0081.0012-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

14/1/16
0081.0012-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    phủ, mãi đến lúc mặt giời mọc cao ba trượng mà chưa tan. Cao-Biền lấy làm lạ, muốn dùng thuật trấn áp, đêm hôm ấy, chiêm bao thấy ông thần bảo rằng: “Ta là tinh đất Long đỗ, thần linh xứ này, ở đây đã lâu. Nay thấy ngươi đến đây, cho nên ta mừng quá mà hiện ra, can gì phải trấn áp ta?”. Biền tỉnh dạy sợ hãi, lập tức lập đàn cúng cấp, rồi dùng những vàng bạc đồng sắt làm bùa, cúng ba đêm ngày, rồi mới chôn bùa để yểm.

    Đêm hôm ấy mưa gió sấm sét, có tiếng quỉ thần hô hét quát tháo kinh thiên động-địa. Một lát, những bùa vàng, bạc, đồng, sắt, bật cả lên trên mặt đất, tan ra như gio, rồi bay tản vào trong không khí mất cả.

    Cao-Biền lấy làm lạ, than rằng:

    - Ở xứ này có thần thiêng như thế ta nên về Tàu, chớ có ở đây mà sinh vạ về sau.

    Tự đấy, Cao-Biền có ý muốn về, mới tôn thần Tô-lịch làm Đổ-phủ thành-hoàng thần-quân.

    Đến thời vua Thái-tổ nhà Lý, thiên đô lên thành Thăng-long. Thần Tô-lịch có thác mộng vào lạy mừng. Vua lấy làm lạ, hỏi họ tên, thì cũng nói rõ họ tên là thế. Vua lại hỏi rằng: “Thần có giúp cho trẫm giữ mãi cơ nghiệp trăm nghìn năm không?”. Thần thưa rằng: “Xin bệ hạ hưởng phúc nghìn muôn năm, thì tôi cũng được hưởng trăm năm hương hỏa”. Vua tỉnh dậy, ngày mai sai sứ đến tế ở đền ấy, tôn làm Đô-quốc thành-hoàng đại-vương. Đến đời nhà Trần, lại phong “Bảo quốc định bang đại vương”. Đền thờ ở làng Đông-ác, huyện Thọ-xương (Bây giờ thuộc về thành phố Hà-Nội).



    43.- Bạch-mã-thần


    Khi Cao-Biền ở trấn nước Nam, giữ phủ xưng vương, đắp rộng thêm thành La-thành. Đắp xong, một buổi trưa, đứng ngoài cửa đông ngóng xem, bỗng nhiên mưa gió ầm ầm, rồi có một đám mây ngũ sắc, tự dưới đất bốc lên, khí sáng ánh ra tứ phía. Lại thấy có một người ăn mặc đường bệ, cưỡi con cầu-long (rồng chưa có sừng) nửa vàng nửa đỏ, tay cầm hốt vàng, đứng trong đám mây, có bóng thấp thoáng lên xuống, lâu lâu thì tan mất.

    Cao-Biền lấy làm lạ lùng, nghi là ma quỉ, muốn thiết đàn cúng cấp, dùng phép trấn áp.

    Đêm hôm ấy nằm mơ thấy thần lại bảo rằng:

    - Xin ông chớ nghi tôi, tôi là thần chính-khí ở đất Long-đỗ này, chớ không phải ma quái nào. Tôi thấy ông mới đắp xong cái thành, cho nên mừng mà hiện ra đấy thôi.

    Cao-Biền tỉnh dạy, hội các quan lại bảo rằng:

    - Ta không trị nổi được xứ này hay sao? Sao mà lắm ma quỉ hiện ra thế, hoặc là điềm gở gì đây chăng?

    Chúng xin thiết đàn, bày hình tượng thần ấy, rồi dùng nghìn cân sắt, làm bùa trấn yểm.

