0088.4.0013 (Socnho, Soát xong Wiki)

21/3/16
0088.4.0013 (Socnho, Soát xong Wiki)
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    #0088.4.00013

    Đánh máy: Ha_nhanh



    —240 —

    194. — NGƯỜI TA NĂM — MÌNH TA TUỔI

    Người ta năm Bính-dần, đầu tháng mười-hai tiết tân xuân, giời ấy mũi hẳn to bằng súng, như xuân thế một năm hầu dễ mấy, lạc thú kia nên náo-nức mấy ai ơi ! sợ con sòng-sọc kíp theo chân (1), đua thanh sắc đề nhắn-nhe nơi thành-thị, hơn-hớn lấy tính tình vui chơi dai cho khỏng-khảnh dáng [ trần gian.

    Mình ta tuổi Đinh-dậu, năm nay ba chục chừng nhi-lập (2), nghĩ mình đầu đã nhớn tầy thành, ví thân này nửa kiếp đã hầu qua, phù sinh ấy khéo buồn tênh thay mình nhỉ ! giận cái long-đong làm dở phận, không thanh danh cho lừng-lẫy áng bang gia (3), khư-khư ôm lấy vinh nhục những căm giời, chết chôn kỹ kẻo vẩn-vơ hồn [ loạn thế.

    Phạm-Thái.

    (1) — Câu này ý nói sợ cái già nó chóng đến.

    (2) — Bốn chữ « Tam thập nhị lập » của đức Khổng-tử trong Luận-ngữ.

    (3) — Áng bang gia : nền nước nhà.

    — 241 —

    CÂU ĐỐI MỪNG

    195. —TRÊN CÓ — DƯỚI KHÔNG

    ( Mừng em út mới lấy vợ)

    Trên có mẹ, cùng [ anh, thú nhỉ.

    Dưới không em, đã [ vợ, vui thay.

    Vế dưới nói không em thì rõ ngay là con út.

    196. — HAI CHỮ — NGHÌN NĂM

    (Câu đối mừng cô Tư Hồng)

    Hai chữ bao phong [ hàm Cụ lớn.

    Nghìn năm danh tiếng [ của Bà to.

    Câu này là của một vị quan làm mừng cô Tư — Cô Tư danh-giá vang lừng thật ! Chẳng thế mà các danh sĩ thi nhau làm câu đối mừng cô, mà tức là để lưu danh cô lại cho hậu thế.

    197. — CÓ TÀN — NÀY BIỀN

    Có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá vang lừng mười mấy tỉnh.

    Này biền, này cờ, này sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm người.

    Nguyễn-Khuyến.

    — 242 —

    198. — LẠ-LÙNG THAY — MAY-MẮN NHỈ

    (Lại câu mừng cô Tư)

    Lạ lùng thay ! khôn ngoan chẳng lọ nhờ chồng, ba nghìn đồng sắc tứ Phu-nhân, người được như me [ là ít có.

    May mắn nhỉ ! danh giá để dành cho cụ, bảy mươi tuổi, hàm phong Thị-độc, ai rằng sính gái [ cũng như không.

    Nguyễn-Khuyến.

    199. —NHỜ GIỜI — ƠN CHÚA

    Nhờ Giời phù-hộ chồng tôi, miếng khoa-giáp ăn xanh phường [ sĩ-tử.

    Ơn Chúa yêu-vĩ bố nó, nợ trần-hoàn trang trắng mặt [ nam-nhi.

    Câu này người ta cho là của cụ Nguyễn-công-Trứ làm thay vợ để mừng mình lúc đi thi. Ăn xanh : ăn đứt. —Trang trắng : rũ sạch.

    200. — CHA THI ĐỔ — ÔNG NHÂN HIỀN

    Cha thi đỗ, con thi đỗ, cha con cùng thi đỗ, lộc nước hưởng đời đời.

    Ông nhân hiền, cháu nhân hiền, ông cháu cũng nhân hiền, phúc nhà truyền kiếp kiếp.

    — 243 —

    201. — MÌNH NGHĨ — AI BẰNG

    ( Câu này làm tự mừng)

    Mình nghĩ cũng cừ thay, khi rượu sớm, lúc cờ trưa, rượu rượu Lưu-Linh, [ cờ Đế-Thích.

    Ai bằng đâu sướng thực, câu thơ kim, bài phú cổ, thơ thơ Lý-Bạch, phú [ phú Tiêu Hà.

