, liền vẫy Thành lui tránh đi. Thành lẻn ra đàng sau trận, sai những quân đội thóc, giơ sào lên làm giáo, treo áo lên làm cờ, vòng ra đàng trên Sa-đỗng, vừa đánh trống vừa reo mà kéo lên. Giặc ngỡ là có viện-binh kéo đến, phải tháo lui dần. Quan quân thừa cơ lại đánh được toàn thắng. Phúc-Hợp khen Thành còn trẻ mà có trí khôn, thưởng cho 10 lạng bạc, và một cặp áo sa.

    Đến sau, Hiền bị tử trận. Đức Duệ-tôn cho Thành làm cai đội, Thành đi chiêu tập được hơn 800 quân tráng dũng, theo Đỗ-thanh-Nhân thu phục được Sài-gòn.

    Năm Ất-tị, Thành theo đức Thế-tổ sang Xiêm ở thành Vọng-các, lại giúp Xiêm đánh phá được Miến-điện, khi ấy vua Xiêm muốn giúp binh, Đức Thế-tổ họp các tướng lại bàn. Thành tâu: “Quân Xiêm tàn ngược, không nên nhờ họ giúp nữa; nếu nhờ binh lực của họ mà được thành sự, rồi thì tất có lo về sau. Không gì bằng hãy tĩnh để đợi thời”.

    Năm Đinh-mùi, Thành phụng mệnh đi đón Hà-hỉ-Văn, bị bạt phong giạt vào Hà-tiên, tuyệt lương, Thành giả làm thuyền giặc đi tuần, vào cửa bể cướp lương. Khi về đến nơi hành-tại ở Cù-lao Cổ-cốt, đức Thế-tổ biết truyện cướp lương, quở trách Thành, truyền tống giam, sau cho tùng chinh. Khi quan quân thất lợi trận đánh ở Mỹ-tho, có kẻ xui Thành trốn về làng mà ở. Thành bảo rằng: “Vua, tôi nghĩa cả, dù sống, chết cũng phải giữ lấy; còn như sự thành, bại là tại giời, ta liệu trước sao được. Vả lại nhân phải khiển trách mà đi, nhân lúc bại-trận mà trốn, đó là kẻ tiểu-nhân phản phúc, ta không thèm làm”. Bàn cùng với lũ Hỷ-Văn 17 người, vượt bể đi theo đức Thế-tổ. Một hôm gặp bão to, gẫy cả cột buồm, bạt phong giạt vào cửa Bản-phố. Thành chạy vào trong làng, mượn được thuyền, nhờ được lương, lại vượt bể vào Long-xuyên, sau nghe tin đức Thế-tổ đóng ở Ba-lai, bèn theo đến nơi xin đi chiêu tập quân nghĩa-dũng để đánh giặc.

    Năm Quí-sửu, đức Thế-tổ ra thân chinh Qui-nhân, cho Thành làm Khâm-sai Bình-sơn Tiền tướng quân đem bộ binh đi trước, đến đâu giặc đều tan vỡ cả. Khi ấy nghe tin Thái-úy giặc là Nguyễn-văn-Hưng đem quân tự Phú-xuân vào cứu viện Qui-nhân, Thành bèn đem quân đến Thạch-tân án ngữ, năm trận đánh, quân giặc đều phải lui cả. Thành lại do đường bộ kéo đến họp với thủy-quân ở cửa Thi-nạo, rồi phụng mệnh rút quân đến đóng ở Phú-an. Bấy giờ ai cũng sợ rằng quân giặc đuổi theo, Thành nói rằng: “Trong Qui-nhân, ngoài Thuận-hóa, dẫu là thân thích, mà thực là cừu thù, chẳng qua mượn tiếng vào cứu-viện, mà kỳ thực là định nuốt nhau. Nhạc còn tự cứu không xong nữa là đi đuổi theo người”.

