0081.0013-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

14/1/16
0081.0013-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Có một hôm, chùa Ngọc-hồ mở hội, Tú-Uyên đi xem. Đến chiều trở về qua chùa Tiên-tích (ở phố cửa Nam) trông thấy một người con gái đẹp tắm, đang đứng ở dưới gốc cây đu. Tú-Uyên lại gần hỏi truyện, rồi hai người vừa đi vừa đối đáp với nhau, đến chỗ đình Quang-minh thì người con gái ấy biến mất, mới biết là tiên.

    Tú-Uyên đứng ngẩn ra một lúc, mới giở về nhà. Từ đấy đêm ngày tưởng nhớ, phải bệnh tương tư thuốc nào chữa cũng không khỏi. Một hôm, nhớ đến sự bói thẻ, mới đến đền Bạch-mã xin thẻ, rồi nằm mộng ở đấy. Đêm thần báo mộng rằng: “Sáng sớm mai, ra cống cầu Đông sông Tô-lịch thì gặp”. Tú-Uyên mừng lắm, sực tỉnh dậy thì giời đã rạng đông; vội vàng chạy ra đấy, đứng thơ thẩn độ một vài giờ, không thấy gì, toan trở về, thì gặp một ông cụ bán bức tranh. Tú-Uyên cầm mở ra xem, thấy người tố-nữ vẽ trong tranh, giống như người mình gặp khi trước. Mua đem về, treo ở cạnh buồng học, từ bấy giờ mới giải phiền.

    Tú-Uyên mỗi khi đến bữa cơm ăn, thì đặt hai cái bát hai đôi đũa, mời người tố-nữ trong tranh, như hai vợ chồng thực. Một hôm, mời thì hình như tủm tỉm cười muốn nói. Hôm sau, đi học về, thấy mâm cơm dọn sẵn, nghĩ không biết thế nào, ăn thì toàn những món ngon vật lạ cả. Hai ba hôm cũng luôn như thế. Bữa sau, giả cách đi học, đứng rình dòm vào trong nhà, thấy người trong tranh hiện ra đang điểm trang, Tú-Uyên rón rén bước vào, hỏi rằng:

    - Duyên sự làm sao, thì nói cho tôi được biết.

    Nàng ấy mới nói rằng:

    - Thiếp ở trên cung tiên, tên là Giáng-kiều, vì nhà chàng có phúc-đức nhớn, nên gặp nhau từ khi ấy. Sau lại thấy chàng thương nhớ, cho nên chúa tiên cho thiếp xuống kết duyên với chàng.

    Nói vừa xong, rút trâm trên mái đầu, hóa phép hiện ra cửa nhà, lâu-đài, đầy-tớ, đồ-đạc, rồi làm cỗ bàn, mời các bạn tiên xuống ăn cưới. Từ đấy kết duyên làm vợ chồng.

    Tú-Uyên tự bấy giờ ham-mê về tửu sắc, cả ngày chỉ uống rượu say sưa, bỏ sự học-hành. Trong ba năm giời, nàng ấy khuyên ngăn mãi mà vẫn không nghe. Mỗi khi say rượu rồi thì lại chửi mắng ỏm tỏi. Nàng ấy giận lắm mới biến đi. Tú-Uyên tỉnh rượu, thấy vợ bỏ mình mà đi, mới hối lại, biết là lỗi tại mình. Đi tìm đâu cũng không thấy, bực mình muốn tự vẫn. Bỗng thấy nàng ấy ở đâu lại về. Tú-Uyên nửa mừng nửa thẹn, lấy nhời từ-tạ, hai vợ chồng lại vui vẻ tử tế như xưa.

    Không bao lâu sinh được một người con giai, đặt tên là Trân-nhi. Đến sau, con học hành thông minh, đã sắp nên người, nàng ấy bảo với chồng rằng:

    - Ở hạ giới này, một đời người chỉ được bảy tám mươi tuổi mà thôi, kể ra không được là bao nhiêu. Vả lại trong sổ tiên cũng có tên chàng, thì ta đưa nhau lên ở trên cung tiên là hơn.

