0081.0014-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki

14/1/16
0081.0014-Quocsan, vancuong7975(xong)Wiki
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Nói đoạn, giao cho ấn quyết, rồi lại ghé vào tai dặn rằng:

    - Đây là phép phật Thượng-phương đây, nên nhận lấy mà phải siêng năng tế độ cho đời.

    Nói xong thì biến. Trần-Lộc ngẩng lên giời lạy tạ rồi trở về. Từ đấy thí nghiệm phù phép nổi tiếng cao tay bùa bèn. Mới tự xưng mình là Phật-tổ như-lai; hai con gọi là tả-hữu-tôn-thánh; học trò nhớn gọi là tiền-quân-tôn-thánh; học trò khác gọi là bồ-tát, kim-cương, minh-sư, chia làm ba hạng; thượng-thừa, trung-thừa, hạ-thừa.

    Trần-Lộc nghe tin ở núi Mỏ-diều (thuộc về Ninh-bình) có con yêu tinh, thường hại những người đi đường, mới đến núi ấy để trừ nó. Con yêu ăn mặc ra dáng con gái trong cung, giữ trên đầu núi để cự nhau với Tổ-sư ba ngày. Tổ-sư giận lắm bắt một cái quyết Bài-sơn, sạt một góc núi. Con yêu hoá ra con quạ, bay lên trên giời, Tổ-sư lại bắt luôn mấy cái quyết bắn theo, con yêu tinh phải quyết, sa xuống đất chết.

    Lại ở nước ta về mặt tây-nam có 12 cửa bể, mỗi cửa bể có một thần sông, chỗ nước cồn như núi rồi đổ xuống, thuyền bè đi qua hại nhiều. Tổ-sư sai học-trò bắn chết chín thần sông, còn sót ba thần chưa trừ xong, xảy có việc phải vào coi Sùng-sơn, mới bỏ sót lại.

    Bấy giờ vua Thần-tôn phải bệnh kì quái, có người cho là nhân quả kiếp sau vua Lý Thần-tôn, các quan lấy làm lo lắng. Đại-nguyên-suý là Thanh-vương đã phải xin ngài nhường ngôi cho thái-tử, để ở riêng một cung mà trị bệnh. Vài năm không thuốc nào khỏi. Nghe tin Tổ-sư cao tay phù chú, sai sứ đón ra để trị bệnh. Tổ-sư vì tây-nam có nhiều yêu khí, không thể đi được, sai học trò là Pháp-hộ-kim-cương đi thay. Kim-cương vào cung, vỗ ngực niệm chú, hơn một tháng thì Thượng-hoàng khỏi bệnh, mới cho lập riêng một trường nội-đạo, để cho vinh hiển.

    Kim-cương trở về, đi qua làng Bố-vệ, trong làng đang họp uống rượu. Kim-cương vô ý, đứng tiểu-tiện ngay trước cửa đình, bị tuần làng ấy bắt trói lại, van vỉ mãi mới được tha. Kim-cương trở đi, ngảnh lại bắt một cái phộc-quyết, tự dưng già trẻ ở trong đình, ôm cả vào cột, như người bị trói, giằng gỡ ra thế nào cũng không được. Cả làng kinh hãi, đuổi theo tìm Kim-cương nhưng không thấy đâu.

    Việc ấy đến tai vua, vua biết là tự Kim-cương, sai người vào nói với Tổ-sư. Tổ-sư bắt Kim-cương phải giải cái quyết ấy rồi thu cả lấy các pháp bảo của Kim-cương học được, chỉ cho vài quyết trừ tà mà thôi.

    Đạo nội-trường mới có từ đấy.


    CHƯƠNG THỨ VII

    [​IMG]Các người có danh tiếng



    52.- Ngô-Soạn

    Ngô-Soạn tự là Tử-văn, người huyện An-dũng, phủ Lạng-thương, có khí khái cương trực ghét kẻ gian phi, người ta thường khen là người có thẳng tính.

