0081.0011-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

14/1/16
0081.0011-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:


    CHƯƠNG THỨ VI

    [​IMG]Các vị thần linh-ứng

    38.- Sử-đồng-Tử

    Về đời vua Hùng-vương thứ ba. Vua có một người con gái tên là Tiên-Dong, mới 18 tuổi, nhan sắc xinh đẹp, không muốn lấy chồng, chỉ thường đi chơi các sông núi xem phong cảnh. Vua yêu nàng ấy, mặc ý cho đi chơi không cấm. Mỗi năm trong tuần tháng hai tháng ba, bơi thuyền chơi ở mạn sông làng Chử-xá (tức là làng Chử-xá, huyện Văn-giang bây giờ).

    Ở làng ấy có một người tên là Sử-cù-Vân và người con là Sử-đồng-Tử. Hai cha con thiên tính từ hiếu, gặp khi nhà phải hỏa tai, của cải hết sạch cả, chỉ còn một cái khố vải, cha con thay đổi nhau, ai đi đâu thì đóng. Đến khi Cù-Vân phải bệnh, dặn con rằng:

    - Tao mà chết đi rồi, thì cứ táng trần cho tao, còn cái khố đấy để cho mày.

    Cù-Vân mất, Sử-đồng-Tử không nỡ để cha chết truồng, lấy khố quàng cho cha rồi mới chôn. Còn mình thì trần truồng, đói rét khổ sở, ngày ngày đứng náu hình bên sông, chờ có thuyền buôn qua lại thì xin, hoặc là câu cá bán để độ thân.

    Một hôm, nàng Tiên-Dong bơi thuyền đến chơi bến làng Chử-xá, chiêng trống om thòm, đàn sáo rầm rĩ, cờ tán rợp đất, lính tráng rất đông. Sử-đồng-Tử trông thấy sợ hãi ẩn vào trong bãi lau sậy, cào cát lên nép mình xuống dưới, rồi lại lấy cát trùm lên trên.

    Tiên-Dong bơi thuyền đến bến ấy, nhìn trông phong cảnh vui đẹp, mới lên bãi cát đứng xem, thấy chỗ ấy sạch sẽ, giăng màn tứ vi trên bãi cát để tắm, Tiên-Dong vào màn, cởi áo xiêm tắm táp một hồi lâu, giội nước trôi cát, Sử-đồng-Tử chồi lên. Tiên-Dong trông thấy giật mình, nhìn ra biết là người con giai, mới gọi hỏi căn cớ làm sao, thì Đồng-Tử cũng thú thật cả đầu đuôi làm vậy.

    Tiên-Dong bảo rằng:

    - Ta nguyên không muốn lấy chồng, nay sự đã thế này, tất là Nguyệt-lão xe duyên đây.



    Mới sai Đồng-Tử tắm táp, ban cho quần áo, đem xuống thuyền ăn yến vui vẻ. Người trong thuyền ai cũng cho là sự kỳ dị.

    Đồng-Tử nhất định xin từ, không giám lấy, Tiên-Dong bảo rằng:

    - Thiếp với chàng là tự giời xe duyên, can gì mà từ.

    Đồng-Tử từ mãi không được phải nghe. Từ bữa ấy hai người kết làm vợ chồng.

    Có người về tâu với vua Hùng-vương, vua nổi giận nói rằng:

    - Tiên-Dong không biết tiếc danh giá, chơi bời đường-xá, lấy kẻ nghèo hèn, còn mặt mũi nào mà nhìn đến ta!

    Tiên-Dong vì thế sợ hãi không dám về, mới cùng với Đồng-Tử lập ra phố xá buôn bán với dân. Buôn bán mỗi ngày một thịnh, dần dần thành ra một làng. Các khách buôn bán ngoại-quốc qua lại, ai cũng coi bà Tiên-Dong làm chủ cả vùng ấy.

    Có một người lái buôn bảo với Tiên-Dong rằng:

    - Nếu được trăm cân vàng, cho người đi với tôi ra ngoài bể, buôn những đồ quí sang năm tất được lãi gấp mười.

    Tiên-Dong mừng rỡ, bảo với Sử-đồng-Tử rằng:

    - Vợ chồng ta là tự giời giắt lại, cơm ăn áo mặc cũng là tự giời cho, vậy thì chàng nên đem vàng ra bể mà buôn.