    Liền đưa cho Tú-Uyên một viên thuốc và một đạo bùa. Một lát thì có hai con hạc xuống đón, hai vợ chồng mỗi người cưỡi một con, ngoảnh lại dặn con rằng:

    - Con hãy ở đây, khi nào thi đỗ thì tao xuống đón.

    Nói đoạn, bay cả lên giời.

    Dân làng ấy vì thế lập miếu ngay chỗ nhà cũ ông ấy để thờ, gọi là đền Tú-Uyên.


    48.- Phạm-Viên


    Phạm-Viên người làng An-bài, huyện Đông-thành tỉnh Nghệ-an. Đời ông tổ Phạm-Viên hiền lành, phúc hậu, gặp được người Tàu để cho ngôi mộ, đoán rằng: “Ngôi này phát một đời Tiến-sĩ, một đời thành tiên”.

    Đời con ông cụ ấy là Phạm-Chất đỗ Tiến-sĩ về thời vua Thần-tôn nhà Lê, làm đến Tả-thị-lang. Phạm-Chất sinh ra hai con, con cả là Phạm-Tán, con thứ là Phạm-Viên.

    Phạm-Viên nhớn lên, 18 tuổi mà vẫn biếng học, chỉ ham sự chơi bời. Ông bố chửi mắng thì Phạm-Viên nói rằng:

    Người ta quí thích chi là hơn, phú-quí 80 năm, chẳng qua cũng là một giấc mộng hoàng-lương mà thôi(1)

    Từ đấy bỏ nhà đi, vào núi Hồng-lĩnh hái thuốc. Đi cùng kiệt 3 ngày, vào đến rừng sâu, gặp một cụ già chống cái gậy trúc, mặc áo thầy tu. Viên biết là người lạ, quì xuống trước mặt, kể lể sự mình. Cụ già đem Phạm-Viên về, đi nửa thôi đường, thấy có vài gian nhà gianh cụ già dắt vào trong nhà ấy. Vào đấy chỉ thấy trên bàn có một quyển sách con, bên cạnh có một vò nước, còn thì không có gì cả, và cũng không có một người đầy-tớ nào.

    Phạm-Viên ở đấy, cụ già thỉnh thoảng múc cho một gáo nước, bảo phải uống hết, lại cho một cái túi, bảo rằng:

    - Về cứ mở túi ra mà xem, tự khắc biết.

    Nói xong, cụ già và cửa nhà biến mất cả, Phạm-Viên trở ra tìm lối về, cứ trông về phía mặt trời mọc mà đi. Một lát đến đầu làng, về đến nhà thì đã được 12 năm rồi.

    Bấy giờ Phạm-Viên đã được 30 tuổi, họ hàng làng mạc ai cũng lấy làm kì, nhưng không ai biết Phạm-Viên đã thành tiên. Phạm-Viên ở nhà, có khi ngủ đến 10 ngày mới dậy, có khi 2,3 tháng mới ăn một thìa cháo. Quan Thị-lang vẫn gọi Phạm-Viên là thằng dồ.

    Phạm-Viên có bà cô ngoài 70 tuổi, không có con cái, Phạm-Viên cho bà cụ 21 đồng tiền, và dặn rằng:

    - Nếu có mua gì, chỉ mua 20 đồng, còn để dành lại một đồng, tự nhiên lại có 20 đồng khác, có thể đủ dùng được trọn đời.

    Bà cụ nghe lời ấy, quả nhiên cứ mua buổi sang thì buổi chiều lại đủ 21 đồng tiền. Được một năm, bà ấy mất, món tiền ấy cũng biến đi.

    Thường một khi đến chơi núi Ngọc-sơn, nằm trọ trong nhà hàng, bảo với mụ già nhà hàng rằng:

    - Ở gần đây sau tất có hoả-tai, ta cho mụ kia một lọ rượu này, khi nào thấy cháy, thì lấy rượu mà vẩy vào, kẻo gió to thì cháy lây mất cả.

    Tháng năm, quả nhiên có hoả-tai, bấy giờ đương mùa gió nồm, không tài nào cứu được. Mụ già nhớ đến lời Phạm-Viên, cầm lọ rượu rảy vào đám lửa, tự nhiên trời mưa xuống như trút nước, lửa phải tắt ngay, nước mưa sặc những mùi rượu ba ngày chưa tan mùi.