    Cạnh làng ấy có một cái đền, xưa nay linh ứng lắm. Tự khi cuối nhà Hồ, quân Tàu sang xâm chiếm, ở xứ ấy làm nơi chiến -trường. Có tên bộ-tướng của Mộc-Thạch là Thôi bách-hộ chết trận ở đây thành ra yêu quái, dân gian lắm người khuynh gia bại sản để cầu cúng mà không yên.

    Ngô Tử-Văn thấy vậy tức lắm, tắm gội khấn trời mà đốt cái đền ấy, Tử-Văn đốt xong trở về, nghe trong mình hơi khác, rồi thì rùng mình rức đầu, nổi cơn sốt rét mà người thì mê mẫn bàng hoàng. Trông thấy một người to lớn lực lưỡng, đội mũ mặc áo, ra dáng người Tàu, tự xưng là Cư-sĩ, bắt phải làm đền lại miếu khác, không có thì sinh vạ.

    Tử-Văn không nói làm sao, cứ ngồi nghiễm nhiên như không. Người Tàu nói rằng:

    - Phong-đô (âm-ti địa-ngục) chẳng xa gì đâu, nếu không làm lại đền cho ta, ta sẽ lôi ngươi đến ngục ấy.

    Nói đoạn đứng phắt đi ra.

    Chiều hôm ấy Tử-Văn lại thấy một người áo vải mũ thâm, cách điệu khoan hoà, đi từ từ vào trong thềm, chào nói rằng:

    - Tôi là Cư-sĩ đây, nghe ông làm được việc sướng quá, nên tôi đến mừng.

    Tử-Văn ngạc nhiên nói rằng:

    - Mới rồi người mặc áo khách, tự xưng là Cư-sĩ, có phải là thần thổ địa này không? Sao bây giờ cụ lại xưng là Cư-sĩ?

    Ông cụ ấy nói rằng:

    - Hắn là tướng bại trận ở bên Tàu, hồn nhờ gửi bên nước Nam ta, chiếm lấy đền miếu của tôi mạo tên họ tôi, gian giảo độc ác, trên thì man cả giời, dưới ngược với dân, phàm các sự yêu quái là tự hắn cả, chớ không phải tôi làm điều gì. Tôi là Ngự-sử đời vua Lý Nam-đế, chết vì việc nước, được phong ở đây, giúp dân hộ chúng, đã hơn nghìn năm nay, có điều gì hung dữ như nó đâu. Vì tôi hở cơ không giữ gìn, bị nó đánh đuổi đi, hiện tôi phải nương nhờ ở đền thần Tản-viên đã mấy năm nay rồi.

    Tử-Văn nói:

    - Nếu như thế sao không kêu với Thiên-đình, mà chịu bỏ chức vị đi nhờ chỗ khác?

    Ông già nói:

    - Thế lực nó lai láng, khó lòng lay động được nó. Tôi muốn đi kêu, thì nó dùng trăm chiêu ngăn trở lại. Các thần từ bên cạnh, tham của đút lót, tranh nhau đi nhận cho nó, bụng tôi không tỏ giãi được lên, cho nên phải nhịn nhục thế này.

    Tử-Văn hỏi:

    - Nó hung dữ như thế, có hại được tôi không?

    Ông già nói:

    - Nó đang muốn cam tâm với ông, thế nào nó cũng kiện ở dưới âm-ti. Tôi xin dò truyện nó, lại bảo cho ông biết mà tìm phương lo liệu, kẻo mà chết oan. Khi nào âm-ti có tra hỏi, thì ông cứ lấy nhời tôi làm chứng, nó có không chịu, thì xin hỏi đến đền Tản-viên, như thế thì không cãi được nữa.