    Sử-đồng-Tử đem vàng đi với người lái buôn ra ngoài bể, đến núi Quình-lãng, trông lên trên núi có một am nhỏ. Đồng-Tử trèo lên xem phong cảnh. Trong am có một nhà sư còn trẻ, tên là Phật- Quang, thấy Đồng-Tử có cách điệu thần tiên, muốn truyền phép cho Đồng-Tử. Đồng-Tử ở liền ngay đấy học đạo. Được hơn một năm, Đồng-Tử trở về, Phật-Quang tặng cho một cái gậy, một cái nón, và dặn rằng:

    - Phép linh thông ở cả cái gậy và cái nón này.

    Đồng-Tử vâng lĩnh từ về, đem phật đạo về dạy Tiên-Dong, Tiên-Dong tỉnh ra, mới bỏ cửa hàng buôn, hai vợ chồng rủ nhau đi học đạo. Một hôm đi xa, giời đã tối mà chưa đến chỗ nghỉ. Canh ba đêm hôm ấy, bỗng dưng hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện châu, kho, tàng, dinh, phủ, vàng bạc, châu báu, giường, sập, màn, trướng, lại có tiểu-đồng, ngọc-nữ, tướng-sĩ, thị vệ, hầu hạ xung quanh.

    Sáng ngày mai, ai trông thấy cũng lấy làm lạ lùng kinh hãi, tranh nhau mang hương hoa ngọc-thực đến dâng. Lại có đủ văn-quan, võ-tướng, chia quân canh giữ các cửa thành, tựa hồ một nước.

    Vua Hùng-vương thấy truyện làm vậy, cho là làm loạn, sai quan quân đến đánh. Khi quan quân sắp đến nơi, chúng tâu xin đem quân ra cự.

    Tiên-Dong cười nói rằng:

    - Việc này không phải tại ta làm ra, bởi tự giời xui nên thế. Ta dù sống chết đã có giời, dám đâu cự nhau với cha? Ta chỉ thuận theo lẽ phải, mặc ý cha ta giết chết cũng cam tâm.

    Khi quan quân tiến đến, đóng ở châu Tự-nhiên (bây giờ gọi là Khoái-châu-phủ), còn cách bên này một con sông. Giời đã tối, quân chưa kịp sang sông. Đến nửa đêm, bỗng nhiên giời nổi dông gió, bay cát đổ cây, rồi thì cả một khu bà Tiên-Dong ở, cửa nhà, người, giống súc vật, trong một lúc bay cả lên giời; chỉ còn bãi đất không ở lại trông đầm mà thôi. Bởi thế bãi ấy gọi là bãi Tự-nhiên, đầm ấy gọi là đầm Nhất-dạ (một đêm).

    Dân ở đấy thấy sự lạ lùng, mới lập miếu để thờ. Về sau, vua Triệu-việt-vương đóng binh trong đầm, cự nhau với quân nhà Lương. Tướng nhà Lương là Trần-bá-Tiên đánh mãi không được. Đến lúc Bá-Tiên trở về, ủy cho tì-tướng là Dương-Sàn vây đánh. Triệu-việt-vương thiết đàn trong đầm cầu khấn, xin thần giúp cho. Bỗng thấy một ông thần (tức là Sử-đồng-Tử) cưỡi rồng xuống đàn, bảo rằng:

    - Ta tuy đã lên giời, nhưng uy linh vẫn còn ở đây, ngươi có lòng thành cầu đến ta, vậy ta xuống giúp.

    Nói đoạn, nhổ một cái vuốt chân rồng, trao cho Triệu-việt-vương và dặn rằng:

    - Ngươi lấy cái vuốt rồng này, cắm lên chỏm mũ đầu-mâu, thì đi đến đâu, giặc phải tan đến đấy.

    Nói vừa dứt nhời, rồng bay vụt lên giời biến mất. Triệu-việt-vương nghe nhời, cắm vuốt rồng lên trên chỏm mũ, tự bấy giờ sức khỏe hơn trước, thanh thế mỗi ngày một to, mới đem quân ra đánh nhau với Dương-Sàn, chém được Dương-Sàn tại trước trận, quân nhà Lương phải tan chạy hết về Tàu.