    Lại một khi Phạm-Viên đi qua huyện Hoằng-hoá thấy một người già ngoài 70 tuổi mà còn phải đi ăn xin, Phạm-Viên thương tình, cho một cái gậy dặn rằng:

    - Hễ đi đến chợ nào thì cắm cái gậy ấy bên cạnh đường, không phải van gì, tự nhiên người ta phải lấy tiền cắm vào đầu gậy, cứ đủ 100 đồng thì nhổ đem đi chỗ khác.

    Ông già kia y nhời ấy, quả được dư ăn thừa mặc, khi ông già ấy chết thì cái gậy cũng biến mất.

    Phạm-Viên thường dạy một người học-trò, chỉ học hai chữ "cát cao" nghĩa là cái gầu múc nước. Người học-trò xin học chữ khác, Phạm-Viên bảo rằng:

    - Ngày sau phú-quí, chỉ hai chữ ấy đủ rồi, can gì phải học nhiều cho mệt?

    Về sau, người ấy phải đi lính, canh thuyền, xảy khi chúa Trịnh đi chơi, bắt khai các đồ trong thuyền, đến cái gầu múc nước, không ai biết biên chữ gì. Bấy giờ cả quan Tham-tụng là Hà Tôn-Mục ở đấy, cũng không nhớ chữ gì là cái gầu.

    Người ấy nhàn canh ở đấy mới nói rằng:

    - Khi trước tôi đi học, còn nhớ được hai chữ cát cao là cái gầu múc nước. Quan Tham-tụng cho là người học rộng, tâu với chúa Trịnh, vì thế được cất lên làm quan lục phẩm.

    Đến năm Phạm-Viên 40 tuổi, ông thân-sinh đang được vua chúa yêu dùng, làm quan tại kinh. Phạm-Viên ở nhà, một hôm bỗng dưng sai người nhà sắm sửa đồ thờ, may áo chế, sắm gậy trúc. Được vài ngày, quả nhiên có tin quan Thị-lang mất tại kinh.

    Phu-nhân làm ma, toan đem xuống thuyền, để đi đường hải-đạo về Nghệ. Phạm-Viên không nghe, sắm đủ minh tinh nhà tang, áo quan võng vì, và đủ các đồ nghi vệ đi đường, xin đến gà gáy thì rước ma đi bộ từ Thăng-long về Nghệ. Ai cũng cười là người gàn. Không ngờ đi tự gà gáy, mới đến lúc mặt giời mọc, đã về đến đầu làng An-bài, chúng bấy giờ mới tin Phạm-Viên có phép tiên.

    Tống táng đâu đấy, Phạm-Viên từ mẹ lại đi. Được năm năm thì phu-nhân mất. Chiều hôm cất ma xong, Phạm-Viên về khóc ở trước mồ, rồi để một hòm ở lại đấy mà đi. Sáng hôm sau, người nhà trông thấy mở hòm ra xem, thì thấy đủ cả trâu bò lợn gà, và các thứ giò nem bánh trái, không biết bao nhiêu mà kể. Lại có 500 quan tiền, 100 cân bạc. Trên mặt hòm đề rằng: "Của cô ai tử là Phạm-Viên kính-tế".

    Từ đấy trở đi, hoặc khi có người gặp ở Thăng-long, hoặc khi có người gặp ở cửa bể Thần-phù. Trong năm Bảo-thái, có ông Trương-hữu-Điền mở tràng-học ở Hà-nội, có người ăn mặc lam lũ vào làm văn, chỉ chớp mắt xong bài văn rồi biến mất. Ông kia xem văn rồi nói rằng: "Văn chương này cách cục nhà tiên, lại ông Phan-Viên đùa ta đây!". Biến hoá không biết đâu mà lường được.

    [​IMG](1) Hoàng-lương là kê vàng. Xưa có người nằm mộng làm quan phú-quí hơn 20 năm giời, lúc tỉnh dậy, nhà trọ vẫn chưa thổi chín nồi kê.


    49.- Từ-đạo-Hạnh

    Từ-Lộ tự là Đạo-Hạnh, người làng An-lãng (tức làng Láng) huyện Vĩnh-thuận (Hoàn-long), làm thầy cúng ở chùa Tiên-phúc, núi Phật-tích (tức chùa Thầy ở Sơn-tây). Khi xưa thân-phụ Từ-đạo-Hạnh là Từ-Vinh làm Tăng-quan đô-sát triều nhà Lý, thường vào chơi làng An-lãng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo-Hạnh.