    Sau Nhạc quả nhiên phải lũ Hưng bức tử, lời Thành nói không sai.

    Năm Đinh-tị, Thành phụng mệnh trấn thủ Diên-khánh, khi ấy có bọn giặc khách tàu-ô thường làm trở ngạnh ngoài bể, Thành dụng mẹo bắt được, đường bể mới yên.

    Năm Kỷ-mùi, Võ-Tính trấn thủ Qui-nhân, bị quân giặc vây, Thành phụng mệnh điều khiển các đạo bộ-binh ra cứu viện, phá tan các đồn giặc. Quân giặc phải lui giữ Chủ-sơn, Thành đánh mãi không vỡ, sau Thành dò được con đường tây, nam, có thể đánh tập hậu được, bèn vẽ hình thế dâng biểu xin thêm quân.

    Đức Thế-tổ sai Tống-viết-Phúc, Lê-văn-Duyệt đem thêm quân đến Thị-dã, đều theo tiết chế Thành. Thành bèn lưu Duyệt đóng quân án ngữ ở Thị-dã, mà Thành thì đem quân qua núi Bột-khê, hơn hai trăm dặm đường, cứ rấn cơn mưa mà đi, vòng qua Đăng-trại đến sau lưng đồn giặc phóng hỏa đốt trại. Mặt trước Lê-văn-Duyệt thừa thắng đánh ập vào. Quân giặc tan chạy.

    Trận này, Thành và Duyệt cùng làm đại-tướng, cưỡi voi cầm cờ, trỏ bảo các tướng. Thành tính hay rượu, lúc sắp vào trận, cầm hồ rót uống, lại rót một chén đưa cho Duyệt, bảo rằng: “Uống chén này lại càng hăng hái thêm lên”. Duyệt cười mà rằng: “Có nhát, thì mới phải mượn rượu, chớ như trong con mắt tôi chẳng cho quân giặc vào đâu, cần gì phải mượn rượu”. Thành có ý thẹn, bởi thế căm giận Duyệt.

    Khi ấy, Thế-tổ sắp khởi trận hỏa-công ở cửa bể Thi-nại, bèn mật báo Thành đem bộ-binh đêm đánh trận giặc, để cho quân giặc mải chống giữ, thì mặt thủy-quân đánh xông vào. Võ-văn-Dũng phải bỏ thủy-đồn mà chạy.

    Khi Thế-tổ đem thủy-quân ra đánh Phú-xuân, lưu Thành đóng quân ở Vân-sơn, để chống nhau với giặc. Lại sai đem ấn sắc đến nơi quân-thứ phong cho Thành tước Quận-công.

    Thành cùng Duyệt hội quân hai mặt đánh thành Bình-định. Diệu, Dũng hết lương ăn, đương đêm bỏ thành lẻn qua đường rừng trốn chạy. Thành chiêu hàng dư-đảng được 3000 người, phụng mệnh ở lại trấn thủ.

    Thành học sách vở thông thái, am hiểu chính-thể, trong hàng chư tướng, đức Thế-tổ trọng thành hơn cả; không cứ việc nhớn, việc nhỏ, thường hỏi đến Thành để quyết định.

    Tháng bảy năm Nhâm-tuất đức Thế-tổ định xong Bắc-thành, triệu Thành cho làm Tổng-trấn, cả thảy 11 trấn đều thuộc về cả.

    Năm Gia-long thứ bảy, Bắc-thành bốn trấn nổi giặc, giả danh tôn Lê. Thành làm khúc hát “Điểm-mê” để hiểu dụ. Dân gian có người làm khúc “Tố-khuất”, đổ tội quan-lại nhũng nhiễu, cho nên nổi giặc. Thành sức các địa-phương quan đi hiểu dụ khắp mọi nơi, và sai các tướng tiến tiễu, đều dẹp yên cả.