    202. — THÔI THẾ — NÓI RA

    Thôi thế nói thực duyên may, già sức khỏe, trẻ bình an, khuya sớm ngọt bùi ông [ có cháu.

    Nói ra chi sự ở, giàu vẻ-vang, sang lịch sự, đi về nương tựa chú [ như cha.

    Câu này làm mừng bạn mới lấy vợ, người bạn bố chết rồi, mẹ tái giá, phải ở với ông và chú.

    203. — TÍNH ÔNG HAY — NHÀ ÔNG GIÀU CÓ

    Tính ông hay, hay tửu, hay tăm, hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa, tuổi ngoại sáu mươi còn [ mạnh khỏe.

    Nhà ông có, có bàu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, bày ra một tiệc thấy [ linh-đình.

    —244 —

    Hai câu này là của một ông cụ làm để tự mừng mình ăn thọ bảy mươi và khéo được một cái là mượn chữ ở những câu đồng-dao, phong-dao rất hợp cảnh.

    CÂU ĐỐI PHÚNG

    204. — CON MẤT CHA — CÂY MUỐN LẶNG

    (Con khóc cha)

    Con mất cha như [ chim lìa tổ.

    Cây muốn lặng sao [ gió chẳng đừng.

    — Vế dưới lột cái ý trong câu « Thụ dục tĩnh nhi bất phong bất đinh » của thầy Tử-Lộ.

    205. — ĐỨC MẸ — LÒNG CON

    (Con khóc mẹ)

    Đức mẹ cao dầy, thảm-thiết thơ ngây [ chín chữ

    Lòng con báo đáp ngậm-ngùi tấc cỏ [ ba xuân.

    206. — NGAO-NGÁN THAY — ĐAU ĐỚN NHẼ

    Ngao ngán thay ! một chị với hai con, chén rượu cương thường nhờ cháu rót.

    Đau-đớn nhẽ ! năm mươi mà trăm tuổi, câu thơ ly biệt mượn người đưa.

    — 245 —

    Câu này là của ba chị em khóc mẹ mất năm năm mươi tuổi, không có con giai, lấy cháu làm kế-tự.

    207. — XOẮN ĐUÔI — KHÉP MU

    (Riễu người lấy Khách mà Khách chết)

    Xoắn đuôi chuột, giở [ về với mẹ.

    Khép mu rùa, ở [ lại nuôi con.

    208. — NGHĨ RẰNG — AI NGỜ

    Nghĩ rằng rết lắm chân, chị ngã em nâng đành đã vậy.

    Ai ngờ cóc hết truyện, quan tha, ma bắt biết làm sao.

    Câu này là câu của hai chị em khóc chung một chồng. Mà người chồng lúc trước phải tù tội, đến khi được tha về, thì chết. Bởi vậy mới dẫn được hai câu tục-ngữ « Chị ngã , em nâng » và « Quan tha, ma bắt ». Xem rõ truyện ở quyển Để mua vui.

    209. — CHỊ THƯA CHỊ — CON ƠI CON

    (Vợ lẽ khóc chồng làm quan)

    Chị thưa chị ! Một tiếng đùng nợ phù-sinh quan lớn đã xong rồi, trị mà chi, loạn mà chi, kiếp nọ sống thừa [ em với chị.

    Con ơi con ! Ba đời dõi gương thế phiệt chúng bay coi lấy đó, vinh là thế, nhục là thế, phen này chết đáng [ mẹ cùng con.

    — 246 —

    210. — ÔNG ĐI — CHA KHÓC

    (Cháu khóc ông nội)

    Ông đi đẩu, đi đâu, bánh ngọt quà ngon, san-sẻ lấy ai vui vẻ nữa. Cha khóc lăn, khóc lóc, đầu tang, tóc rối, bồi-hồi thấy cảnh ngậm ngùi thay.

    211.—SỰ TRĂM NĂM — DƯỚI CHÍN SUỐI

    Sự trăm năm, chị đã vẹn rồi, trách chị tình kia còn [hiếu nọ.

    Dưới chín suối, ai mà có hỏi, như ai duyên ấy vẫn [thân này.

    Hai câu này là hai câu em dâu viếng chị dâu con chồng, mà chính mình thì góa chồng. Nên vế dưới có chữ ai tức là ám ảnh chỉ chồng mình có hỏi, thì đáp như thế.

    212. — NHỚ TỪ KHI — BỖNG PHÚT CHỐC

    Nhớ từ khi khuất bóng nhà Huyên, ra đỡ vào nâng, sau trước chở-che nhờ [có mẹ.