    Đạo-Hạnh lúc bé hay chơi bời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phí-Sĩ, Phan-Ất, Lê-Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui. Cha vẫn thường trách mắng là biếng học, nhưng sau biết cứ đến đêm thì chăm học lắm, từ bấy giờ không nói gì nữa.

    Về sau, Đạo-Hạnh thi khoa Bạch-liên đỗ Tăng-quan. Không bao lâu cha là Từ-Vinh dùng tà-thuật phản ông Diên-thành hầu, Diên-thành hầu nhờ thầy phù-thuỷ là Đại-Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô-lịch. Thây ông Từ-Vinh trôi qua cầu Yên-quyết, đến bến nhà ông Diên-thành hầu, bỗng nhiên đứng lên trỏ tay vào trong nhà, suốt ngày hôm ấy không đi. Diên-thành hầu mời Đại-Điên đến. Đại-Điên đến nơi quát rằng:

    - Thầy chùa giận không để cách đêm, dù sống dù chết, cũng là một giấc mộng mà thôi.

    Nói dứt nhời thì thây ngã xuống trôi đi. Từ-đạo-Hạnh muốn báo thù cho cha, rình khi Đại-Điên đi chơi, muốn đón đường đánh, bỗng nghe trên không có tiếng ngăn rằng: "Chớ!Chớ!". Vì thế bỏ gậy mà chạy về.

    Đạo-Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn-độ học phép, nhưng đi qua núi Kim-sỉ, hiểm trở lắm phải trở về, Đạo-Hạnh mới vào trong hang núi Phật-tích, kết thành hội Bạch-liên, để học phép Ngũ-giáo. Ngày nào cũng tụng kinh "Đại-bi-tâm" và niệm câu thần chú, "Bà-la-ni", cứ tụng 18 vạn lần mới thôi.

    Một hôm thấy thần báo mộng rằng:

    - Đệ-tử tức là Tứ-trấn thiên-vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh, cho nên lại hầu, tuỳ thầy muốn sai khiến gì, tôi xin vâng lệnh.

    Đạo-Hạnh biết là đạo pháp mình đã thành rồi, có thể phục thù được cho cha, mới đến đầu bến sông Yên-quyết, cầm cái gậy ném xuống sông. Nước sông chảy xuôi mà gậy thì trôi ngược, trông tựa con rồng, đi mãi đến cầu Tây-dương mới thôi.

    Đạo-Hạnh mừng nói rằng:

    - Phép ta hơn Đại-Điên nhiều rồi!

    Đạo-Hạnh mới dùng phép tàng-hình đến thẳng chỗ Đại-Điên ngồi chơi, bảo rằng:

    - Mày có nhớ việc ngày trước không?

    Đại-Điên ngẩng đầu lên trông, không thấy gì, Đạo-Hạnh cầm gậy đánh, Đại-Điên vì thế thành bệnh mà chết.

    Đạo-Hạnh báo xong thù rồi, từ bấy giờ tan hết oán cũ, sạch nhẵn lòng trần, mới đi chơi khắp nơi rừng núi, hỏi tìm ấn chứng. Nghe có Kiều-tri-Huyền tinh thông đạo phép, đến hầu tận nơi, hỏi thế nào là chân-tâm.

    Có câu kệ rằng:

    Lâu nay vẫn đám hồng trần,

    Vàng còn chẳng biết, biết chân-tâm nào!

    Xin cho chỏ bảo làm sao?

    Cho tìm thấy rõ kẻo nao lòng người.

    Kiều-tri-Huyền cũng đọc một câu kệ đáp lại rằng:

    Năm-âm bi quyết là vàng,

    Trông ra đầy mắt rõ ràng thuyền-tâm.

    Bồ-đề đạo phật u-thâm,

    Muốn tìm tới đó muôn tầm chẳng xa!

    Đạo-Hạnh thấy câu kệ như vậy, chưa hiểu ý tứ ra làm sao, mới đến hỏi ông Pháp-Phạm Sùng-Vân rằng:

    - Thưa ông thế nào gọi là chân-tâm?