    Năm thứ mười, Thành phụng mệnh sung chức Tổng-tài sửa lại luật lệ, định thành 20 quyển, 398 điều, tâu xin in cả để thi hành.

    Năm thứ mười ba, gặp tang đức Thừa-thiên hoàng-hậu (sinh ra ông hoàng-tử Cảnh), đức Thế-tổ muốn để ông hoàng-tử đệ-tứ (đức Minh-mệnh) làm thừa tự, vào chủ tế. Thành ngại rằng lòng văn tế khó xưng hô, đức Thế-tổ bảo rằng: “Con phụng mệnh cha, để mà tế mẹ, danh chính ngôn thuận, can gì mà không nên”. Nhưng Thành vẫn có ý bất mãn. Sau đó khi đương buổi triều, đức Thế-tổ hỏi Thành rằng: “ Nay hoàng-tôn Đán (con ông hoàng-tử Cảnh) còn nhỏ, trong hàng các con, nên lập ai là phải?”. Thành thưa rằng: “ Đích-tôn thừa trọng, mới là chính lễ. Nay bệ-hạ muốn chọn người khác, biết con chẳng ai bằng cha, chúng tôi không dám dự đến việc đó”.

    Từ đấy Thành vào triều kiến, thường tâu xin lập ngôi chừ-nhị(1), đức Thế-tổ nín nặng. Thành lại càng nghi sợ.

    Con Thành là Thuyên đỗ Cử-nhân khoa Quí-dậu, hay làm văn thơ, giao thông tân khách, nghe thấy Nguyễn-văn-Khuê, Nguyễn-đức-Nhuận là người Thanh-hóa, hay chữ có tiếng, mới làm một bài thơ sai tên môn-hạ Nguyễn-trương-Hiệu cầm ra mời vào chơi. Hiệu đem bài thơ ấy đưa cho Hình-bộ Thiêm-sự Nguyễn-hựu-Nghi. Nghi vốn oán Thành, xui Hiệu cầm bài thơ ấy mách Lê-văn-Duyệt. Duyệt với Thành hai người vốn không hòa với nhau, mới cầm bài thơ vào triều mật tâu: “Thuyên làm thơ có ý bội nghịch(2)”. Đức Thế-tổ cũng không hỏi chi. Sau Hiệu cứ giữ mãi bài thơ ấy làm chứng, đón Thành đi chầu về, nắm áo đòi tiền hối-lộ. Thành bất đắc dĩ phải bắt Hiệu và Thuyên tống ngục, liền vào chầu tâu vua, đức Thế-tổ cho là chứng cứ chưa rõ, tha tội cho Thuyên, mà Thành vẫn tại chức như cũ.

    Sau lại có kẻ hạch Thành bất pháp, Lễ-bộ các Thành không được dự tế Nam-giao. Đức Thế-tổ lại sai Lê-văn-Duyệt xét lại án người Thuyên. Thuyên phải thú phục. Thành sợ hãi xin chịu tội. Quần thần đều xin đem Thành tống ngục, đức Thế-tổ nói rằng: “Thành đâu có tội, nhưng cứ lễ đãi kẻ đại-thần, phải nên xử một cách riêng”. Bèn sai thu cả ấn sắc của Thành, cho về ở nhà. Quần-thần lại tâu: “Cha con Thành, cứ phép nên xử tử”. Gặp khi ấy ngoài Bắc-thành kết án Lê-duy-Hoán mưu phản, đệ vào kinh để Hình-bộ xét lại. Duy-Hoán lại chiêu xưng là tự Thuyên xui làm phản. Đình-thần xin bắt Thành và cả các con giam ở nhà Thị-trung quân-xá. Các đình-thần họp lại tra hỏi Thành có làm phản không? Thành thưa rằng: “Không”. Khi Thành trở ra, bảo quan Thống-chế Hoàng-công-Lý rằng: “Thế là thành án rồi, vua bắt tôi chết, tôi không chết, không phải là trung thần”. Rồi liền uống thuốc độc mà chết, thọ 60 tuổi. Khi ấy có tên lính thư-lại nhặt được tờ biểu trần-tình của Thành để lại, Hoàng-công-Lý đem dâng lên, trong tờ biểu có câu rằng: “Sớm rèn tối luyện, kết thành tội cực ác cho cha con tôi, không còn kêu oan vào đâu được nữa, chỉ có chết mà thôi”. Đức Thế-tổ xem tờ biểu, thương tình, sa hai hàng lụy, rồi phán Lễ-bộ xuất tiền kho làm ma tử tế.