    Cao-Biền nghe nhời lập đàn cúng bái, rồi chôn nghìn cân sắt để yểm. Hôm sau, giời đất tối tăm mù mịt, mưa gió ầm ầm, rồi có tiếng sét đánh vào chỗ yểm bùa, sắt tan vụn bay đi mất cả. Biền thấy vậy sợ hãi, mới lập đền ở trong phố để thờ thần ấy. Về sau, vua Lý-thái-tổ thiên đô lên Thăng-long, mơ thấy thần lại mừng. Vua tỉnh dậy, sai các quan đem lễ đến tế, phong làm Thăng-long thành-hoàng đại-vương.

    Bấy giờ vua mở ra chợ cửa đông cho dân buôn bán, miếu thờ ngài ở cạnh đường, thường có hỏa-tai, cháy lây cả một dãy phố, chỉ miếu của ngài là không động gì đến. Mỗi khi nhà vua làm lễ nghênh xuân, thường vẫn cúng trong miếu ấy.

    Thái-sư là Trần-quang-Khải có đề một bài thơ rằng:

    Xưa nghe lừng lẫy tiếng anh linh,

    Ma cũng ghê, mà quỉ cũng kinh.

    Ngựa lửa ba phen thiêu chẳng tới,

    Roi lôi một trận đánh không chênh,

    Chỉ tay đè nén vài trăm quỉ.

    Quát tiếng trừ tan mấy vạn binh.

    Nhờ đội oai thần xua giặc Bắc,

    Khiến cho non nước tại thanh bình.

    Trần-triều phong là: “Thuận-dụ-phu-ứng đại-vương”. Đền ở phương Hà-khẩu, huyện Thọ-xương, gọi là thần Bạch-mã (Bây giờ tức là đền Bạch-mã ở phố Hàng-buồm).





    44.- Sóc-thiên-vương


    Về thời vua Đại-hành nhà Lê, quan Khuông-việt Thái-sư là Ngô-cảnh-Chân thương hay chơi ở làng Bình-lỗ, ưa phong cảnh chỗ ấy vui đẹp, mới làm một cái am để ở. Một đêm đến canh ba, mơ thấy một ông thần mặc áo vàng giát sắt, tay tả cầm một ngọn thương vàng, tay hữu cầm một hòn ngọc, có vài mươi người lính hầu, mặt mũi hung tợn, trông như quỉ sứ.

    Ông thần ấy bảo với Thái-sư rằng:

    - Ta là Côn-sa môn thiên-vương đây, đầy-tớ ta là thần Dạ-xoa cả đấy. Thượng đế sai ta sang xứ Bắc, coi giữ nhân-dân. Người có duyên với ta, cho nên ta lại đây nói chuyện với ngươi.

    Thái-sư giật mình đứng dậy, nghe trong núi có tiếng quát tháo ầm ầm, trong bụng lấy làm sợ hãi. Hôm sau vào núi xem, thì thấy một cây cổ thụ, cành lá rườm rà, và có đám mây đẹp phủ lên trên ngọn cây. Thái-sư sai thợ đẵn cây ấy, đem về tạc tượng như hình dáng trong mộng, rồi lập đền ở trên núi để thờ.

    Trong năm Thiên-phúc thứ nhất (980), có quân nhà Tống vào cướp nước. Vua Đại-hành sai Thái-sư cầu khẩn ở đền thần Côn-sa-môn. Bấy giờ quân nhà Tống đóng ở làng Tây-kết, chưa kịp đánh nhau với quân nhà Lê. Quân Tống bỗng thấy một người ở dưới sông Bạch-đằng nhảy lên đứng trên mặt nước, cao hơn 10 trượng, xõa tóc trừng mắt, quân Tống khiếp sợ tan chạy, phải lui về giữ trên thượng-lưu. Lại gặp cơn phong ba to, thuyền bè chìm đắm mất nhiều, vua Đại-hành thừa thế đốc quân lên đánh, bắt được Chuyển-vận-sứ là Nhân-bảo, vì thế quân Tống phải tan.

    Vua thấy thần Côn-sa-môn anh linh làm vậy, sai sửa sang thêm đền đài cho đẹp, rồi phong làm Sóc-thiên-vương, để trấn phương bắc. Đền ấy ở núi Vạn-linh, huyện Kim-hoa tỉnh Bắc-ninh.