    Sùng-Vân nói:

    - Cái gì chẳng phải là chân-tâm?

    Đạo-Hạnh bấy giờ mới tỉnh ra, lạy từ ông ấy rồi trở về. Tự bấy giờ pháp lực lại càng tấn tới, nội là rắn độc trong núi, hùm dữ trên rừng, cũng có phép sai khiến được cả.

    Có một thầy tăng nói rằng:

    - Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, đó là phật-tâm.

    Đạo-Hạnh đọc câu kệ rằng:

    Có khi có tự mảy may,

    Không thì cả thế gian này cũng không.

    Thử xem bóng nguyệt dòng sông.

    Ai hay không có, có không là gì?

    Bấy giờ, vua Lý Nhân-tôn chưa có con, có người Thanh-hoá ra tâu rằng:

    - Ở ngoài bãi bể, có đứa con giai lên 3 tuổi, tự xưng là Hoàng-tử, gọi là Giác-hoàng. Nhà vua có những sự gì, y cũng biết cả.

    Vua sai sứ đến xem tận nơi, quả nhiên có đứa bé ấy, mới đem về kinh, cho ở trong chùa Báo-thiên. Vua thấy đứa trẻ ấy thông minh thần dị lắm, muốn nuôi làm con.

    Các quan can rằng:

    - Nó tuy linh dị, nhưng tất phải thác sinh vào trong cung cấm mới được.

    Vua nghe nhời, thiết tuần chay to bảy đêm ngày, để cho nó làm phép đầu thai.

    Đạo-Hạnh nghe chuyện làm vậy, bảo riêng với chị rằng:

    - Đây tất là Đại-Điên, muốn đầu sinh vào cửa nhà vua để báo thù đây, kẻ kia dùng tà thuật, làm hoặc người ta đã nhiều, tôi sao nỡ ngồi nhìn mà không cứu, để nó làm càn hay sao?

    Mới bảo chị mặc giả nhà sư, cầm giấu vài quả ấn pháp-sư, giắt lên mái nhà chỗ đàn chay. Cúng được ba hôm, Giác-hoàng phải bệnh, bảo với người ta rằng:

    - Khắp cả thế giới, chỗ nào cũng chăng lưới sắt, không có đường nào mà đầu thai được.

    Nói xong thì mất. Vua sai tìm khắp nơi có bùa bèn gì không, thì bắt được mấy quả ấn kết lại, có tên Từ-đạo-Hạnh. Vua giận lắm, sai bắt Đạo-Hạnh vào lầu Hưng-khánh đánh trượng, rồi hội các quan lại nghị án.

    Xảy có Sùng-hiền hầu đi qua, Đạo-Hạnh kêu rằng:

    - Xin ngài rủ lòng thương mà cứu cho tôi, tôi sẽ xin đầu thai vào cung để báo ơn ấy.

    Sùng-hiền hầu gật đầu. Đến lúc hội nghị, Kim-hầu xin đem Đạo-Hạnh chính-pháp. Sùng-hiền hầu cười nói rằng:

    - Giác-hoàng nếu có thần lực, thì dù Từ-Lộ giải chú thế nào cũng không việc gì. Nay vì thế mà phải chết, thì Giác-hoàng còn kém Từ-Lộ xa lắm. Tôi thiết tưởng bắt tội hắn, thà rằng cho hắn thác sinh còn hơn, xin bệ-hạ nghĩ cho.

    Vua nghe nhời, tha tội cho Đạo-Hạnh, Đạo-Hạnh trở ra, vào hầu nhà riêng Sùng-hiền hầu, nhận thấy phu-nhân đang tắm, đến sát tận nơi đứng xem. Phu-nhân giận lắm, bỗng thấy một đứa trẻ con chạy vào trong thùng tắm, phu-nhân kinh hãi, nói truyện với chồng. Sùng-hiền hầu đã biết rồi, không trách hỏi gì đến. Từ đấy phu-nhân có mang.

    Đạo-Hạnh dặn Sùng-hiền hầu rằng:

    - Khi nào phu-nhân sắp ở cữ, thì phải bảo cho tôi biết trước.