    Thành có tài lược kiêm cả văn, võ, lâm trận dùng binh, định mưu trước rồi mới đánh, cho nên ít khi thua, huân lao rất to. Còn như mưu mô việc miếu đường, Thành điều trần được nhiều việc, đều thứ đệ thi hành cả, thực là có mưu xa kinh lý việc nước.

    Năm Minh-mệnh thứ mười bốn, ngịch Ngôi khởi loạn ở thành Phiên-an, vì có tên Hàm (con Thành) tùng ngụy, xuống chiếu bắt cả lũ con Thành giết sạch. Đến năm Tự-đức mới lại được truy phục chức tước.

    [​IMG]


    Là ngôi Thái-tử.

    Trong bài thơ có câu kết: “Thử hồi nhược đắc sơn trung Tể, tá ngã kinh luân chuyển hóa ky”. Nghĩa là: Hồi này nếu được Tể tướng trong núi, giúp ta kinh luân chuyển động cơ trời.


    37.- Lê-văn-Duyệt


    Lê-văn-Duyệt tổ-tích nguyên người Quảng-nghĩa, cha là Toại, thiên cư vào ở Định-tường, sinh được 4 giai, Duyệt là con trưởng. Khi sinh ra vốn người ái-nữ, hình thể ngắn ngủn, nhưng có tài tinh nhanh, sức khỏe mạnh. Khi 14,15 tuổi, thường than rằng: “Sinh ở đời loạn, mà không hay kéo cờ gióng trống làm đại-tướng, để lưu công danh ở sử sách, thì không phải là tài giai”.

    Năm Canh-tí, đức Thế-tổ lên ngôi vua tại Gia-định. Duyệt mới 17 tuổi, được sung làm Thái-giám nội-đình, sau được thăng làm cai-cơ, quản hai đội quân thuộc-nội, theo hầu đức Thế-tổ sang Xiêm-la.

    Năm Đinh-mùi, đức Thế-tổ về thu phục Gia-định, Duyệt thường theo đi chiến trận, cùng chư-tướng bàn luận việc binh, đức Thế-tổ thấy vậy lấy làm trọng, thung dung hỏi rằng: “Ngươi cũng biết việc binh à?” Duyệt thưa rằng: “Biết”. đức Thế-tổ nói: “Binh-cơ là việc lớn, ngươi sao lại nói khinh dị làm vậy?”, Duyệt thưa: “Sơn-tặc là quân vô đạo không bao lâu nữa cũng tự-diệt mà thôi. Nay ta lấy người nhân mà đánh kẻ bạo, thế như chẻ tre, tôi không có gì làm khó cả”.

    Nhân xin mộ binh theo về cánh Tả-quân, rồi phụng mệnh ra đánh Qui-nhơn, được thăng làm thượng-nội vệ-úy, theo về quân Thần-sách.

    Năm Kỷ-mùi, đức Thế-tổ sai Duyệt và Tống-viết-Phúc đem quân ra án ngữ Bình-đề. Khi ấy đức Thế-tổ nghe tin có mấy vạn quân Tây-sơn kéo vào đánh, ngài sai Trung-sứ ra hỏi tình trạng. Duyệt cùng Viết-Phúc tâu rằng: “Có hai chúng tôi ở đây, chẳng lo sợ gì giặc”. Lại trỏ núi trước mặt nói rằng: “Đây là chốn hai chúng tôi cùng liều sống thác với giặc đó”. Trận ấy quả nhiên thu phục được Qui-nhơn.

