0088.4.0005 [email protected]ần Lê Hương (soát xong)

24/1/16
0088.4.0005 [email protected]ần Lê Hương (soát xong)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    #0088.4.0005

    Đánh máy: linling



    40. __ ĐƯỜNG THANH XUÂN __ SÂN ĐAN TRÌ

    Xưa ở làng Hạ-đình huyện Thanh-trì (Hà-đông) có một ông thi đỗ tiến-sĩ và nổi tiếng là hay chữ.

    Cái trò <<thầy dạy học, con bán sách>>, ông có một đứa con cực kỷ ngu xuẩn, không sao học nổi được một chữ. Ông tức mình, cho đứa con về ở với anh ở nhà quê, và chỉ giao cho nó có mỗi một việc ngày ngày đem trâu ra đồng cho nó ăn cỏ.

    Cậu cả chăn trâu hôm nào về cũng chậm, ông bác dò xem, thì ra cậu ngu đến nỗi không biết con trâu nào là con trâu của mình, chiều chiều cứ phải đợi cho các trẻ khác dắt trâu của chúng đi hết rồi, còn thừa con nào, thì mới biết con ấy là của mình mà dắt về.

    Một chiều kia, bác thấy cháu về sớm, lấy làm lạ, hỏi.

    <<Sao hôm nay lại về sớm thế?

    __ Cháu đáp: Tôi đã lấy vôi đánh dấu trâu của nhà, tôi nhận ngay được, nên tôi về sớm.>>

    Bác mừng thầm cho là cháu đã phá ngu, và nhàn hôm, ông nghè về chơi nhà, ông bác đem truyện ra kể rồi khen lấy, khen để. Ông nghè không tin, mới gọi con ra, ra thử một đôi câu đối, bảo đối. Câu rằng:

    << Đường Thanh Xuân, võng giá nghênh-ngang. người sao, ta vậy;

    Con không cần nghĩ ngợi, ứng khẩu đáp ngay rằng:

    <<Sân Đan-trì, cân đai sặc sỡ ; cha trước con sau>>.

    Ông bố phải chịu là hay, và bấy giờ mới lại cho con đi học. Quả-nhiên tự đó anh chăn trâu si ngốc quá lắm kia thành ra một người học trò thông minh rất mực, chẳng bao lâu cũng đỗ ông nghè, võng giã nghênh-ngang, cân đai sặc sỡ không kém gì cha vậy.

    Câu ra có ý nói người ta đỗ đạt vẻ-vang làm sao thì ra đây đang độ trẻ, phải gắng theo cho kịp bằng người. Thanh-Xuân đây chỉ tên một khúc đường đi ở vùng Hà-đông, và trên đường ấy có cái Chợ chùa mỗi năm chỉ họp có một phiên vào ngày hai mươi tám tháng chạp. Nhưng hai chữ thanh xuân 青春lại còn chỉ cái tuổi trẻ lấy ý rằng người ta ở đời đang lúc thiếu niên, vì cũng như trong năm ở vào cái mùa xuân xanh rờn vậy.

    Câu đối có ý nói cha hiện đang làm quan rực rỡ ở chốn Triều-đình, thì tôi đây là con, tôi cũng theo được sau cha vậy. Đan-trì: đan 丹 là sắc đỏ phớt, Trì墀 là nền; hai chữ đan trì dùng chỉ chốn cung điện nhà vua vì thềm những cung điện ấy thường sơn sắc đỏ phớt.

    Hai câu này không có gì là tài-tình, nhưng ý tứ rõ ràng, chín nục không phỉ mất cái tiếng bố nghè, con nghè vậy.

