    Đến khi phu-nhân ở cữ, giở dạ đã lâu mà chưa sinh được, Sùng-hiền hầu sai người ruổi mau đến bảo Đạo-Hạnh.

    Đạo-Hạnh vội vàng tắm gội thay áo, dặn học trò rằng:

    - Bụng ao ước của ta vẫn chưa thoả, nay lại thác sinh vào cửa đế-vương, tạm làm thiên-tử 23 năm. Nếu khi nào thân kiếp ta thác đi, thì mới thức là chìm vào bể sâu, không bao giờ sinh diệt được nữa.

    Học trò nghe câu ấy, ai nấy cùng rỏ nước mắt. Đạo-Hạnh nói an ủi học trò vài câu, rồi lột xác mà hoá. Người làng lấy làm lạ, để cái xác ấy vào khám phụng thờ.

    Giờ ngọ Đạo-Hạnh nhập tịch, đến giờ mùi thì phu-nhân sinh ra đứa con giai, đặt tên là Dương-Hoán, bấy giờ là tháng sáu năm Bính-thân niên hiệu Hội-trường đại-khánh thứ bảy (1116).

    Dương-Hoán lên hai tuổi, thông minh lắm, vua yêu mến nuôi ở trong cung cho làm con, rồi lập lên làm Hoàng-thái-tử. Khi vua mất, thái-tử lên ngôi, tức là vua Thần-tôn, đó là kiếp sau ông Từ-đạo-Hạnh.

    Khi xưa Đạo-Hạnh mới vào chùa Thiên-phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá, Đạo-Hạnh lấy bàn chân in vào thì vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo-Hạnh lột xác.

    Mỗi năm mùng bảy tháng ba, thiên hạ đến chùa ấy lễ bái đông như hội. Thây Đạo-Hạnh đến mãi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.


    50.- Nguyễn-minh-Không


    Người làng Đàm-xá phủ Tràng-an (Nam-định) tên là Nguyễn-chi-Thành. Lúc nhỏ đi học, xẩy gặp Từ-đạo-Hạnh, mới theo học Đạo-Hạnh hơn 40 năm(1), Đạo-Hạnh khen là người có chí cho ấn quyết và đổi tên gọi là Minh-Không thiền-sư cho ở riêng một chùa Quốc-thanh.

    Khi đạo hạnh sắp hoá bảo Minh-Không rằng:

    - Ngày xưa phật Thế-tôn ta, đạo quả đã tròn trặn, mà còn có báo kim-tảo, huống chi lâu nay phép đạo suy mòn, thì ta giữ mình làm sao cho xiết được. Khiếp sau ta ở thế-gian, giữ ngôi nhân-chủ, chắc là không khỏi được bệnh nợ, ngươi nên nghĩ nghĩa thầy trò, đến bấy giờ phải cứu cho ta(2).

    Đến khi Đạo-Hạnh hoá rồi, Minh-Không trở về quê nhà, cầy cấy làm ăn, trụ trì hơn 20 năm, không cầu tiếng tăm với đời.

    Năm Thiên-chương-bảo-tự thứ tư đời vua Thần-tôn (1136), vua bỗng sinh ra bệnh kỳ-dị, thuốc chữa thế nào cũng không khỏi. Tinh thần phiền loạn, tiếng gào thét kinh người (tục truyền vua hoá hổ). Các thầy thuốc, có hàng nghìn muôn người, nhưng không ai biết chữa ra cách làm sao.

    Minh-Không nghe tin làm vậy, mới chống gậy đến chỗ trẻ con chơi, cho chúng nó ăn quà và dạy chúng nó hát rằng:

    - "Tập tành vông, có ông Nguyễn-minh-Không, chữa được Hoàng-thái-tử".

    Dần dần đám trẻ nào cũng hát câu ấy, tiếng đến tại triều-đình. Triều-đình sai sứ đi hỏi thăm mà tìm được Minh-Không. Minh-Không thấy sứ-giả đến triệu mình, mới thổi một nồi cơm con, cho bọn chở thuyền cùng ăn.

    Sứ-giả nói rằng:

    - Bọn chở thuyền đông lắm, có một niêu cơm con thế kia, thì ăn làm sao?

    Minh-Không nói:

    - Hãy cứ ăn đi, lúc nào thiếu sẽ hay.