    Bỗng phút chốc trông chừng núi Dĩ, quạt nồng ấp lạnh, sớm hộm chềnh-mảng tủi [đàn con.

    Câu này là câu khóc mẹ già, mẹ mình đã mất rồi và hiện mình ở xa. —Nhà Huyên, núi Dĩ là những chữ dùng để nói về mẹ.

    — 247 —

    213. — ÔNG SAO ĐÃ — TÔI NAY VẪN

    Ông sao đã vội bỏ : bỏ vợ, bỏ con, bỏ tiền, bỏ của, bỏ hát-hội, bỏ thây-tu, bỏ hết trần-duyên trong một [ kiếp.

    Tôi nay vẫn hãy còn : còn giời, còn đất, còn nước, còn anh hùng, còn hào-kiệt, còn nhiều vận-hội với năm [ châu.

    214. — THẤY XE — TƯỞNG SỰ

    Thấy xe thiên cổ xịch đưa ra, không thân-thích nhẽ đâu [ mà khóc mướn.

    Tưởng sự bách niên dừng nghỉ lại, não can tràng cho nên [ phải thương vay.

    Câu này, người ta nói, là của ông Quát làm viếng một người, ông không quen biết bao giờ, nhưng ông gặp đám ma, thì cứ làm câu đối phúng chơi, để tang chủ phải mời vào đánh chén.

    215. — BÀ VUI — NHÀ TIẾNG

    (Cháu khóc bà nội)

    Bà vui lên cõi Phật cõi Tiên, cô với cháu nhớ thương [ khôn siết kể.

    Nhà tiếng thế không giàu không có, mẹ cùng anh lo liệu [ nhưng làm sao.

    — 248 —

    216. — MỪNG THẦM — NGÁN NỖI

    (Cháu khóc chú ruột)

    Mừng thầm chú cũng như cha, mọi việc nương nhờ còn siết [ kể.

    Ngán nỗi chú về cảnh phật, xót thương nhớ biết bao [ nguôi.

    217. — XÓT TÌNH — TỦI PHẬN

    (Cháu khóc chú ruột)

    Xót tình trông cậy như cha, đứng dưới thềm lan sầu mọi [ nỗi.

    Tủi phận thơ ngây là cháu, khóc đưa xe bạc thảm trăm [ chiều.

    218. — TẠO VẬT — RỂ CON

    (Con rể khóc bố vợ)

    Tạo vật khéo trêu ngươi kéo đám mây mù che núi Nhạc.

    Rể con không nhẽ nín, nổi cơn gió lạnh thổi nhà Băng.

    Núi Nhạc, nhà Băng chỉ bỏ vợ.

    219. — ANH EM ƠI ! — CHỊ EM NHỈ !

    Anh em ơi ! ông Nhạc đi đâu rồi, ô vậy mệnh giời [ có thế.

    Chị em nhỉ ! rể con không nhẽ nín, kiếm lối giả nghĩa [ phải chăng.

    — 249 —

    Hai câu này, có người bảo là của anh phường chèo viếng bố vợ. Nhưng ta không thấy gì là phường chèo. Ta chỉ nhận kiếm lối giả nghĩa mà đối với ô vậy mệnh giời không được cân.

    220. — HẮP NGUYỆT — THÂM TÌNH

    Hấp nguyệt lái ông bà bột nhiên khứ [ hĩ.

    Thâm tình khươm huynh đệ y dư ai [ tai.

    — Hai câu này là của anh lái lợn phúng cha mẹ người bạn đồng-nghiệp chết cách nhau mấy tháng.

    Trong câu có mấy tiếng lóng của các lái lợn : Hắp = bảy, — lái = hai, — thâm = ba, — khươm = chín. — Và tám chữ Hán : bột nhiên khứ hĩ : [] [] [] [] = vụt chốc đi ngay. — y dư ai tai : [] [] [] [] = than ôi thương vậy thay !

    TẠP LIÊN

    221. — CUỐC — GÀ

    Cuốc xuống ao uống [ nước.

    Gà vào vườn ăn [ kê.

    Chữ quốc viết q nghĩa là Nước (quốc-gia) chữ kê chỉ con gà. — Vế trên đã có quốc lại có nước. Vế dưới đã có gà lại có kê.

    — 250 —

    222. — HAI QUANG — NĂM GIÁN

    Hai quang là một [ gánh.

    Năm gián nhỡ ba [ đôi.