    Đến thời nhà Lý, lại lập đền thờ ở mé đông hồ Tây, phong làm phúc-thần, để trấn phương bắc, và để có việc kì đảo cho tiện (tức là đền ở làng Nhật-tảo bây giờ).



    45.- Liễu-Hạnh tiên-chúa


    Về thời vua Anh-tôn nhà Lê (1557) ở về thôn Vân-cát, xã Yên-thái, huyện Vụ-bản, tỉnh Nam-định, có một người gọi là Lê Thái công tiên tổ tích đức đã ba đời, đến đời Lê Thái-công cũng hay làm phúc. Ngoài 40 tuổi, sinh được một người con giai. Cách năm sau, Thái-bà có mang được vài tháng thì phải bệnh, ưa những đồ hương hoa, người nhà cho là ma làm, mời thầy phù-thủy cúng cấp mà bệnh lại nặng thêm.

    Đến hôm trung-thu có người xin vào chữa bệnh cho Thái-bà. Thái-công mời vào, người ấy cầm cái búa ngọc, lên đàn niệm câu thần-chú, rồi ném búa xuống đất. Thái-công ngồi cạnh ngã ngay xuống mơ mơ màng màng, thấy có hai người lực-sĩ đưa đi. Đường đi khuất khúc, đến một nơi nhà vàng cửa ngọc, lực-sĩ đưa đi qua chín từng cửa, rồi đến chốn cung đường, thì đứng lại ở dưới hè. Trông lên trên thì thấy có một vị áo mũ đường hoàng, hai bên văn võ cầm hốt đứng chầu, nghi vệ rất thịnh. Sực có một người con gái mặc áo đỏ, bâng chén ngọc dâng rượu thọ, nhỡ tay rơi chén, sứt mất một góc. Tả-ban có một viên mở ngay sổ ra biên vài chữ, rồi thấy hai người sứ-giả và vài chục người thị nữ xúm lại dắt nàng mặc áo đỏ tự cửa nam đi ra. Mé trước có một cái biển vàng, trên có hai chữ “Sắc giáng”, giữa có hai chữ “Nam nam”, còn các khoản dưới thì mập mờ không rõ.

    Thái-công hỏi người lực-sĩ rằng:

    - Đó là việc gì thế?

    Lực-sĩ nói:

    - Đây là bà tiên-chúa thứ hai tên là Quỳnh-hoa, chuyến này chắc phải đầy xuống trần.

    Nói đoạn, lực-sĩ đưa Thái-công về đến nhà thì tỉnh dậy, mà Thái-bà đã sinh ra một người con gái, nhân thế đặt tên là Giáng-tiên.

    Khi nàng Giáng-tiên nhớn lên, nhan sắc lạ thường, Thái-công cho tĩnh ở trong nhà học hành. Nàng ấy thông minh, mà lại tài nghề âm-nhạc. Thường làm ra ca từ bốn mùa, lựa vào khúc đàn để chơi.

    XUÂN TỪ (ĐIỆU XUÂN QUANG HẢO)

    Cảnh như vẽ, khéo ai bày? Hoa đào mỉm miệng liễu giương mày. Bướm nhởn bay, oanh vàng líu lo trong bụi, én đỏ ríu rít trên cây. Buồng xuân dìu dặt mối tình ngây, đề thơ này!

    HẠ TỪ (ĐIỆU CÁCH PHỐ LIÊN)

    Giời đất nhiều phần nóng nẫu. Đầu cành rức giọng ve, bãi cỏ vang tiếng chẫu; vò võ quốc kêu sầu, eo éo canh hót ngẫu, Dường bảo nhau “Chúa xuân về rồi thôi cũng hão!” Cảnh sắc dường kia, ngao ngán cầm lòng khôn đậu. May đâu, thần Chúc dong gảy một khúc nam-huân, hương sen thoảng đáo, một trận gió bay, sạch lòng phiền não.