    Năm sau, tướng Tây-sơn lại vào vây Qui-nhơn, quan quân ra cứu viện chỉ lênh đênh ngoài bể, không đánh vào được cửa bể Thi-nại. đức Thế-tổ muốn dùng chước hỏa-công, bèn sai Duyệt cùng Võ-di-Nguy đem thủy-quân xông vào đánh, quân giặc ở trong đồn bắn xuống như mưa, Di-Nguy bị đạn ngã lăn xuống nước. Duyệt cũng không đoái lại nhìn chi, chỉ gia sức xông vào mà đánh. Đức Thế-tổ thấy tướng-sĩ chết hại nhiều, ba lần cho tên tiểu-sai truyền dụ bảo Duyệt tạm lui quân. Duyệt nhất định xin liều chết mà đánh, bảo tên tiểu-sai rằng: “Tôi xin cứ tiến vào, chớ không lui”. Liền thúc ngựa xông vào cửa bể, thuận gió tung lửa ra đốt hết thuyền giặc. Trận này ở sử cho là một trận võ-công đệ-nhất, khi ấy là 19 tháng giêng năm Tân-dậu.

    Bấy giờ các tướng khuyên đức Thế-tổ đem quân ra đánh úp Phú-xuân, nhưng ngài còn dùng dằng chửa quyết, Duyệt tâu rằng: “Việc binh quí hồ thần tốc, mưu mô cốt phải quả quyết. Nay đóng quân mãi ở đây, thời mỏi mệt mà vô công; tiến ra lấy được Phú-xuân, thời thành Bình-định này không phải đánh mà tức khắc giải vây; đó là một trước đánh cờ thí xe vậy”. Đức Thế-tổ nghe lời, quả nhiên thu phục được Phú-xuân.

    Năm Nhâm-tuất, Gia-long nguyên niên, Duyệt được thăng làm Khâm-sai chưởng Tả-quân doanh Bình-sơn tướng quân, tước quận-công, cùng Lê-chất đem bộ-binh đi tiên phong, dẹp yên Bắc-hà.

    Khi ấy có vua Chân-lạp là Nặc-chân phải Xiêm-la đánh đuổi, chạy sang Gia-định. Đức Thế-tổ cho Duyệt vào làm Tổng-trấn Gia-định, để điều đình xử lý việc Xiêm, Lạp, và đưa Nặc-chân về nước. Duyệt tâu xin đắp thành Nam-vang (Pnom-Phenh), thành Lư-yêm để lưu quân bảo hộ Chân-lạp.

    Trước kia Duyệt vốn là tì-tướng, thường phải theo tiết chế Nguyễn-văn-Thành. Lúc lâm trận, tính Thành thường hay trì trọng, mà Duyệt thì quả cảm hăng hái, thường lập được công to, uy danh lừng lẫy cũng bằng Thành. Nhưng Thành gét Duyệt là người quyến giới, bởi thế hai người không hòa với nhau.

    Khi ấy có người Thanh-hóa là Nguyễn-hựu-Nghi trước làm môn-khanh Nguyễn-văn-Thành, vì phải quở trách, trốn sang làm môn-hạ Duyệt. Nghi lại sai tên Nguyễn-trương-Hiện sang theo hầu Thuyên là con Thành, để rình xem Thuyên làm những điều gì. Sau Hiệu lấy được một bài thơ đem đưa cho Nghị. Nghị nói với Duyệt rằng: “Con Thành là Thuyên làm thơ chiêu dụ người đồng quận, lời rất bội nghịch”. Duyệt tin lời Nghi, mật đem bài thơ ấy tâu vua; việc án Thuyên gây ra từ đó.