    39.- Phù-đổng thiên-vương


    Về đời vua Hùng thứ sáu. Thiên-hạ thái-bình, dân-gian giàu có; vua không triều cống với nhà Ân bên Tàu. Vua nhà Ân thấy vậy, giả tiếng đi tuần thú, muốn đem quân sang cướp nước Nam.

    Vua Hùng-vương lo sợ, vời quần-thần vào hỏi mẹo đánh giữ, có người phương-sĩ thưa rằng:

    - Bệ-hạ nên kêu với Long-quân, thì ngài sai thiên-tướng xuống giúp mới xong.

    Vua nghe lời, lập đàn làm chay, cùng cấp ba ngày cầu khấn. Bỗng đâu giời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi có một ông cụ già, cao lớn 9 thước, mặt mũi to nhớn, đầu bạc râu trắng, ngồi ở ngã ba đường cái, vừa cười vừa nói, ngợi hát mua mênh.

    Ai trông thấy cũng cho làm lạ, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra mời cụ ấy đến chỗ đàn làm chay, dâng cơm rượu thiết đãi. Ông cụ ấy không ăn uống và cũng không nói năng câu gì.

    Vua hỏi rằng:

    - Sắp có giặc Bắc xâm phạm nước Nam, được thua thế nào xin cụ bảo cho.

    Ông cụ lâu mãi mới nói rằng:

    - Sau ba năm nữa, giặc Bắc tất kéo đến đây. Nhà vua nên tìm khắp cả thiên-hạ, mà cầu lấy người kỳ-tài, phá được giặc, thì nên chia đất phong tước cho người ta, truyền mãi vô cùng. Nếu được người giỏi phá giặc không khó gì nữa.

    Nói đoạn, bay vụt lên giời biến mất.

    Vua lấy làm lạ, mới tuân nhời ấy, sai sứ đi khắp trong nước cầu người tài. Bấy giờ ở làng Phù-đổng, huyện Võ-ninh (bây giờ là Võ-giàng) có một ông nhà giàu, ngoại 60 tuổi, chỉ sinh được một người con giai, lên ba tuổi chưa biết nói, mà chỉ nằm ngửa, không ngồi đứng lên được. Khi sứ-giả đi cầu người tài, đến làng ấy, người mẹ cười mà nói bỡn con rằng:

    - Đẻ được một chút con giai, chỉ biết ăn uống, ngồi đứng không được, thì đánh thế nào được giặc, để mà lĩnh thưởng của vua, đền công sinh dưỡng cho cha mẹ.

    Người con nghe vậy, bỗng nhiên biết nói, bảo mẹ gọi sứ-giả lại đây. Mẹ lấy làm lạ lùng, bảo với người láng giềng. Người láng giềng thấy lạ truyện, xui người nhà thử gọi sứ-giả xem ra làm sao.

    Khi sứ-giả đến, trông thấy người còn bé, hỏi rằng:

    - Tiểu-nhi kia, gọi ta đến làm gì?

    Tiểu-nhi ngồi ngay dậy, bảo với sứ-giả rằng:

    - Sứ giả trở về cho mau, tâu với vua, đúc cho ta một con ngựa sắt, cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước; và một cái nón sắt, đem lại đây cho ta. Giặc đến trông thấy ta, tự nhiên phải sợ mà chạy, vua can gì phải lo?

    Sứ-giả mừng lắm, về tâu với vua.

    Vua mừng rỡ bảo quần-thần rằng:

    - Đây là Long-vương cứu ta đây! Năm ngoái ông cụ già nói truyện, quả nhiên không sai, các ngươi chớ hô nghi gì nữa!

    Vua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa sắt, kiếm sắt đến, sai người đem lại đưa cho tiểu-nhi. Sứ-giả sắp đến, mẹ ở nhà lo lắm, chỉ sợ con nói xằng thì vạ lấy đến cả nhà.

    Tiểu-nhi cười ầm lên nói rằng:

    - Mẹ cứ kiếm rượu thịt cho nhiều, cho tôi ăn uống, còn việc đánh giặc, mẹ không phải lo.

    Tiểu-nhi tự bấy giờ mỗi ngày một nhớn, cơm ăn áo mặc tốn lắm, mẹ tuy nhà giàu mà cũng không đủ nuôi cho con ăn, hàng-xóm láng-giềng, phải tư cấp giúp thêm; nào kẻ đỡ tiền thóc, người dâng rượu thịt, mà ăn vẫn không được no; vải lụa nhiều thế nào cũng mặc không đủ; cửa nhà ở cũng không vừa, phải ken cỏ lau lợp một cái nhà to để ngài ở.