    THU TỪ (ĐIỆU BỘ BỘ-THIỀM)

    Mặt nước trong veo non tựa ngọc, gió vàng hây hẩy khua khóm trúc. Hoa lau muôn dặm trắng phau phau, cây cối vẻ hồng pha vẻ lục. Cung thiềm sáng quắc ả Hằng ngủ, dạo bước thềm giao tình rạo rạc. Chi bằng đến thẳng dưới giậu hoa cúc thơm, thảnh thơi dạo đàn gảy một khúc.

    ĐÔNG-TỪ (ĐIỆU NHẤT TIỄN-MAI)


    Khí đen mờ mịt tỏa non sông, hồng về nam xong! Nhạn về nam xong! Gió bắc căm căm tuyết mịt mùng! Tựa triện ngồi trông, tựa triện đứng trông. Sưởi lò mặt vẫn giá như đồng, ngồi chẳng yên lòng, nằm chẳng yên lòng! Dậy xem phong cảnh lúc giời đông, hoa quên lạnh lùng! Người quên lạnh lùng!

    Một khi Thái-công dạo chơi sau vườn, nghe thấy khúc đàn ấy, trong bụng buồn rầu, nhân có ông bạn quen họ Trần ở cùng một làng, mới cho làm con nuôi ông ấy, và làm riêng một nhà lầu ở sau vườn Trần-công cho con gái ở.

    Cạnh nhà Trần-công có một nhà quan, tuổi già chưa có con giai, nhân đêm giăng ra chơi vườn đào, bắt được đứa con giai ở dưới gốc đào, vì thế đặt tên là Đào-lang. Đào-lang mặt mũi tuấn tú. Trần-công thấy Giáng-tiên tư chất khác phàm và lại nết na, có ý muốn kết duyên cho Đào-lang. Hai bên cha mẹ thuận lòng, mà hai người cũng tốt duyên phải lứa, mới gả cho nhau. Tự khi cưới về, Giáng-tiên một lòng hiếu thuận. Năm sau, sinh được một mụn con giai, cửa nhà thêm vui vẻ.

    Ngày tháng thấm thoắt, chợt đã ba năm. Hôm mồng ba tháng ba, Giáng-tiên tự nhiên vô bệnh mà mất, bấy giờ mới hai mươi mốt tuổi. Ba nhà sầu thảm vô cùng.

    Thái-bà đau xót đêm ngày khóc lóc. Một bữa đang khóc thì thấy con về ôm lấy mẹ mà nói rằng:

    - Mẹ ơi! Con ở đây, mẹ khóc gì thế?

    Thái-bà mở choàng mắt ra trông thấy quả là con, cả nhà xúm lại hỏi han.

    Tiên-chúa nói rằng:

    - Con là Đệ-nhị-tiên-cung phải đầy xuống trần, nay đã hết hạn, lại phải lên chầu Thượng-đế. Cha mẹ có âm-công, đã vào sổ tiên, mai sau cũng được đoàn tụ, không can gì phải lo sầu.

    Nói đoạn lại biến mất.

    Chàng Đào-lang tự khi uyên bay, trăm phần sầu não. Một đêm đang ngồi ngâm thơ giải phiền, sực thấy Tiên-chúa đến, chàng kia níu lấy kể lể nỗi đoạn sầu khổ. Tiên-chúa khuyên giải hết điều rồi lại biến mất.

    Tự bấy giờ đi mây về gió, chơi xem phong cảnh các nơi. Một hôm, đến tỉnh Lạng-sơn, trông thấy có ngọn chùa trên núi, mới lên xem cảnh, rồi ra nghỉ mát dưới gốc cây thông, gẩy đàn ngợi hát. Xảy có Phùng-khắc-Khoan (Trạng-Bùng) đi sứ về qua, hai bên ngồi đối đáp với nhau.

    Phùng-công đọc trước một câu rằng:

    - Tam một sâm đình; tọa chước hảo hề nữ tử.

    Tiên-chúa ứng thanh đối rằng:

    - Trùng sơn xuất lộ; tẩu lai sứ giả lại nhân.

    Phùng-công lại đọc rằng:

    - Sơn-nhân bằng nhất kỉ; mạc phi tiên nữ lâm phàm.