    41. __ CŨNG MAY THAY __ THÔI QUYẾT HẲN

    Cũng may thay, (1) công đăng hỏa có là bao (2), nhùng-nhằng (3) nhờ (4) phận lại nhờ (5), quan ngoài tám, chín phen (6); nào cờ nào biển, nào mũ, nào đai, nào hèo hoa, gươm bạc, nào võng (7) tía, lọng (8) xanh, khách (9) tài tình gặp hội kiếm cung (10), khắp giới Nam, bề Bắc cũng anh-hùng (11), mùi thế xem ra từng đã trải. (12)






    Thôi quyết hẳn (3) nợ (13) phong trần chi nữa tá (14) ngất-ngưởng chẳng tiến mà chẳng tục, hầu gái một và cô, hầu giai năm bảy cậu (15), này cờ, này kiệu, này rượu, này thơ, này đàn ngọt, hát hay, này chè chuyên chén mẫu, tay khí vũ (16) thoát (17) vòng cương tỏa, lấy gió mát giảng thanh làm bạn lứa, (18) tuổi giời thêm ít nữa là hơn.


    Đôi câu đối này có người cho là của cụ Nguyễn-công-Trứ ra cho ông Nghè Tân để thử tài nôm của ông Nghè. Như thế, thì vế trên là của cụ Thương còn vế đối là của ông Nghè. Nhưng xét kỹ, ai nhận như thế là nhận nhầm. Câu dưới câu trên cũng cùng theo một thể-văn, cũng chung một ngọn bút, cũng tả một tâm tình sự nghiệp, nghĩa là cũng cùng của một mình cụ Trứ làm ra khi cụ về hưu-trí vậy.

    Lại còn người dám cho: về trên là của ông Siêu ra và vế đối là của ông Quát làm. Thật là bậy quá, tưởng không cần bẻ lại làm gì. Trong hai câu ấy có cái gì là của ông Siêu, ông Quát không ?

    Đôi câu đối này, lại mỗi người chép một khác. Toàn thế câu dù không sai lạc hẳn, nhưng chữ dùng trong câu, mỗi nơi một thay đổi, khiến cho người khảo-cứu, trước khi cầm bút ghi chép, không khỏi không ngờ vực, và tự hỏi chữ nào mới là chữ của nguyên-bản, chữ chính cụ Thượng xưa đã dùng vậy. Như hai câu chúng tôi chép trên đây, là chúng tôi đã so sánh nhiều bản, tưởng như thế cho là đúng hơn, kỳ thực chưa lấy gì làm chắc.

    Đăng hỏa: đăng: đèn, hỏa: lửa. Công đăng hỏa tức là công học-hành, nói chịu khó học ban đêm phải có đèn, có lửa. _ Nhùng-nhằng: ý nói vừa phải thế thôi, không có gì là lỗi-lạc hơn người cho lắm. Nhùng-nhằng đối với ngất-ngưởng chỉnh hơn là theo đòi. __ Quan-trong: quan Đàng Trong; _ Quan ngoài: quan Đàng Ngoài; cái phép xưa người đỗ ở trong Trung-kỳ thi bổ ra làm quan ngoài Bắc, mà người đỗ ở ngoài Bắc-kỷ thì lại bổ vào làm quan tron Trung-kỷ. _ Tháng, niên: có người chữa hai chữ này là thứ, phen, lấy ý rằng cụ Trứ làm quan thăng, giáng luôn. Nhưng chúng tôi xét cái đường danh hoạn của cụ, dù có trắc trở ít nhiều cũng không đến nỗi bổ đi làm lại đến 13 19 thứ, phen được. _ Hèo-hoa: một thứ roi của nhà quan. _ Khách tài tình gặp hội kiếm cung: nói người tài giỏi gặp được cái dịp giở võ đấu chiến cùng người. _ Mùi thế: mùi đời. _ Trải: biết qua cả không sót nữa.

    Phong trần: phong: gió, trần: bụi. Nợ phong trần tức là nợ những sự nhiêu-nhương khó chịu ở đời. _ Tay khi vũ thoát vòng cương tỏa: nói người thôi làm quan không còn gì bắt buộc vướng-víu được mình nữa.

    Vế trên đôi câu đối này đại ý nói cái thân-thế sự-nghiệp của cụ Thượng đủ cả tự lúc cụ còn làm anh học-trò hàn-vi, nghèo khổ, đến lúc cụ thi đỗ làm quan, quan Trong, quan Ngoài đường-đường hách dịch, cả cho tới cái tài thao-lược của cụ đánh đông, giẹp bắc, tiếng tăm lừng-lẫy một góc giời Nam.