    Câu này, người ta nói, là của một ông Thủ-khoa người làng Bát-Tràng làm tự khi ông còn ít tuổi. Ông là người cực kỳ thông minh dĩnh-ngộ. Trong câu được hai chữ số hai, một đối với hai chữ số năm, ba rất chỉnh. Tiếng gián đây là nói tiền gián mỗi tiền chỉ có ba mươi sáu đồng.

    223. — GÀ GÁY — NGỰA PHI

    Gà gáy năm canh : « tác tác ».

    Ngựa phi nghìn dặm « nhong nhong ».

    224. — ĐẦU NON — MẶT NƯỚC.

    Đầu non lác-đác [ vài đôi yến.

    Mặt nước thung-thăng [ mấy chách ngư.

    Câu này đâu là của cụ Mặc-đĩnh-Chi vịnh cảnh Lạng-sơn khi cụ qua đò để sang sứ Tàu. Có bản chép hai chữ «chiếc thuyền» thay vào «chách ngư ».

    225. — ĐẦU ĐỘI — TAY KHUA

    Đầu đội vạc, chân [ đi đủng-đỉnh.

    Tay khua vịt, mình [ trong ấm-áp.

    Vế trên, cuối có chữ đỉnh [] nghĩa nôm là vạc ; — Vế dưới, cuối có chữ áp [] nghĩa nôm là vịt.

    — 255 —

    243. — SÓNG VỖ — GIÓ ĐƯA

    Sóng vỗ cặc Bần [ quay lảo-đảo.

    Gió đưa ghe Phú [nhẹ bồng tênh.

    Hai câu này, người ta cho là của ông quan người Đàng Trong và nàng Xuân-Hương đối đáp với nhau. Bần = Bần-yên-nhân, ở Mỹ-hào, Hưng-yên? — Phú = làng Phú-xuân tức là ở Huế bây giờ.

    244. — TÀN VÀNG — THUYỀN RỒNG

    Tàn vàng tán tía, che đầu nhau đỡ khi [ nắng cực.

    Thuyền rồng mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ [ lộn lèo.

    Hai câu này là của ông Chiêu-Hổ cùng nàng Xuân-Hương làm đối đáp nhau có phần tục ở hai chữ cuối nói lái lại.

    245. — GIỜI CÓ MẮT — ĐẤT KHÔNG CHÂN

    Giời có mắt, giời chẳng xa, gương giời [ soi xét.

    Đất không chân, đất biết chạy, quả đất [ xoay vần.

    Câu này của ông Đặng-xuân-Bảng, được mấy chữ giời đối với đất thật chỉnh. Ý nghĩa của cả hai câu cũng hay.

    — 256 —

    246. — TRẺ VUI NHÀ — GIÀU Ở LÀNG

    (Tặng một bà vãi)

    Trẻ vui nhà, già vui chùa, xem tượng mới [ tô, chuông mới đúc.

    Giàu ở làng, sang ở nước, này người là [ ngãi, của là duyên.

    Trần-Kế-Xương

    247. — CÂY GIỒNG — ĐÁ MỌC

    Cây giồng trên đỉnh núi, xuân, hạ, thu, đông bốn mùa gió thổi.

    Đá mọc giữa mặt hồ, đông, tây, nam, bắc, bốn mặt sóng reo.

    248. — NGƯỜI ĐỒ SƠN — KHÁCH CUNG NGUYỆT

    Người Đồ-sơn tắm nước Đồ sơn, sơn sơn xuất, anh-hùng tương ngộ.

    Khách cung Nguyệt lên chơi cung Nguyệt, nguyệt nguyệt bằng thục-nữ chi giao.

    Câu này lấy được, ví có hai chữ sơn [] thành chữ xuất [] và hai chữ nguyệt [] thành chữ bằng [].

    249. — ĐỘNG ĐẾN CHƠI — NGHE ĐẾN HỌC

    (Tặng người học trò lười)

    Động đến chơi, mừng như ếch thấy hoa bụt, nhung-nhăng chạy ngược, lộn xuôi trăm cấp thiên tính [ vạn quỷ.

    Nghe đến học, hoảng như bò thấy nhà táng, láo-nháo quanh đi, quẩn lại một câu ngũ Đế [ tam Hoàng.

    — 257 —

    250. — VUÔNG TRÒN — MẶN NHẠT

    (Của chị hàng bán bánh đa)

    Vuông tròn tính cuộc trăm năm, sấp ngửa khôn lường tay Tạo-[ hóa.

    Mặn nhạt chút tình bán tử, mỏng dầy sao kín miệng nhân-[ gian.