    Tiên-chúa lại đọc rằng:

    - Văn-tử đái tràng cân; tất thị học-sinh thị trướng.

    Phùng-công thấy vậy, muốn hỏi lai lịch thì đã biến mất rồi, chỉ thấy gỗ nằm ngổn ngang, hình ra bốn chỗ: “Mão khẩu công chúa”(1), và có một cây gỗ dựng viết bốn chữ “Thủy mã dĩ ẩu”(2). Phùng-công đoán ý tứ các chữ ấy, biết là Liễu-hạnh công-chúa nhờ mình khởi công sửa sang chùa ấy, mới xuất tiền cho dân sửa sang.

    Lại một khi Phùng-công đem bạn lên chơi hồ Tây, cũng gặp Tiên-chúa, xướng họa liên ngâm với nhau. Về sau Tiên-chúa hiển thánh ở đèo Ngang phố Cát, tỉnh Thanh-hóa, hiện ra làm con gái đẹp bán nước những kẻ đùa bỡn chết hại rất nhiều. Triều-đình nghi là yêu quái, sai thầy phù-thủy và Trịnh hoàng-thúc đem quân đi tiễu. Quan quân bắn vào trong núi, tàn phá đền đài. Được vài tháng, dân xứ ấy dịch tễ, lập đàn cầu khấn, thì mới biết là Tiên-chúa hiển thánh tâu lên triều-đình, vua sai sửa sang lại đền miếu, phong làm Mã-vàng công chúa. Sau lại có công giúp nước phá giặc Mán, được phong làm Chế-thắng bảo hòa-diệu đại vương, lập đền trên núi Sùng-sơn, đến giờ vẫn còn anh linh.

    [​IMG]


    (1)Gỗ ngổn ngang là hình chữ mộc 木. Chữ mão 卯, chữ khẩu 口 gia thêm chữ mộc, là chữ Liễu 柳 hạnh 杏.
    (2)Thủy 水 mã 馬 là chữ Phùng 馮; Dĩ 已 tẩu 走 là chữ khởi 起, ý là bảo họ Phùng khởi công.


    CHƯƠNG THỨ VII

    [​IMG]Các vị tiên tích

    46.- Từ-Thức

    Từ-Thức người ở Hóa-châu (Thanh-hóa). Trong thời Quang-Thái, đời vua Thánh-tôn nhà Trần, nhân có chân ấm-sinh, được làm Tri-huyện Tiên-du (Bắc-ninh). Cạnh huyện có ngọn chùa to, trong chùa có một cây mẫu đơn, mỗi khi mùa xuân hoa nở, khách bốn phương đến chùa xem hoa đông như hội, nhân thế gọi là hội xem hoa.

    Tháng hai năm Đinh-tị (1396), chính giữa hôm hội, có một cô ả nhan sắc mĩ miều, mới đội 15,16 tuổi, son phấn điểm nhạt, mặt mũi tươi dòn. Đến xem hoa, nhỡ tay vịn gẫy mất một cành, bị nhà chùa bắt giữ lại. Từ-Thức xẩy đi qua trông thấy, hỏi cơn cớ đầu đuôi, rồi cởi áo cẩm bào chuộc cho ả ấy đi.

    Từ bấy giờ ai cũng khen là quan huyện nhân đức, nhưng chỉ vì tính hay uống rượu ngâm thơ, tờ bồi việc quan bỏ đọng cả lại, lắm phen bị quan trên quở mắng.

    Từ-Thức than rằng:

    - Ta không thể nào vì vài đấu thóc lương mà buộc mình vào trong đám danh lợi được mãi, thôi thì một mái chèo bơi về tìm nơi nước biếc non xanh, cho thỏa chí ta còn hơn.