    Tử-Văn vâng nhời. Đến đêm, bệnh lại nặng thêm, mơ thấy hai tên quỉ-sứ, bắt điệu đem đến một dinh phủ nhớn, ngoài có tường sắt cao chừng vài mươi trượng. Hai tên quỉ-sứ vào bẩm, rồi ra bảo rằng: "Tội anh nặng lắm, không có phép nào tha được". Nói xong, vẫy tay xua sang mặt bắc. Mặt ấy có con sông to, trên sông bắc một dịp cầu dài, ước hơn nghìn độ, sông đen như mực, mùi gió tanh hôi, khí lạnh buốt đến tận xương. Hai bên cầu có vài vạn quân dạ-xoa, mắt xanh tóc đỏ, mặt mũi dữ dội. Hai tên quỉ-sứ lấy trạc to trói Tử-Văn, điệu ra đường ấy.

    Tử-Văn kêu to lên rằng:

    - Tôi là người thẳng tính trên dương-gian, có tội lỗi gì, xin bảo cho biết, không nên bắt oan uổng thế này.

    Sực nghe trên điện có tiếng truyền rằng:

    - Thằng ấy nó cứng cổ lắm, nếu không phân đoán cho rõ tội, thì sao nó chịu? Vậy thì hãy đem nó vào đây.

    Hai tên quỉ-sứ mới dẫn Tử-Văn vào cửa phủ, thì đã thấy người mặc áo khách đang kêu ở ngoài sân.

    Diêm-vương quở mắng Tử-Văn rằng:

    - Cư-sĩ kia hắn là người trung-thần đời trước, có công với nước, Thượng-đế phong cho hắn được hưởng cúng tế ở một phương. Mày là thằng học-trò, sao dám ngạo ngược mà đốt đền của hắn? Thế là mày làm nên tội, còn cãi được nữa không?

    Tử-Văn kể rõ lại sự đầu đuôi như nhời ông già nói trước, rạch ròi minh bạch, không có lúng túng câu nào.

    Người khách đứng nguyên đơn kêu rằng:

    - Nó trốn ở vương-phủ này, mà còn nỏ mồm cãi cọ, gây sự phao vu, huống chi một cái đền hoang của tôi, thì nó còn sợ gì mà chẳng đốt?

    Tử-Văn lại kêu lên rằng:

    - Đại-vương nếu không tin nhời tôi, xin hỏi đến thần Tản-viên thì đủ biết hư thực. Tôi nhược bằng nói sai, xin cam chịu tội.

    Người khách thấy viện chứng đã có ý sợ, mới quì xuống tâu rằng:

    - Thư-sinh kia thực là ngây dại, tội là đáng lắm, nhưng điện-hạ đã quở mắng nó, cũng đủ răn nó rồi, vậy xin ngài rộng lòng cho nó, để tỏ cái lượng nhân từ của ngài, bất tất phải tra cứu cùng kiệt làm gì nữa.

    Diêm-vương nghe nói, biết ý, mới quát lên rằng:

    - Nếu như thế thì tội tại mày rồi đó, luật gian dối còn đủ cả đây, sao mày dám xuất nhập nhận tội?

    Lập tức sai người đến núi Tản-viên, xét hỏi tường tận, quả hợp hết cả nhời Tử-Văn.

    Diêm-vương giận lắm, bảo các phán-quan rằng:

    - Các người chia giữ các toà, mỗi người coi một việc, nên phải cầm lòng công bình, thưởng phạt cho đích đáng. Thế mà sao còn để cho bọn gian giảo nó khi trá được? Ấy là ở đây còn thế, huống chi đời Hán, Đường, bán quan mua tước, cái tệ còn nói làm sao cho xiết!

    Lập tức sai lấy gông sắt đóng gông và lấy miếng gỗ tròn nhét vào miệng người khách, áp điệu vào ngục cửu-u, mà Tử-Văn thì sai tha cho về.