    Còn vế dưới, thì đại ý nói lúc cụ đã hồi hưu, cụ được hưởng cái cảnh an nhàn, nào đầy tớ một đoàn giai, gái đủ cả, nào tiêu khiển các món cầm, kỳ, thi, tửu không thiếu thức gì, công danh gác ngoài, ngao du phóng đãng, cụ chỉ bầu bạn với giăng cùng gió và mong sao cho giời để sống được ít nữa để cùng vui với Tạo-hóa.

    Rút lại, hai vế đối câu này đã như tóm lươc được hai cái mặt dười trái nhau của cụ: một bên chịu khó vất-vả bao nhiêu, thì một bên thư-thái nhàn-hạ bấy nhiêu, _ một bên lấy cái đường sĩ-hoạn, cái bước công-danh làm trọng-vọng hống-hách bao nhiêu, thì một bên lại lấy các món tiêu khiển, các trò mỹ-thuật làm hứng thú, vui sướng bấy nhiêu… Nên chi, khi ta đọc vế trên của cụ, thì đã hình như ta phải vào một chốn công-đường uy-nghi đáng sợ hay ra một nơi chiến địa sát phạt đáng ghê; _ Kịp khi ta đọc đến vế dưới của cụ thì ra hình như được đến một nơi phong-lưu tao-nhã đáng yêu, hay ở một chỗ thanh-thú tự-do đáng quí, càng ở lâu bao nhiêu, lại càng muốn ở lâu nữa.

    Hai vế-ý tưởng đã trái nhau rõ-ràng như thế thì












    văn tất phải chọi nhau không còn non yếu gì nữa. Cho nên chữ nào, mạch câu nào đối nhau cũng đều được cân xứng, ta không cần nhắc cho thêm rườm, ta chỉ nên nhận hai câu này, kể là hay là vì chữ dùng đọc giòn ta, hơi văn đi cực mạnh, bố cục phân-minh, nên tuy mỗi vế dài đến 66 chữ là câu đối dài nhất, mà người ta ngâm đi đọc lại, càng ngâm đọc, càng lấy làm thích vậy.


    42. __ QUAN CHẲNG QUAN __ GIÀ CHẲNG GIÀ

    Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất – ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng (1), nào bàn ba, tiền (2) làm sao, gạo (3) làm sao, củi nước (4) làm sao, một năm mười hai tháng thảnh-thơi (5) cái thủ lợn (6) nhìn thấy đã nhẵn mặt.




    Già chẳng già thì (7) trẻ, đàn tiểu tử nhấp-nhô đứng dưới (8), này phú, này thơ, này đoạn-một, ngang (9) là thế, sổ (10) là thế, bằng trắc (11) là thế, ba vạn sáu nghìn ngày thấm-thoắt, con mắt gà đeo kính đã mòn tai.









    Chiếu Trung đình: chiếu để riêng cho những người có chức sắc đàn anh ngồi tại đình làng. _ Lềnh: chức trọng trong dân từ 60 tuổi giở lên. Trưởng: người đứng đầu một phe, một giáp _ Bàn ba: người coi việc làm cỗ bàn cho làng. _ Thủ lợn… nhẵn mặt: ý nói được người ta biếu nhiều thủ lợn, các thủ nó nhìn mình như nhẵn cả mặt _ Tiểu tử: tức là học trò _ Đoạn một: lối văn-sách hỏi những câu ngắn _ Mắt gà … mòn tai: ý nói con mắt gà mờ phải đeo kính luôn làm cho tai đã như mòn đi vậy.