    Lập tức cởi ấn giao trả quan trên rồi đi. Tính Từ-Thức ưa chơi những chốn khe động trong huyện Tống-sơn, mới về làm nhà ở huyện ấy, mỗi khi nhàn đi chơi, sai một thằng nhỏ đeo một bầu rượu, cắp một cái đàn và mang một quyển thơ. Đi đến chỗ nào thích ý, thì ngồi chơi đánh chén, hoặc gảy đàn. Phàm chỗ nào có nước non lạ lùng, như núi Chính-trợ, động Lục-vân, sông Lãi, cửa Nga, thì tất tìm đến chơi và có thơ đề vịnh.

    Một khi dậy sớm, trông ra cửa Thần-phù, cách vài mươi dặm, có khi mây năm vẻ, kết lại như hình cái hoa sen. Mới sai bơi thuyền đến tận chỗ ấy, thì thấy có núi rất đẹp. Đỗ thuyền trèo lên núi thì thấy khí núi xanh biếc, cao vời vời ước nghìn trượng.

    Nhân đề một bài thơ rằng:

    Đầu cành thấp thoáng bóng kim-ô,

    Hoa đỗng vui mừng đón khách vô.

    Cạnh suối nào là người hái thuốc?

    Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò.

    Xênh xang ghê mát cầm ba khúc,

    Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò.

    Ướm hỏi Vô-lăng chàng đánh cá,

    Làng Đào đâu đó cách chừng mô?

    Đề xong bài thơ nhìn xem phong cảnh một hồi, bỗng thấy trong sườn núi đá, có một cái hang, cửa hang tròn và rộng độ một trượng, thử vào hang xem ra làm sao, vừa đi được vài bước, thì cửa hang bỗng dưng đóng sập lại, trong hang tối mù mịt, không còn biết đường nào mà đi, Từ-Thức chắc chết ở chỗ ấy, nhưng vẫn cứ đi liều xem ra làm sao, mới quờ tay sờ sệt vào sườn đá mà đi, trước còn loanh quanh đi trong khe nhỏ, dần dần thấy có bóng sáng, trông lên thấy núi cao chót vót, đá mọc lởm chởm, mới cố leo vịn lên thì đường đi đã hơi rộng.

    Khi lên đến đỉnh núi, thì lại thấy mặt giời sáng sủa, trông ra bốn bề, cũng có lâu đài cung điện, cửa nhà trang hoàng, cây cối tươi tốt, tự hồ một cảnh chùa chiền.

    Từ-Thức lấy làm lạ lùng, ngắm nhìn phong cảnh, rồi thấy hai ả con gái nhỏ, mặc áo xanh, bảo với nhau rằng:

    - Chú rể mới nhà ta đã đến kia kìa!

    Nói thế đoạn, trở vào trong nhà báo tin, rồi lại ra bảo với Từ-Thức rằng:

    - Phu nhân cho chúng tôi ra mời người vào chơi.

    Từ-Thức theo hai đứa con gái đi vào, qua một dãy tường gấm, vào cửa sơn son, thấy đôi bên cung cấm, vàng bạc sáng quắc, có chữ đề rằng: “Quỳnh-hư chi điện, Giao-quang chi các”(1). Khi trèo lên gác thì thấy một bà tiên mặc áo lụa trắng, ngồi trên giường thất-bảo. Cạnh giường có đôi kỉ gỗ đàn-hương, bà tiên mời Từ-Thức ngồi trên kỷ và bảo rằng:

    - Người vốn hay chơi cảnh lạ, có biết đây là chốn nào không?

    Từ-Thức thưa?

    - Tôi tuy dong chơi giang hồ đã nhiều, nhưng chưa biết ở đây lại có tiên cảnh, xin bảo cho tôi được rõ.

    Bà tiên cười nói rằng:

    - Ngươi biết đâu được chỗ này! Đây tức là hang thứ sáu trong 36 động núi Phi-lai; núi ấy đi khắp các mặt bể, chân không bén đến đất, chỉ theo chiều gió mà hợp tan thôi. Ta tức là Địa-tiên núi Nam-nhạc, gọi là Ngụy phu-nhân đây. Vì thấy ngươi có cao nghĩa, cho nên mới đón đến chơi.

    Nhân bảo con hầu gọi một người con gái ra. Từ-Thức trông ra thì chính là người con gái đánh gẫy cành hoa mẫu đơn khi trước.