    Diêm-vương bảo với Cư-sĩ rằng:

    - Tử-Văn kia nó có công trừ hại cho dân, phàm các đồ cúng tế mùng năm ngày tết, ngươi nên xẻ một nửa mà chia cho hắn.

    Tử-Văn về đến nhà, thì chết đã hai ngày rồi mới hồi lại. Tử-Văn kể truyện ấy cho người làng biết, người làng mua gỗ chữa lại đền Cư-sĩ. Mà ngôi mả của người khách, tự nhiên trụt đất, xương cốt bật cả lên trên.

    Sau một tháng nữa, Tử-Văn lại mơ thấy Cư-sĩ bảo rằng:

    - Lão phu được về miếu cũ, là công của ông cả, không biết lấy gì mà báo được ơn ấy. Hiện nay đền Tản-viên còn khuyết một viên phán-quan, tôi hết sức để bầu cử ông vào chức ấy. Diêm-vương đã ưng cho rồi, xin đem việc ấy để báo cái ơn trước. Người ở đời xưa nay ai chẳng chết, nhưng chết mà tỏ được cái tiếng là hơn, vậy xin ông để lòng cho, nếu chậm nửa tháng nữa thì có người tranh mất đấy.

    Tử-Văn mừng rỡ nhận nhời, dặn hết công việc cửa nhà, rồi tự nhiên vô bệnh mà mất.

    Về sau, người huyện Đông-quan biết Tử-Văn, một buổi sớm gặp khi mưa rầm, trông thấy quân quan trẩy đi đông lắm, mà có tiếng quát tháo dẹp đường để quan phán quan đi. Trông lên trên xe thì là Tử-Văn, Tử-Văn cũng chắp tay có ý chào hỏi, nhưng không ai nói câu gì, cứ đi ào ào như gió.

    Đến giờ con cháu nhà ấy, vẫn còn sự tích truyền lại.


    53.- Nhị-Khanh

    Từ-Đạt người ở Khoái-châu (Hưng-yên), làm quan ở huyện Đông-quan. Gần đấy có quan Thiêm-thư là Phùng-lập-Ngôn. Hai người đi lại chơi bời với nhau thân thiết lắm. Phùng có con giai tên là Trọng-Quì, Từ có con gái tên là Nhị-Khanh, hai bên giai tài gái sắc, tốt lứa đẹp duyên, mới kết duyên Châu Trần với nhau.

    Nhị-Khanh tuy còn ít tuổi, nhưng về làm dâu nhà họ Phùng, hiền hậu hoà thuận, ai cũng khen là người nết na. Trọng-Quì tính hay chơi bời, nàng kia khuyên ngăn mãi không được.

    Năm sau, gặp khi ở tỉnh Nghệ lắm giặc cướp, triều-đình cần một quan cai-trị giỏi để bổ vào. Các đình-thần gét Phùng-lập-Ngôn là người thẳng tính, có ý muốn hại ngầm, mới cử Lập-Ngôn vào chức ấy.

    Lập-Ngôn sắp đáo lị, bảo với Nhị-Khanh rằng:

    - Đường đất xa xôi, ta không muốn cho con đi theo, vậy thì con hãy tạm ở nhà, đợi khi nào giời đất bình tĩnh, thì sẽ cho con về với chồng con.

    Trọng-Quì thấy vợ không đi, có ý ngần ngại, cũng muốn ở nhà. Nhị-Khanh bảo rằng:

    - Nay nghiêm-đường vì nói thẳng mà người ta ghét, tuy cất vào chỗ quan sang, mà kì thực đưa vào nơi đất chết. Muôn dặm ba đào, hai thân mưa nắng, chàng không đi thì ai là kẻ sớm trưa hầu hạ? Vậy thì chàng phải đi theo, chớ có vì tôi mà bỏ mất đạo hiếu.