    Đôi câu đối này là của cụ Nguyễn-khuyến làm khi cụ đã hồi-hưu như câu của cụ Nguyễn-công-Trứ làm lúc hồi-hưu vậy. (Xem câu trên số 41)

    Nhưng câu của cụ Tuần hồi-hưu, với câu của cụ Thượng hồi hưu, mỗi câu một thể, một giọng khác. Câu của cụ Thượng, chỉ có một vế dưới tả cảnh hồi hưu, tuy cụ đã nhiều tuổi, mà cụ vẫn giữ được cái tính là một người tài-tình, thanh-nhã, hào-hoa, khoáng-đại. nửa tiên, nửa tục, rất mực phong-lưu. Còn như hai câu của cụ Tuần đây, thì lại rõ ra một người lúc đã hồi-hưu, mà cũng chưa thoát hết được cái nợ phong-trần, chưa gỡ ra khỏi được cái vòng cương tỏa, thôi giúp việc nước, thì về quê lại giúp việc làng, thôi nghề làm quan, thì ở nhà, lại kham nghề dạy trẻ. Đối với dân làng, thì cụ chiếm cái ngôi thứ cao nhất, cụ là bực tiên-chỉ, ngất-ngưởng cụ ăn trên, ngồi trốc, thảnh-thơi cụ thu nhận cái thủ trâu, thủ lợn. Đối với lũ trẻ, thì cụ ngồi trên, nó đứng hầu dưới, nghiễm-nhiên cụ là một nhà giáo-dục dạy cho nó viết, nó học, đường-đường cụ là một bậc mô-phạm, mắt tuy kém, nhưng đeo kính vào, trông chữ mộc-bản hay thạch-bản bé li-ti mà vẫn rõ. Cái cảnh cụ cho là thảnh-thơi đây rút lại là cụ là một người thứ nhất trong làng, chớ không chịu là người thứ hai trong nước) và cụ được hưởng bao nhiêu quyền-lợi về cái địa-vị ấy; _ cụ là một nhà gõ đầu trẻ (chớ không chăn đàn đàn) và cụ dạy trẻ thật hết lòng, không hề cho thế là vất-vả khó nhọc.

    Cái ý của cụ Yên-đổ khác cụ Ngộ-trai như thế, nên cái văn của cụ cũng khác. Dễ chỉ có chỗ, kể ba chữ nào với ba chữ làm sao, ba chữ nàyvới ba chữ là thếlà giống như cái lối kể trong câu của cụ Ngộ-trai, chỗ kể cũng có đến sáu chữ nào nới sáu chữ nàymà thôi. Còn so-sánh ra, thì câu của cụ Yên-đổ hơi văn không được mạnh-mẽ, câu đặt không được rắn-giỏi, chữ dùng không được kêu giòn như câu của cụ Ngộ-trai. Nhưng cứ kể như câu đối nôm, thì câu này là câu dài thứ hai, mỗi vế 44 chữ mà làm được như thế, cũng là tuyệt bút vậy. Những chữ đối nhau: ngất-ngưởng đối với nhấp-nhô, trên đối với dưới, lợn đối với gà, mặt đối với tai, thật là chọi nhau chan-chát. Nhất là được trong câu, trừ ra có mấy chữ trung-đình, tiểu-tử là phải mượn ở chữ Hán, còn toàn chữ nôm, mà lại là chữ nôm quê, nôm đặc của người Nam, của nước Nam, thật là quý hóa lắm. Đã gọi làm văn Nôm, cố dùng cho được chữ nôm, để giữ lấy cái tiếng nôm, ấy là một điều đáng trọng, đáng khen nhất trong văn của cụ Tam-nguyên.


    [​IMG]
    ĐỀ TẶNG


    [​IMG]
    43. __ IN NHƯ __ ĐEM CẢ

    In như thảo mộc giời Nam lại.

    Đem cả sơn hà đất Bắc sang.

    Câu này, người nói là của Bà huyện Thanh-quan vịnh cái chén uống chè tàu vẽ sơn thủy. Người ta sở-dĩ truyền tụng câu ấy và kính-phục cái tài của Bà huyện, là vì trong có hai chữ sơn hà 山河(núi, sông) đối với hai chữ thảo mộc草木(cỏ, cây) rất là đắc thế. Lại những chữ: đất đối với giời, Bắc đối với Nam, sang đối với lại thật là cân xứng.