    Minh-Không mới sai dỡ cơm ra rá, thì càng dỡ càng nhiều, hàng mấy trăm người ăn uống mà cũng không hết. Chúng cùng ngạc nhiên lấy làm lạ. Đến lúc ăn xong, Minh-Không bảo các quân chở thuyền rằng:

    - Các anh hãy ngủ đi một lát, đợi lúc nào có nước thuỷ-triều lên sẽ đi.

    Chúng nghe nhời, nằm ngủ cả trong thuyền, một lát tỉnh dậy thì thuyền đã ngược đến Kinh-đô rồi, ai nấy mừng rỡ cho là phép tài.

    Minh-Không đến Kinh, các thầy thuốc cùng các thầy phù-thuỷ đang túc chực cả trên điện, mỗi người dùng một cách chữa bệnh cho vua mà vẫn chưa thầy nào kiến hiệu. Trông thấy Minh-Không đến, ăn mặc quê mùa cộc kệch, chúng ai cũng khinh bỉ, không thèm chào hỏi đến. Minh-Không lấy một cái đanh dài 5,6 tấc, đóng lên trên cây cột, nói to lên rằng:

    - Hễ ai rút được cái đanh này ra, thì mới chữa được bệnh hoàng-đế.

    Nói hai, ba câu, không ai thèm trả nhời, Minh-Không mới lấy hai ngón tay trái sẽ nhổ ra, cái đanh ấy bật ngay ra ngoài.

    Minh-Không đến trước mặt vua, thét to lên rằng:

    - Đại-trượng-phu đã phú quí mà làm đến thiên-tử, sao lại còn cuồng loạn như thế?

    Vua sợ hãi run lật đật, Minh-Không sai lấy cái vạc to, đổ nước hoà thuốc vào đun lên, đun sôi một trăm giạo, Minh-Không lấy tay khoắng vào trong vạc thuốc hai ba lượt rồi múc ra tắm cho vua, tắm xong thì vua khỏi bệnh(3).

    Vua khỏi rồi, phong Minh-Không làm quốc-sư, thưởng cho vài trăm nóc nhà, cho lấy thuế mà ăn.

    [​IMG]Đến năm Đại-Định thứ hai Minh-Không mất, bấy giờ đã bẩy mươi sáu tuổi. Minh-Không mất rồi thiêng lắm, nhiều sự hiển-linh. Phàm dân xã cầu mưa đảo nắng rất nghiệm. Các chùa ở huyện Giao-thuỷ, huyện Phả-lại, có tô tượng Minh-Không để thờ cả.

    (1) Tục truyền hai ông sang Tây-trúc học đạo, một hôm ông Đạo-Hạnh đội lốt hổ để loè ông Minh-Không. Ông Minh-Không biết ý, nói rằng: "Cầu được ước thấy có khó gì". Cho nên khiếp sau phải bệnh hoá hổ.

    (2) Sử cho là Đạo-Hạnh để thuốc lại giao cho Minh-Không.

    (3) Tục truyền vua tắm xong thì bao nhiêu lông lốt hổ tuốt cả ra, vì thế mới khỏi bệnh.



    51.- Trần-Lộc


    Lúc nhà Lê trung-hưng, việc binh cách mới yên, sinh lắm yêu quái, dân gian khổ sở. Bấy giờ có người ở làng An-động, huyện Quảng-xương, tỉnh Thanh-hoá, tên là Trần-Lộc, có phép phù-thuỷ. Một bữa, Trần-Lộc đi qua trái núi Na-sơn, đang lúc mùa hè nắng nực mới nghỉ mát ở dưới rặng tre. Sực ngẩng đầu trông lên trên núi, thấy có một ông cụ già, đầu bạc phơ phơ, đang đứng dựa cạnh sườn đá ngóng xem rừng rú, rồi cầm nón vẫy Trần-Lộc lên.

    Trần-Lộc sắn áo trèo lên, chiều tối mới đến đỉnh núi, cúi đầu lạy ông cụ ấy.

    Ông cụ ấy bảo rằng:

    - Bụng thầy mến đạo lắm, giời cũng chứng cho rồi, sai ta xuống cho thầy mấy bài quyết đây.
  • Chia sẻ trang này