    Trọng-Quì bất đắc dĩ phải theo cha mẹ về Nghệ, để Nhị-Khanh ở tại Đông-quan. Không được bao lâu, cha mẹ đẻ của nàng Nhị-Khanh mất cả. Nhị-Khanh đem mả về táng ở phủ Khoái, rồi thì ở nương nhờ với người bà cô họ là Lưu-thị.

    Bấy giờ có người quan võ họ Bạch, nguyên là cháu ngoại Lưu-thị, thấy nàng Nhị-Khanh có nhan sắc, muốn lấy làm vợ, nói với Lưu-thị để dỗ hỏi nàng Nhị-Khanh.

    Nhị-Khanh nghe tình sợ hãi lắm, bảo riêng người vú già rằng:

    - Ta còn nhẫn nhục đến giờ, là vì vướng có chàng họ Phùng còn đó, nếu không còn thì ta chết theo rồi, chứ không khi nào ta mặc áo xiêm của chồng ta, mà đi làm đỏm cho người khác, mụ ở nhà ta đã lâu, nên nhớ ân tình chủ cũ, vào Nghệ hỏi thăm gọi về cho ta.

    Người vú vâng nhời. Bấy giờ đang lúc loạn lạc đường sá khó khăn, mụ ấy cố sức tìm vào đến Nghệ, hỏi thăm thì ai cũng nói rằng:" Quan Tuyên-phủ Lập-Ngôn đã mất rồi, gặp phải con giai chơi bời, cửa nhà sa sút mất cả". Người vú đi đường, gặp Trọng-Quì ở trong chợ. Trọng-Quì đem về chỗ ở, thì chỉ còn một túp nhà gianh, bốn bề bỏ trống, mà đồ đạc chỉ còn cái bàn cờ, bộ ấm chén uống rượu, và con gà chọi con chó săn mà thôi.

    Trọng-Qùi bảo người vú rằng:

    - Ta vì đường xá xa xôi không sao về được, tuy ở chỗ này, nhưng lúc nào cũng nhớ đến nhà.

    Người vú cũng nói cả truyện đầu đuôi ở nhà. Trọng-Quì mới định ngày về. Khi về đến nhà, hai vợ chồng li biệt lâu ngày, nay lại xum họp, ân ái biết là đường nào. Nhưng Trọng-Quì đã quen thói chơi bời với người lái buôn là Đỗ-Tam. Trọng-Qùi thì tham của nhà Đỗ-Tam. Đỗ-Tam thì tham nhan sắc của vợ Trọng-Quì, mới rủ nhau rượu chè cờ bạc, định lừa lẫn nhau.

    Trọng-Quì đánh bạc thường hay được. Nhị-Khanh can rằng:

    - Lái buôn tính hay lừa lọc, chớ nên chơi bời với hắn nữa, bây giờ tuy được của nó, rồi sau cũng thua hết với nó mà thôi.

    Trọng-Quì không nghe. Một hôm, Đỗ-Tam họp bạn đánh bạc, bỏ ra trăm vạn quan tiền. Trọng-Quì muốn vay. Đỗ-Tam bắt phải viết giấy lấy nàng Nhị-Khanh làm cuộc. Trọng-Quì quen mui hay được, tưởng chừng chẳng đến nỗi thua nào, mới viết giấy cam kết với Đỗ-Tam. Uống rượu rồi đánh bạc. Trọng-Quì thua luôn ba tiếng, hết sạch cả tiền, gọi vợ đến bảo rằng:

    - Tôi vì nghèo ngặt, phải lụy đến nàng, nay đã trót nhỡ thế này, dù hối lại cũng không kịp. Thôi nàng hãy ở lại đây với ông ấy, không mấy bữa tôi sẽ đem tiền đến chuộc.

    Nhị-Khanh biết thân không khỏi được về tay nó, mới nói rằng:

    - Bỏ chỗ nghèo theo chỗ giầu, thiếp còn ngại gì, mà cũng là duyên giời tiền định, ví dù chàng mà có bụng yêu đến thiếp, thì thiếp cũng xin hầu hạ chăn đệm như ở với chồng trước. Nhưng thiếp hãy xin một chén rượu, để biệt chồng cũ, và về nhà từ giã với con một đôi nhời.