    Không kể chữ dùng, trong lại ngụ được cái ý nói đến nước Tàu, nước Nam rất hay, Vịnh một cái chén uống nước mà thu được cả thảo mộc nước Nam, lại đem được cả sơn hà nước Tàu sang thật là một câu tuyệt cú, khiến người ta ngâm đi ngâm lại mãi được mà không chán.


    [​IMG]
    44. __ RA TAY __ NGẬM KHÓI

    Rạ tay cầm cán sôi trong nước.

    Ngậm khói phun mây sạch bụi trần.

    Hai câu này người ta cho là của cụ Cao-bá-Quát ngẫu hứng làm khi cụ ngồi hút thuốc lào. Không rõ có thực chắc không. Nhưng xem cái khẩu-khí, tất cũng là một người có chí nhớn, đã như muốn tạo thời-thế vậy. Chỉ có nói cầm cái xe điếu (cầm cán) hút, nước điếu kêu lách-tách, rồi mồm thở khói ra, mà hạ đến những chữ: Ra tay, sói trong nước, sạch bụi trần, thì thực đã như thu cả quốc-gia (nước) và thế-giới (trần) vào trong ấy.

    Ta xem hai câu vịnh hút thuốc lào này, chắc ta lại nhớ đến bài thơ vịnh cái điếu thuốc lào của cụ Lê-Thánh-Tôn. Hai bên ngâm vịnh cũng một cái dọng văn như nhau.

    Tựu trung phải chữ bụi trần là hai chữ danh-từ nặng bằng nhau đối với hai chữ trong nước không được chỉnh, chữ trần đối với nước thì được, còn chữ bụi đối với trong thì chữ trong nhẹ hơn nhiều.


    [​IMG]
    45. __ BÁN GIÀU __ BUÔN TRĂM

    Người ta nói xưa ở trước một cái quán bán hàng có dán một đôi câu đối nôm rằng:

    Bán giàu, bán rượu, không bán nước.

    Buôn trăm, buôn chục, chẳng buôn quan.

    Cái quán hàng lạ thay ! Thói thường đã bán giàu, thì tất có bán nước, vị chi gọi là hàng giàu nước. Nhưng đây lại không bán giàu với nước, chỉ bán giàu với rượu là phù, tửu thôi.

    Đã là cái hàng giàu, thì người bán phải nhặt từng đồng kẽm, đồng chinh, mà đây lại nói ngược buôn từng hàng trăm quan, chục quan, chớ không thèm buôn từng quan một. Cái cửa hàng thật to và giàu có lắm !

    Bởi đôi câu đối này, mà lúc bấy giờ có kẻ cho người chủ quán đây không phải là người tầm thường, tất có cái khí-phách to làm nên những thủ-đoạn lớn-lao, mà lại biết liêm sỉ, lấy sự không bán nước, không buôn quan làm trọng.


    [​IMG]
    46. __ NẾP GIÀU __ VIỆC NƯỚC

    Nếp giàu quen thói kình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm.

    Việc nước ra tay chuyền bát, bắc nam đâu đấy lại hàng.

    Hai câu này người ta nói là của vua Lê-Thánh-Tôn xưa vi-hành đi chơi làm hộ cho một hàng bán nước để dán ở trước cửa.

    Không rõ có chắc hay không, nhưng xem cái thể câu thì thực rõ cái khẩu khí của một ông vua hay một người có khí-phách đáng làm vua.

    Vế trên nói đến cơi giàu mà hạ hai chữ kình cơi, tức là có ý kênh-kiệu, hách-dịch, không cần đến ai cả; nói đến ấm nước mà hạ hai chữ vi ấm là có ý nhớ đến cái âm-đức của tổ-tiên để lại cho mà bây giờ mới được như thế.

    Vế dưới nói đên bát nước mà hạ hai chữ chuyển bát nghĩa là xoay-xở bắt ra thế nào được thế ấy; nói đến lại hàng, hàng là hàng nước, nhưng lại ngụ cái ý qui phục, thì thực rõ ra một người anh-hùng cái thế, bắc nam ai cũng phải chầu về mình cả.