    Năm Minh-mệnh nguyên niên, Duyệt lại vào trấn thủ Gia-định, dẹp yên giặc sư Kế ở Chân-lạp.

    Năm Minh-mệnh thứ 13, Duyệt thấy ngoài Bắc-thành, chia thành tỉnh, bãi chức Tổng-trấn; chỉ duy thành Gia-định còn có Duyệt cho nên chưa bãi. Duyệt nghĩ mình già yếu, dâng sớ xin từ chức, vua không cho.

    Ngày 30 tháng 7 năm ấy (1832), Duyệt mất, thọ 69 tuổi. Duyệt làm việc hay tự chuyên, dụng binh hay quá lạm. Nhưng một lòng báo quốc, phấn chấn chẳng nghĩ chi đến mình, vậy nên được lòng kẻ tướng-sĩ, đem quân đi đánh, không thua trận nào.

    Thủy chung bốn lần đi dẹp giặc mán Vách-đá ở Quảng-nghĩa, quân mán rợ đều khiếp sợ uy phong, hễ kéo quân đến thì giặc mán đều tan trốn cả.

    Khi ra kinh lược Thanh, Nghệ, những kẻ đào-phạm ở Bắc-thành cùng kẻ thổ-tù ở mặt thượng-đạo đều về đầu thú.

    Hai lần trọng trấn Gia-định, hưng lợi, trừ hại, dẹp giặc, yên dân, uy danh lừng lẫy, người Xiêm khiếp sợ, hễ khi nào có sứ bộ sang, thì người Xiêm lại hỏi thăm rằng: “Lê-công có được mạnh khỏe không?”.

    Duyệt mất rồi, thành Gia-định đổi tên thành Phiên-an, đặt ra Tổng-đốc, Bố-chính, Án-sát, Lãnh-binh. Khi ấy Bố-chính là Bạch-xuân-Nguyên sách nhiễu tham lam, tự xưng là phụng mật-chỉ truy xét việc riêng của Duyệt, sai bắt lũ Lê-văn-Khôi(1) là bộ-hạ Duyệt để tra hỏi. Khôi sợ phải tội, mưu làm phản; đêm hôm 18 tháng 5 năm Minh-mệnh thứ 14, Khôi ngầm dụ đảng lính Bắc-thuận(2) 27 người vào thành giết Bố-chính Bạch-xuân-Nguyên và Tổng-đốc Nguyễn-văn-Quế, chiếm giữ thành Phiên-an. Quan quân đánh mãi không phá được, đến năm Minh-mệnh thứ 16 mới dẹp yên. Đức Minh-mệnh truy trách là tại Duyệt nuôi lũ phỉ-đảng để gây nên vạ. Các quan nội-các đều dâng sớ kể tội Duyệt. Đình-thần nghĩ xử kết án Duyệt đáng tội trảm 7 điều, tội giảo 2 điều. Sau xử án Duyệt phải truy đoạt quan tước, cuốc phẳng mộ-địa, dựng bia đề tám chữ: “Quyền yêm Lê-văn-Duyệt thụ pháp xứ”. Con nuôi và cháu là Hán, Yên Tề đều phải xử tử.

    Mộ Duyệt ở Gia-định, từ đấy thường khi trời tối, đêm khuya, trong mộ hình như có tiếng quỉ khóc, hoặc tiếng người, tiếng ngựa ồn ào, nhân dân ở đấy không ai dám đến gần. Đến sau sai quan địa-phương bỏ cái bia dựng ngày trước đi, và cho con cháu được xây mộ lại, thì tiếng khóc ban đêm mới thôi.

    [​IMG]Là thổ-mục Cao-Bình, mộ binh theo Duyệt vào Gia-định, làm Phó-vệ-úy.

    Là những thú-đinh ngoài Bắc, Duyệt mộ làm lính cơ ở Bắc-thuận.
  • Chia sẻ trang này