    Đỗ-Tam mừng lắm, sai rót vài chén rượu đưa cho uống, rồi về nhà ôm hai con ra vỗ vào lưng mà bảo rằng:

    - Cha con bạc tình, không nương tựa được vào đâu, thôi thì các con ở lại với cha con, mẹ không mặt mũi nào bỏ con mà đi với người khác nữa.

    Nói rồi tự vẫn. Đỗ-Tam chờ mãi không thấy đến, cho người gọi thì nàng ấy đã chết rồi. Trọng-Quì thương tiếc vô cùng, từ bấy giờ mới ăn năn, chừa chơi bời, nhưng sinh lý mỗi ngày một kém, sớm tối nhờ người, nhân có người bạn cũ làm quan ở Qui-hoá, mới đem con sang đấy để nương nhờ. Đi đến nửa đường, mỏi mệt lắm, nghỉ ở dưới gốc cây bàng, bỗng nghe có tiếng trên không gọi rằng:

    - Có phải chàng Phùng đấy không? Nếu chàng còn nhớ ân tình cũ, thì đến ngày ấy tháng ấy chờ tôi trong đền bà Trưng-vương chớ coi u minh là khác.

    Trọng-Quì nghe rõ rằng tiếng nàng Nhị-Khanh, ngẩng lên trông thì chỉ thấy đám mây đen bay về phương bắc. Trọng-Quì nghĩ lấy làm lạ, y hẹn đến ngày vào đền. Khi đến nơi thì bóng chiều đã xế, phong cảnh điều hiêu, chỉ có tiếng chim kêu ríu rít trên cây cổ thụ, tình cảnh buồn rầu, muốn về thì giời đã tối, mới nằm nghỉ trong nhà tả-mạc. Cuối canh ba, nghe ti tỉ có tiếng khóc, trước còn xa sau đến gần, trông mập mờ thấy rõ mặt, thì chính là nàng Nhị-Khanh.

    Nhị-Khanh bảo Trọng-Quì rằng:

    - Từ khi thiếp mất đi, Thượng-đế thương tình, cho giữ riêng một đền, coi về việc tấu sớ, không lúc nào rỗi mà thăm được chàng. Bữa trước nhân có việc đi làm mưa, xảy gặp chàng cho nên gọi lại mà hẹn, nếu không có dịp ấy thì không bao giờ được gặp nhau.

    Trọng-Quì hỏi:

    - Nàng hẹn tôi đến đây có việc gì vậy?

    Nhị-Khanh nói:

    - Thiếp thường được hầu cạnh Ngọc-Hoàng có nghe các tiên nói chuyện rằng: "Vận nhà Hồ đã hết, đến năm Bính-tuất có việc binh đao, chết hại hơn 20 vạn người, ai mà không vun giồng cây đức, thì sợ mắc vào nạn ấy. Bao giờ có chân nhân họ Lê khởi lên thì mới yên". Vậy chàng cố dạy hai con, phải vững lòng mà theo ông ấy, thì thiếp chết cũng được cái tiếng về sau.

    Hai vợ chồng truyện trò đến gần sáng mới biệt. Trọng-Quì từ khi ấy hết sức dạy bảo hai con, cho đến lúc thành người. Đến khi vua Thái-tổ khởi nghĩa trong Lam-sơn, hai con mộ quân vào theo, về sau cũng làm đến Thị-nội, bây giờ ở phủ Khoái, con cháu nhà ấy vẫn còn thịnh.