    47. __ THIẾP VÌ __ KHÁCH MUỐN

    Thiếp vì lòng trắng không thay hạt.

    Khách muốn môi son phải mượn mầu.

    Đôi câu đối này là của một cô hàng cau dán ở trước cửa, mà người ta nói là của ông Tú-Xương làm hộ. Cô vốn là một người hóa chồng nhưng còn trẻ tuổi và có nhan sắc. Học-trò đi qua thường hay vào chòng ghẹo, chê ỷ, chê eo nào những là cau long, cau điếc, cau chụt mầu, cau nẫu ruột. Cô vẫn một niềm giữ mực đứng-đắn, nhưng cô vẫn chiều khách không hề có giọng đong đưa chua ngoa bao giờ. Người ra nói từ khi có đôi câu đối của ông Tú dán cửa, thì bọn sĩ-tử không ai dám ngấp-nghé cô hàng cau nữa.

    Nếu quả như vậy, thì đôi câu đối của ông Tú chẳng là một chiếc bùa trấn-trừ linh-nghiệm lắm ru ! Nhưng xét lại, hai câu này thật cũng không có gì là độc dữ lắm. Chẳng qua cô Hàng cau, chỉ có ý nói rằng cô giữ một niềm trinh-bạch không hề thay lòng đổi dạ đâu mà các bực sĩ-tử mong những nọ, kia. Ấy là ý vế trên, còn vế dưới không rõ cô nói muốn môi son, mượn màu là ý cô muốn nói gì.

    Về mặt đối thì chữ nào nghe cũng được cả. Nhất là trắng đối với son (trắng tức là lòng trinh-bạch, son tức là còn nguyên vẹn), thay hạt đối với mượn màu nghe hay lắm.


    48. __ NGÀY NGÀY __ CUỐI NĂM

    Ngày ngày mổ bụng con nhét chữ.

    Cuối năm bổ đầu bổ lấy tiền.

    Đôi câu đối này là của cụ Nguyễn-Khuyến làm, khi cụ ngồi dạy học tại nhà một cụ Thượng. Mới nghe những chữ: mổ bụng, bổ đầu thì như ghê cả thịt. Nhưng nghĩ ra, thì chỉ là sự thường mà thôi. Vế trên chỉ có ý nói dạy con người ta học, vế dưới chỉ có ý nói ăn lương của bố đẻ ra người con ấy.


    [​IMG]
    49. __ GIANG SƠN __ VĂN VŨ

    Giang sơn tóm lại đôi sân khấu.

    Văn vũ đem ra một khúc cầm.

    Đôi câu đối này là của ông Nguyễn-quý-Tân làm để như tặng cụ Nguyễn-công-Trứ. Tả cái sự-nghiệp thân-thế của cụ Nguyễn mà tóm lại được hai câu như thế, thực là đúng, là hay vậy.

    Cái sự-nghiệp kinh nhân của cụ mà con lưu ơn huệ lại cho dân được hưởng-thụ đến bây giờ và về sau này mãi-mãi chẳng phải là hai cái sân khấu, tức là hai huyện Kim-sơn (Ninh-bình) và Tiền-hải (Thái-bình) là gì ? Cái công to nhất của cụ là cái công khẩn-hoang, cụ làm cho ruộng cày mở ra hàng bao nhiêu vạn mẫu, dàn ở họp lại thành bao nhiêu làng, tổng. Xưa nay ở nước ta, đã từng thấy một vị quan nào, văn võ đã toàn tài, mà lại có cái trí kinh-doanh cho dân được nhờ như cụ? Nên tưởng dân Kim-sơn, Tiền-hải thờ cụ là có nhẽ, mà dân cả nước Nam thờ cụ cũng không phải là không nên.