    Khi giặc Ân kéo đến núi Châu-sơn (thuộc về huyện Tiên-du), thì sứ-giả đem ngựa kiếm đến nhà giao cho ngài. Ngài vươn vai đứng lên, cao hơn hai trượng, ngẩng mặt lên giời, gầm lên vài mươi tiếng, rồi rút thanh kiếm cầm trên tay quát to lên rằng:

    - Ta là thiên-tướng nhà giời đây!

    Lập tức đội nón nhảy lên ngựa, quất ngựa tế đi. Ngựa hét ra lửa mà chạy như bay, chỉ chớp mắt đã đến chỗ quân đóng. Ngài trỏ gươm đi trước, quan quân kéo theo sau, tiến sát đến trại giặc. Giặc bày trận ở dưới chân núi Châu-sơn, ngài xông vào trận đánh giết một hồi lâu, gẫy mất cả kiếm, mới vớ lấy tre ở bên cạnh đường, cầm cả tảng tre mà quật vào đám giặc. Quân giặc tan nát tựa hồ đất lở ngói tan, tranh nhau lạy phục xuống đất, kêu rằng:

    - Lạy ngài, ngài là thần tướng trên giời, chúng tôi xin chịu hàng cả.

    Khi đánh đến núi Ninh-sóc, thì giặc đã tan hết cả rồi, ngài mới cởi áo bỏ đấy, rồi cưỡi ngựa bay lên giời. Đến bây giờ vẫn còn dấu người, ngựa ở trên núi.

    Vua nhớ công, không biết lấy gì báo được, mới phong ngài làm Phù-đổng thiên-vương, lập miếu thờ ngay ở vườn nhà ngài khi trước, ban cho dân một trăm mẫu ruộng tự-điền bắt phải bốn mùa cúng tế.

    Từ đấy, giặc Bắc không dám sang xâm phạm nữa. Bốn phương nghe truyện làm vậy, đâu đâu cũng hòa hiếu với nước Nam.

    Đến đời nhà Lý, gia phong làm Sung-thiên thần-vương. Bây giờ vẫn còn thờ ở làng gióng, mà tượng thì tô ở trên núi Vệ-linh, mỗi năm đến tháng tư, dân làng ấy mở hội to lắm.

    Những tre ngài nhổ lên đánh giặc, bây giờ thành rừng ở huyện Gia-bình, gọi là tre Đằng-ngà.

    Chỗ con ngựa thét ra lửa, cháy mất một làng, cho nên bây giờ làng chỗ ấy gọi là làng Cháy.


    40.- Tản-viên sơn-thần


    Núi Tản-viên thuộc về huyện Phúc-lộc (bây giờ là huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn-tây), có ba tầng cao chót vót, hình như cái tán, cho nên gọi là núi Tản-viên.

    Tục truyền thần núi ấy khi xưa là dòng dõi vua Lạc-long. Nhà nghèo, vào rừng kiếm củi, chặt một cây cổ-thụ, hôm sau lại có sao Thái-bạch xuống cứu cây ấy sống lại, rồi cho ngài một cái gậy, và dặn rằng: “Gậy này có phép cứu được bách bệnh cho người ta, hễ ai ốm đau, chỉ cần gậy gõ vào chỗ đau là khỏi, vậy ta cho ngươi để cứu dân độ thế”. Ông ấy nhận cái gậy, từ đấy bỏ nghề kiếm củi, đi chữa bệnh cho người đau. Có một hôm, đi qua bờ sông thấy lũ trẻ chăn trâu, đánh chết một con rắn. Ông ấy trông trên đầu con rắn có chữ vương, biết là rắn lạ, mới cầm gậy gõ vào đầu rắn, thì con rắn ấy sống lại, bò xuống sông mà đi mất.

    Được vài hôm, bỗng có một người con giai, đem đồ vàng, ngọc, châu báu đến nói rằng:

    - Thưa ông, tôi là Tiểu-long-hầu, con vua Long-vương bể Nam. Bữa trước tôi đi chơi trên trần, chẳng may bị bọn trẻ con đánh chết, nhờ có ông cứu cho mới được sống, vậy tôi có của này đến tạ ơn ông.