    45.- Tả-Ao


    Người làng Tả-Ao, huyện Nghi-xuân, tỉnh Nghệ-an, tên là Nguyên-đức-Huyền (có bản nói là Hoàng-Chỉ). Nhân tên làng, cho nên tục gọi là Tả-Ao. Lúc còn trẻ nhà nghèo lắm, mẹ phải bệnh loà mắt, Tả-Ao mới theo người khách buôn ở phố Phù-thạch về Tàu, để lấy thuốc chữa mắt cho mẹ. Thầy thuốc khen là người có hiếu, mới dạy cho phép làm thuốc. Học thành nghề mới trở về, xảy có một thày địa lý chính tông đau mắt, sai người mời thầy thuốc đến chữa, thầy thuốc già yếu không đi được, mới sai Tả-Ao đi chữa thay. Thầy địa-lý khỏi đau mắt, thấy Tả-Ao có ý tứ khôn dễ dạy, và cảm cái ơn chữa khỏi cho mình, mới truyền cho Tả-Ao phép làm địa lý, Tả-Ao học hơn một năm đã giỏi, thầy địa muốn thử xem sức học làm sao, đổ cát làm ra hình sông núi, rồi yểm 100 đồng tiền xuống dưới cát, và cho Tả-Ao 100 cái kim, sai tìm huyệt mà cắm kim vào lỗ đồng tiền.

    Tả-Ao xem các huyệt, cắm trúng 99 cái kim vào 99 lỗ đồng tiền, chỉ sai mất một cái cắm ra ngoài.

    Thầy địa-lý nói rằng:

    - Nghề ta sang phương Nam mất rồi!

    Mới cho Tả-Ao một cái tróc-long và các câu thần-chú hô thần để cho về nước Nam. Tả-Ao vâng lời từ về; về đến nhà thì mẹ vẫn còn mạnh, mới chữa thuốc cho mẹ khỏi loà.

    Một khi đi qua núi Hồng-lĩnh, trông lên xem, thấy có kiểu đất "Cửu-long tranh-châu", mừng mà nói rằng:

    - Huyệt đế-vương ở đây rồi!

    Lập tức nhổ ngôi mộ của cha, cất vào huyệt trên núi. Không bao lâu, sinh được một đứa con giai. Người Tàu xem thiên-văn, thấy các vì sao chầu cả về phương Nam, biết là người nước Nam được đất. Chính-phủ Tàu truyền cho các nhà địa-lý, ai để đất cho người An-nam, thì phải sang nước Nam dùng thuật mà phá đi, nếu không thì chu di cả ba họ.

    Thầy địa-lý trước, biết chắc là ông Tả-Ao được đất mới sai con sang tìm đến nhà Tả-Ao, lập mưu mà triệt đi.

    Người ấy tìm đến nơi, vào chơi nhà mà bảo rằng:

    - Từ khi đại huynh ở Tàu về, đã cất được ngôi tiên phần nào chưa?

    Tả-Ao nói thực cả truyện trước. Con thầy Tàu mới dùng mẹo đào lấy ngôi mộ ấy, mà bắt đứa con của Tả-Ao đem về Tàu.

    Được ít lâu, mẹ Tả-Ao mất. Tả-Ao tìm một ngôi đất ở bãi bể, kén ngày kén giờ để hạ huyệt. Đến giờ sóng gió ầm ầm, người anh Tả-Ao giữ áo quan của mẹ, không cho hạ xuống, một lát sóng gió yên thì ở đấy nổi lên thành bãi rồi.

    Tả-Ao than rằng:

    - Đây là hàm rồng đây, cứ 500 năm mới há miệng ra một lần, mà há chỉ trong một lát mà thôi. Bây giờ đã ngậm lại rồi, còn táng làm sao được nữa. Giời không cho thì chỉ uổng mất công ta mà thôi.