    Cái văn-chương, thao-lược của cụ mà còn sót lại đến ngày nay cho cả dân ta được học tập, càng học càng phục là hay chẳng là ở mấy sợi tơ, tức là những bài ngâm vịnh hát xướng đủ các lối, Nam, Bắc đâu đâu cũng biết là gì? Cái tài cao nhất của cụ là cái tài đặt những bài thơ, bài ca-trù… Ta được đọc một bài ca-trù dài hay chỉ một đôi câu đối ngắn của cụ, tức là ta vừa được rèn luyện về đường chữ nghĩa rất tài tình, vừa được hun đúc về đường tinh-thần rất khảng-khái của cụ vậy. Văn Hán thế nào không rõ, nhưng trên cái đàn văn nôm còn vắng-vẻ của ta, mà tìm lấy một người được như cụ, tưởng cũng không còn mấy ai nữa. Nên tưởng ta bây giờ đã biết trọng quốc-văn, sùng bái cụ Nguyễn-Du, thì ta cũng chẳng nên quên cụ Nguyễn-công-Trứ mà không sùng bái vậy.

    Trong hai câu đây, trên nói giang-sơn, văn vũ mà dưới rút xuống sân khấu với khúc cầm là cũng có ý vậy. Cụ Nguyễn sở-dĩ nổi danh là ở như huân công của cụ, công-nghiệp của cụ, nhưng còn ở như cái cách tiêu-dao tự-lại, cái sự phong-lưu hào-phóng của cụ. Xem cái tiểu-sử của cụ, thì tự lúc cụ còn hàn-vi bấn túng, hạ thân làm anh kép cho nàng Xuân-Nga, qua lúc hiền đạt làm đến Tổng-đốc, lại gọi Xuân-nga vào hát, mà không nhận ra (1), cho đến lúc hồi hưu phóng-khoáng rạo chơi các nơi nhậm lỵ mà đem cả tì thiếp vào ở hẳn ngay những sinh-tử nhân-dân làm để phụng sự, thì cụ quả là một người ưa cái sắc đẹp, thích nghe tiếng đàn, hay đặt bài hát, một cách hơn người ta lắm vậy. Nên ngoại cái câu ông Tân tặng cụ trên đây lại còn câu người ta tặng cụ cũng rất đúng vậy. Câu rằng:

    <<Sự-nghiệp kinh nhân thiên-hạ hữu

    <<Phong-lưu đáo lão thế-gian hi>>

    事業驚人天下有

    風流到老世間希


    [​IMG]
    50. __ MỞ KHÉP __ RA VÀO

    Người ta nói ông Nguyễn-hữu-Chỉnh xưa có đôi câu đối làm dán cánh cửa rằng:

    Mở khép càn khôn, có ra tay mới biết.

    Ra vào tướng tướng, thử liếc mắt mà coi.

    Câu đối dán cửa mà dúng bốn chữ Hán: càn乾,khôn坤,tướng將 tướng相 là hợp cách lắm. Xưa nay về dịp Tết ở hai cánh cửa người ta thường viết bốn chữ càn khai乾開nghĩa là giời mở, khôn hạp坤闔nghĩa là đất đóng, lấy ý rằng cánh cửa lúc mở, lúc đóng tượng như giời đất khi sáng khi tối vậy. _ Còn khi nào có hai bên cửa, thì người ta hay viết một bên hai chữxuất tướng 出將nghĩa là tướng võ ra, một bên hai chữnhập tướng 入將nghĩa là tướng văn vào, lấy ý rằng nhà đại gia lúc ở triều ra thì tướng võ đánh dẹp giặc giã, lúc về triều thì là tướng văn giúp giập vua chúa.

    Trong câu lại dùng bốn chữ nôm: mở khép, ra vào cũng là nhằm với cánh cửa khi mở, khi khép, để cho người ta ra ra đi vào vậy.

    Còn những chữ ở cuối hai câu: có ra tay mới biết, thử liếc mắt mà coi, là ông Cống Chỉnh tuy làm câu đối để dán cửa mà lại tỏ được cái chí khí của mình là người có tài kinh-luân, thao-lược thiên-hạ ai cũng phải phục.


    [​IMG]
    51. __ HAI HẠP __ BA BỊ

    Hai hạp, bốn thủ, một lũ nhà tơ, ngồi chờ quan lớn.

    Ba bị, chín quai, mười hai con mắt, hay bắt trẻ con.