    Ông ấy nhất định không lấy, Tiểu-long-hầu mới cố mời ông ấy xuống chơi dưới bể, đưa ra một cái ống linh tê, để ông ấy rẽ nước đi xuống. Long-vương thấy ngài xuống chơi, lấy làm mừng lắm, mở tiệc thết đãi ba ngày, rồi đưa tiễn những của quí lạ, ông ấy cũng nhất định không lấy gì cả, Long-vương mới biếu một quyển sách-ước, ông ấy nhận sách đem về, giở ra xem, muốn ước phép nào cũng được. Từ bấy giờ cứu được cho dân nhiều lắm, mà các phép thần thông biến hóa, không thần thánh nào theo kịp.

    Khi ngài đã thành thần rồi, đi qua cửa bể Thần-phù lên mạn ngược, tìm chỗ nào cao ráo, phong quang, và được thói dân thuần hậu thì mới ở. Khi đến Thăng-long, xem dân tình ăn ở phù hoa, không bằng lòng mới bỏ mà lên huyện Phúc-lộc, thấy chỗ ấy có núi Tản-viên, ba từng núi xòa xòa, hình như cái tán, phong cảnh vui vẻ, thần mới hóa phép làm một con đường về phía Nam núi, thẳng tự bến Phan-tân đến Tản-viên. Đường qua cánh đồng làng Vệ-đỗng và làng Nham-toàn, hóa phép hiện ra lâu đài để nghỉ ngơi. Lại qua cánh đồng Thạch-bạn, Vân-mông, rồi lên mãi từng núi cao nhất để ở.

    Thần tự khi ở núi ấy, thường thường ra chơi sông Tiểu-hoàng xem cá. Chỗ nào có phong cảnh đẹp cũng đến chơi. Chơi đến đâu lại hiện ra đền đài đến đấy để nghỉ ngơi. Các làng trông thấy chỗ nào có dấu đền đài, thì lại lập đình miếu để thờ.

    Bấy giờ vua Hùng-vương có người con gái tên là Mị-nương, nhan sắc rất đẹp, thần núi và vua thủy cùng hỏi xin lấy làm vợ. Vua Hùng-vương nói rằng:

    - Một thuyền-quyên không có lẽ sánh được hai anh-hùng, vậy thì ngày mai, ai đem được đủ đồ lễ đến trước thì ta gả cho.

    Sáng ngày mai, thần Tản-viên đem những đồ vàng bạc châu báu, cùng các giống chim quí thú lạ lại dâng(1). Vua Hùng-vương y ước gả cho, thần mới đón nàng Mị-nương về ở trên đỉnh núi Tản-viên.

    Vua thủy đem đồ lễ đến sau, thấy thần núi đã rước dâu về rồi, tức giận lắm, mới làm ra mưa to gió nhớn, và dâng nước lên để đuổi theo cướp về.

    Thần núi thấy vậy, làm ra lưới sắt, chắn ngang đường thượng-lưu huyện Từ-liêm. Vua thủy lại đi đường khác, tự sông Lý-nhân vào sát chân núi Quảng-oai, men bờ lên cửa sông Hát-giang, rồi ra sông Lư, vào sông Đà để đánh mé sau núi Tản-viên. Lại mở ra các sông nhỏ, để đem nước vào đánh mé trước núi. Đi qua các làng Cam-giá, Đông-lân, Cổ-nhạc, My-xá, đi đến đâu xoáy nước xuống thành vực, để làm cho các giống thủy-tộc ở, rồi tiến nước lên đánh nhau với thần núi. Thần núi thì bảo dân xung quanh đến đan phên chắn nước và dùng cung nỏ bắn xuống; lại sai các loài hùm, beo, voi, gấu, bẻ cây cối vận đá ném xuống sông. Mỗi phen đánh nhau, mưa gió sấm chớp ầm ầm, giời đất mù mịt. Đánh nhau xong rồi, thì thấy những loài cá, ba-ba, thuồng-luồng, chết nổi cả trên mặt sông. Từ đấy hai thần thù nhau, mỗi năm đánh nhau một chuyến.

    Thần núi linh ứng lắm. Phàm khi nào đảo mưa cầu tạnh, cũng thường ứng nghiệm. Ai nhờn nhỡ đến thì có tai nạn ngay. Mỗi khi tạnh giời, thần thường hiện hình chơi các nơi khe suối, có đám mây phủ như hình tán quạt.