    Bà tiên trỏ vào con gái bảo với Từ-Thức rằng:

    - Con em tên nó là Giáng-Hương, khi trước xem hoa phải cái ách nạn, nhờ người cứu cho, ta vẫn còn hàm cái ân ấy, nay muốn cho nó kết duyên với ngươi để báo ân.

    Lập tức đên hôm ấy, truyền sai đốt đèn mỡ phụng, giải chiếu vẩy rồng, cho làm lễ thành thân.

    Hôm sau các tiên đến ăn mừng, kẻ cưỡi li vàng (tự rồng mà không sừng), người cưỡi câu đỏ (loài rồng) đến hội. Bà tiên mở tiệc trên gác Giao-quang, nào là rèm ngọc trướng điều, nào là đệm hoa ghế bạc. Các tiên ngồi riêng một bên tả, còn mé hữu Từ-Thức ngồi.

    Trong khi ăn yến, đủ thứ sơn hào hải vị, chả phụng nem công, thơm tho ngào ngạt, toàn những vị dưới trần không có bao giờ. Lại có đàn sáo bát âm rất là vui vẻ.

    Chiều tối tiệc tàn, các tiên đâu về đấy. Từ-Thức ở lại đấy được một năm, có ý nhớ nhà, nhân một khi thong thả bảo với nàng Giáng-Hương rằng:

    - Tôi vốn đi chơi, xa xôi đã lâu, khó đè nén được bụng trần, lại tưởng nhớ đến quê cũ, xin cho tôi hãy về thăm nhà một chút.

    Giáng-Hương có ý ngần-ngừ, không nỡ li biệt.

    Từ-Thức lại nói rằng:

    - Thiếp không dám vị tình vợ chồng mà ngăn trở bụng quân-tử; chỉ vì cõi trần bé nhỏ, ngày tháng ít ỏi, nếu có về chăng nữa, chỉ sợ cây cối cửa nhà không được còn như trước nữa đâu.

    Nàng ấy mới nói với phu-nhân. Phu-nhân than rằng:

    - Không ngờ gã ấy còn vướng víu trong đám bụi hồng, làm chi mà phải ngậm ngùi như thế?

    Phu-nhân mới cho một cỗ xe cẩm-vân, sai người lên xe ấy mà về. Giáng-hương cũng viết một phong thư buộc kỹ đưa cho, dặn về nhà hãy mở ra mà xem.

    Từ-Thức cáo biệt, ngồi lên xe, đi vừa chớp mắt đã đến nhà. Về đến nơi thì phong cảnh đã khác xưa, nhân dân thành quách, không còn gì là giống khi trước, chỉ còn hai bên khe núi thì vẫn còn nguyên.

    Từ-Thức đem họ tên mình, hỏi thăm các cụ già trong làng, thì có một người nói rằng:

    - Tôi từ lúc còn nhỏ, có nghe cụ tổ ba đời nhà tôi cũng tên họ như thế, sa vào hang núi đã hơn 80 năm nay rồi.

    Từ-Thức buồn rầu lắm, muốn lại ngồi xe đi lên, thì xe đã hóa thành chim loan bay đi mất rồi. Mở bức thư ra xem, thì có câu rằng: “Trong mây kết bạn loan hoàng, duyên xưa đã hết; trên bể tìm người tiên-tử, hội khác khôn cầu”. Mới biết là nhời li biệt. Về sau, Từ-Thức mặc áo khinh-cừu, đội cái nón nhỏ, vào núi Hoàng-sơn ở huyện Nông-cống (Thanh-hóa), không biết lên tiên hay đi mất.

    [​IMG]


    (1) Nghĩa là đền Quỳnh-hư, gác Giao-quang


    47.- Tú-Uyên


    Thời nhà Lê, ở làng Bích-câu (tức làng Yên-trạch bây giờ, Hà-nội) có một người học trò, tên là Tú-Uyên, vốn người tài mạo, cha mẹ mất sớm, nhà nghèo, chỉ chăm việc học hành.
  • Chia sẻ trang này