    Hai hạp: hạp闔nghĩa là đóng, hai hạp là hai ông bát (bát phẩm) coi việc đóng hộp ấn ở đinh quan tỉnh. _ Bốn thủ: thủ 守nghĩa là giữ, bốn ông cửu (cửu phẩm) coi việc giữ ấn. _ Nhà tơ: tiếng chỉ gồm cả những người làm việc trong dinh một đường quan, kể ngoài các ông hạp, ông thủ, còn đô-lại, thư-lại, vị-nhập-lưu thư-lại, v v… Ba bị chín quai mười hai con mắt: ông ngoáo để dọa trẻ con khi nó vòi khóc.

    Hai câu này người ta nói là của ông Nguyễn-công-Trứ làm dán tại công-đường khi ông ngồi Tổng-đốc Hải-dương.

    Vế trên có ý nói chỗ quan ngồi xử việc rất nghiêm, dưới thì ti-tào đông-đúc, trên thì quan lớn bệ-vệ cao-xa.

    Vế dưới là câu đồng-dao, lại có ý như đùa bỡn, có cái chỗ oai-nghiêm kia chẳng qua chỉ là một chỗ dọa nạt dân như ông Ba-bị dọa trẻ vậy.

    Những chữ số: hai đối với ba, bốn đối với chín, một lũ đối với mười hai thật chỉnh. Hai chữ quan lớn đối với trẻ con nghe cũng được, chỉ phải chữ ngồi đối với chữ hay không cân.


    [​IMG]
    52. __ GIÓ DỰA __ GIĂNG NHÒM

    Gió dựa tường ngang lưng gió phẳng.

    Giăng nhòm cửa sổ mắt giăng vuông.

    Hai câu này thuộc về cái hạng những câu điêu-luyện, đục gọt, mài rũa, tưởng mất bao nhiêu công phu mới thành, Thiên-hạ thường vẫn độc tụng, vẫn ghi chép, vẫn viết vào giấy, vẫn đắp lên tường, vẫn thâm phục là hay, là tài, là tuyệt, là điệu. Thế mà thiên-hạ vẫn còn như chưa cho làm vừa ý, hoặc có khi còn muốn đục, gọt, mài rũa nữa để cố làm cho hay, tài,tuyệt, diệu hơn. Cho nên, dù có 14 chữ thế, mà người thì bảo là lưng gió, kẻ lại cho là khuôn gió; người thì cho là gió dẹp, kẻ lại cho là gió phẳng; chỗ thì chép là mắt giăng, hay bóng giăng, chỗ lại ghi là mặt giăng, hay nếp giăng, hoặc khi lại đổi hẳn cả bốn chữ: gió dựa tường ngang ra làm: Đưa lọt kẽ mành, giăng nhòm cửa sổ ra làm: Luồn qua cửa sổ….. Vậy chính câu nguyên-văn như thế nào? _ Không ai biết. _ Như câu chúng tôi chép đây, chẳng qua là lấy phần thuận tai, thuận miệng làm chủ và nghe nhiều người cũng nhận cho như thế là phải.

    Gió làm gì có lưng? Nhưng khi luồng gió thổi tạt vào bức tường ngang, bức tường ấy chắn gió lại, và gây cho gió thành như có lưng, mà một cái lưng thẳng tuột, vì bức tường thẳng tuột. _ Giăng làm gì có mắt? Nhưng khi ánh sáng mặt giăng chiếu qua một cái cửa sổ vuông (phải nói rõ vuông vì cửa sổ bất tất phải vuông cả), thì cái cửa sổ ấy nhận được ánh sáng chiếu cho sáng trong buồng, khác nào như chính mắt mặt giăng vuông vậy. Cứ kể nghĩa, thì nghĩa vế dưới cắt không xuôi được bằng vế trên. Còn phần chữ dùng, ta đã cho là điêu luyện, thì ta không cần cân nhắc nữa. Nhưng như ra đã nói trên: cửa sổ đối với tường ngang, thì sổ với ngang không được chỉnh mà
  • Chia sẻ trang này