    Khi nước Nam nội-thuộc nhà Đường, Cao-Biền sang làm Đô-hộ, muốn trấn yểm các nơi linh-tích, bắt đứa con gái 17, 18 tuổi chưa có chồng, cho ăn đồ hoa quả, mặc áo xiêm lịch sự, đặt lên ngồi trên ngai, giết trâu bò tế bái để cho thần phụ vào người con gái ấy, rồi rình khi cất nhắc chân tay, thốt nhiên chém đi. Thường hay dùng thuật ấy để trấn áp bách thần. Khi Biền dùng mẹo ấy cúng thần Tản-viên, thì thần cưỡi ngựa trắng ngồi trên đám mây nhỏ vào cỗ tế mà đi.

    Cao-Biền than rằng:

    - Linh khí nước Nam còn thịnh vượng lắm, không tài nào mà trừ được!

    Thần có phép lạ, biến hóa không biết đâu mà lường. Quan Hàn-lâm là Nguyễn-sĩ-Cố về thời nhà Trần phải đi dẹp giặc, đi qua đền ngài, đem lễ vào khấn, rồi đề một bài thơ rằng:

    Non ngất, thần thiêng, lẫm liệt thay!

    Động lòng đã thấu tới cao dày,

    Mị-nương cũng hiển oai linh lắm,

    [​IMG]Xin giúp thư-sinh một chuyến này.

    (1)Tục truyền đồ lễ: voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao, và một chĩnh vàng cốm.


    41.- Lý-ông-Trọng


    Về cuối thời vua Hùng-vương, ở làng Thụy-hương (tục gọi là làng Chèm), huyện Từ-liêm, có một người họ Lý tên Thân, hiệu là Ông-Trọng. Cao 2 trượng 6 thước, khỏe mạnh tuyệt trần. Thuở còn hàn vi, nhân có sự giết người, đáng phải tội chết. Vua thấy người cao lớn lực lưỡng, không nỡ giết. Đến đời vua An-dương-vương, vua Thủy-hoàng nhà Tần đem binh sang xâm nước Nam. An-dương-vương xin hàng, rồi đem Lý-ông-Trọng sang cống bên Tàu. Thủy-hoàng được Ông-Trọng mừng lắm coi như của rất quí trong đời, dùng ngay làm Tư-vệ hiệu úy.

    Đến khi Thủy-hoàng đem binh đi đánh dẹp thiên-hạ, thì sai Ông-Trọng trấn thủ đất Lâm-thao, để phòng quân rợ vào quấy nhiễu. Ông-Trọng hùng-dũng, tiếng lừng lẫy một vùng, rợ Hung-nô không dám bén mảng đến cửa ải. Thủy-hoàng mới phong thêm cho Ông-Trọng làm Phụ-tín hầu.

    Về sau, Ông-Trọng cáo lão về nước nhà hưu dưỡng. Không được bao lâu, rợ Hung-nô thấy vắng Ông-Trọng lại vào quấy nhiễu các sứ biên-thùy. Thủy-hoàng nhớ đến Ông-Trọng, sai người sang vời, thì bấy giờ người đã mất rồi.

    Sứ-giả về tâu lại, Thủy-hoàng phàn nàn thương tiếc vô cùng, mới đúc tượng Ông-Trọng bằng đồng, đặt ở ngoài cửa Tư-mã cung Hàm-dương. Trong bụng để rỗng, có máy vặn cho chân tay động đậy được. Thường khi sai vài chục người chui vào trong tượng đồng vặn máy cho rung động, người rợ Hung-nô qua lại, tưởng là Ông-Trọng còn sống, không dám vào quấy nhiễu nữa.

    Đến đời nhà Đường, Triệu-Xương sang làm Đô-hộ, nằm mơ thấy một người to tát cao nhớn, đến chơi bàn giảng nghĩa sách Xuân-thu, Tả-truyện. Hỏi tên họ thì nói là Lý-ông-Trọng ở làng Thụy-hương. Triệu-Xương tỉnh dậy, ngày mai hỏi thăm đến chơi tận làng ấy, tra hỏi sự tích, rồi lập miếu ngay tại khu nhà cũ ông ấy để thờ. Khi sau Cao-Biền sang đánh nước Nam-chiếu, Ông-Trọng hiển linh giúp Cao-Biền, phá giặc thành công. Cao-Biền mới sai sửa sang lại đình đài, tạc gỗ tô tượng, gọi là đền “Lý-hiệu-úy”.