    Tự bấy giờ Tả-Ao không chịu làm ăn gì cả, chỉ lang thang đi làm đất cho người ta, một bữa đi xem xét đất đến làng Bút-sơn, huyện Hoằng-hoá, thấy có một huyệt đất hay, bèn bảo người ta rằng: "Có ngôi đất, táng giờ Dần đến giờ Mão thì phát, nếu ai táng ngôi ấy tất được của, hễ ai chịu nhường cho ta một phần chia mười, thì ta cho ngôi đất ấy". Có một người xin táng, Tả-Ao đặn đến sáng sớm mai thì cất. Táng xong mặt trời mới mọc. Người ấy vác cuốc ra rửa chân ngoài sông, thấy có một người chết trôi, nhân thể có cuốc, mới vớt lên chôn cho xác ấy, thấy trong bọc người chết có hai túi bạc, mở ra đếm thì được 50 nén, mới biết Tả-Ao là tài.

    Khi đến huyện Thanh-liêm lại tìm được một ngôi, bảo người ta rằng: " Đây có ngôi đất, chỉ táng trong một tháng thì phát quận-công, nếu ai cho ta 100 quan tiền, thì ta táng cho". Có một ông nhà giầu xin táng. Bấy giờ chúa Trịnh đang đánh nhau với nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Mạc-kinh-Độ thua trận ở huyện Kim-bảng chạy chốn. Chúa Trịnh giao ai bắt được thì thưởng cho làm quận-công một đời. Ông nhà giầu ấy táng được 20 ngày rồi. Bỗng một hôm thấy có một người vào nhà bảo rằng: "Ta là Mạc-kinh-Độ đây, cho ta đánh một bữa chén, ta sẽ làm ơn mà cho đem nộp lấy thưởng". Ông nhà giầu mừng rỡ, làm cơm thiết đãi. Mạc-kinh-Độ ăn uống xong, cho trói mình lại mà đem đến đồn Cầu-châu nộp cho chúa Trịnh. Chúa Trịnh lập tức thưởng cho làm quận-công. Người ấy được thưởng tạ Tả-Ao 100 quan tiền, Tả-Ao chỉ lấy 3 quan để ăn đường, rồi đi chỗ khác.

    Từ bấy giờ danh tiếng đồn khắp thiên-hạ. Tả-Ao đi chu-du bốn phương, phàm 20 năm giời. Đi qua các huyện Gia-bình, Từ-liêm, Đông-ngạo, Siêu-loại, Gia-lâm, táng cho nhà nào cũng được, nhớn thì làm đến Tiến-sĩ, Thượng-thư; nhỏ cũng làm nên giầu hùng trưởng. Kể ra nhiều lắm, không sao cho xiết.

    Khi đi qua làng Thiên-mỗ, thấy có một ngôi đất to, muốn táng hộ cho nhà họ Trần. Vừa đặt tróc-long xuống đất, tróc-long đổ ba lượt. Tả-Ao niệm phù-chú gọi Thổ-thần lên hỏi, thì thổ-thần nói rằng: "Đất này phát ba đời quốc-sư đại-vương, con cháu công hầu không bao giờ hết. Giời đã để giành cho nhà Nguyễn-qui-Đức; còn nhà họ Trần kia ít hồng phúc, không kham nổi được đất này; nếu ông làm cưỡng của giời thì tất có vạ. Vả lại ông đi khắp thiên-hạ, làm phúc cho người ta đã nhiều, mà không được ngôi nào để táng cho cha mẹ, ông nên nghĩ thế thì biết". Vì thế, Tả-Ao từ bấy giờ không dám khinh thường để mả cho ai nữa.

    Tả-Ao sinh được hai con giai, nhà thì nghèo mà làm đất không lấy tiền của ai, cho nên con cái thường không đủ bữa mà ăn. Khi đã già, tìm sẵn một ngôi đất sinh-phần cho mình, ở xứ đồng khoai, gọi là cách "Nhất khuyển trục quần dương" (Nghĩa là một con chó đuổi đàn dê). Nếu táng được ngôi ấy, thì chỉ ba ngày thành địa-tiên. Đến lúc phải bệnh, sai hai con khiêng mình
  • Chia sẻ trang này