    Từ bây giờ giở đi, thường linh ứng lắm, dân xã có việc gì cầu đảo đến cũng nghiệm. Lịch-triều cũng phong tặng làm linh-ứng thượng-đẳng-thần. Vì ở làng Chèm cho nên tục gọi là Thánh Chèm.


    42.- Tô-Lịch giang-thần


    Khi xưa có người tên là Tô-Lịch, làm quan Lịch ở huyện Long-đỗ, nhà ở cạnh con sông nhỏ. Nhà ấy ba đời nhân nhượng ở chung với nhau, được cất lên đỗ khoa Hiếu-liêm, và được tinh hiểu cửa nhà, vì thế ở làng ấy cũng đặt là làng Tô-lịch.

    Đến đời vua Mục-tôn nhà Đường, Lý-nguyên-Gia sang làm Đô-hộ, lập dinh phủ ở trong thành Long-biên. Nguyên-Gia thấy cửa bắc thành ấy, có con sông chảy ngược, sơ người sinh ra bụng làm phản, muốn cắm phủ chỗ khác, mà đắp ra thành La-thành.

    Khi sắp xây thành, lập dinh ở cạnh sông Tô-lịch, rót rượu dâng khấn, xin ông Tô-lịch làm thành-hoàng ở thành ấy.

    Đêm nằm mơ thấy thần bảo rằng:

    - Sứ-quân sai tôi làm chủ thành này, vì dù tôi dạy dỗ được dân, để cho biết giữ đạo trung hiếu, thì phải lập miếu mà thờ tôi.

    Nguyên-Gia xin vâng nhời. Từ đấy dân gian an nghiệp, không ai sinh ra bụng phản nghịch. Nguyên-Gia mới đắp ra thành nhỏ để ở, và lập miếu để thờ Tô-lịch.

    Khi Nguyên-Gia mới đắp thành có thầy-tướng bảo rằng:

    - Tôi xem tướng ông không đắp nổi thành to đâu, sau năm mươi năm nữa, tất có một người họ Cao, đóng đô lập phủ ở đây, mới đắp nổi được.

    Đến thời vua Ý-tôn nhà Đường, nước Nam-chiếu làm phản, vua nhà Đường sai Cao-Biền sang đánh, dẹp yên được giặc, mới đặt ra Tĩnh hải-quân, mà phong cho Cao-Biền làm Tiết-độ-sứ. Cao-Biền nhân thế giữ phủ Giao-châu, tự xưng là Cao-vương.

    Cao-Biền thông hiểu thiên-văn, địa-lý, xem xét tình thế, nhân chỗ thành nhỏ của Nguyên-Gia, đắp rộng thêm ra gọi là Đại-la-thành, chu vi 8.000 bộ.

    Mé bắc thành ấy có con sông tự sông Lư (sông cái) vào mé tây-bắc, rồi chảy xuống phía nam, vòng quanh La-thành, rồi lại đổ vào sông Cái. Mỗi năm đến tháng sáu mùa mưa, nước sông tràn lên mênh mông. Có một khi Cao-Biền ngồi thuyền chơi trong sông, bỗng thấy một ông cụ già, đầu bạc phơ phơ, râu mày trắng xóa, hình dung kì dị, đang bơi tắm ở trong sông, cười nói vui vẻ lắm. Biền lấy làm lạ, hỏi tên họ, thì nói là họ Tô tên Lịch; hỏi chỗ ở thì nói là ở trong sông. Nói đoạn, vỗ tay cười ầm cả lên, rồi tự nhiên giời đất tối xầm, ông cụ ấy biến mất.

    Cao-Biền biết là thần, nhân thế gọi sông ấy là sông Tô-lịch.

    Lại một buổi sớm, Cao-Biền đứng ở cửa đông nam La-thành trông ra sông Tô-lịch, thấy trong sông nổi cơn gió to, sóng đánh bồn cồn, mây kéo mù mịt, rồi có một người dị dạng, đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng; mình mặc áo vàng, đầu đội mũ đỏ, tay cầm một cái hốt vàng, có bóng thấp thoáng như mây
  • Chia sẻ trang này