    (Trong câu có mấy chữ Trăm năm, bán tử không rõ là nói về điển-tích gì.)

    251. — THƯƠNG EM — YÊU ANH

    Thương em bởi má phấn răng đen, mình yểu điệu thêm bộ cánh trang-hoàng… [ đẹp !

    Yêu anh vì mắt bạc môi thâm, vai so rụt lại bàn đèn rực-rỡ … [ sang !

    252. — PHƯỜNG HAY — ĐỒ HỦ

    Phường hay, phường dở, cũng phường tuồng, chớ nghĩ phường này như [ phường khác.

    Đồ hủ, đồ gàn, chừng đó bướng, đừng tưởng đồ nọ với [ đồ kia.

    253. — GÁI KHÁN-XUÂN — GIAI ĐÌNH-BẢNG.

    Gái Khán-xuân, xuân xanh tuổi mười ba, khép cửa phòng xuân [ còn đợi nguyệt.

    Giai Đình-bảng, bảng vàng treo đệ nhất, chờ khi chiếm bảng [ trúng khôi khoa.

    — 258 —

    Vế trên là của nàng Xuân-Hương họ Hồ quán tại làng Khán-xuân ra. — Vế dưới, người ta bảo là của một ông đồ tên là Đồ Bút (?) làng Đình-bảng đối lại.

    Làng Khán-xuân xưa thuộc về Huyện Thọ-xương Hà-nội, bây giờ thuộc về huyện Hoàn-long, Hà-đông. — Làng Đình-bảng hiện thuộc về phủ Từ-sơn tỉnh Bắc-ninh.

    254. — THÔI CHẲNG NÊN — AI CHẲNG BIẾT

    Thôi chẳng nên « cõng rắn cắn gà nhà », phong lưu dượng Tám, phú quý dì Tư, mây nổi đã từng qua [ trước mắt.

    Ai chẳng biết « hò voi bắn súng sậy », quyền thế bà Banh, thơ từ ông Húng, gió đưa này những gác [ ngoài tai.

    255. — BÉ CHẲNG VIN — CON HƠN CHA.

    Bé chẳng vin, cả gẫy cành, nên phải học ăn, học nói, học [ gói, học mở.

    Con hơn cha, nhà có phúc, chắc hẳn có cầu, có được, có [ ước, có thấy.

    (Câu này đâu của ông Đặng-xuân-Bảng dẫn thuần tục-ngữ, phong-dao khéo lắm.)

    — 259 —

    256. — CẤM ĐINH — CÓ BẦU

    Cấm đinh, cấm đáo, cấm pháo thăng thiên, cấm tiền xóc ống, cấm búng xa-quay, cấm xoay thò-lò, [ cấm tuốt !

    Có bầu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng, có lưng hũ rượu, [ có gì !

    257. — TUỔI MỚI — NGƯỜI HIỀN

    Tuổi mới giăng tròn, [ dan-díu chỉ.

    Người hiềm cảnh bé, [ hẹp-hòi xuân.

    Thích thực ở hai câu đầu bài phong-dao :

    « Lấy chồng từ thủa mười lăm,

    Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi…»

    (Xem sách Tục-ngữ phong-dao quyển II trang 124)

    258. — THỀM CUNG — MẢNH CHIẾU.

    Thềm cung ăn bóng, [ tên cao ngất.

    Mảnh chiếu ơn vua, [ một tiếng thùng.

    Câu này có người cho là của ông trạng Bươi (?) thích thực ở hai câu phong-dao cổ ra :

    « Cóc chết lại có mình-tinh,

    Thất nghiệp nằm đình, có trống năm canh ».

    —260 —

    259. — TRỪ NĂM — TỈNH MỘT

    Trừ năm chăm lẻ, [ vừa ngang tuổi.

    Tỉnh một cơn rồi, [ đợi sẽ hay.

    Hai câu này là thích thực ở câu phong-dao :

    « Bảy mươi lấy gái mười lăm,

    Cô nằm cô rú, cụ nằm cụ ho ».

    260. — LÚC NÃY — BÂY GIỜ

    Lúc nãy bồi hồi [ chàng muốn những.

    Bây giờ thong thả [ thiếp tha hồ.

    Hai câu này là thích thực ở bốn câu phong-dao

    «Đương cơn lửa tắt, cơm sôi… »

    (Xem sách Tục-ngữ phong-dao quyển II trang 90)

    261. — NHƯ MÁC — TẦY MO.

    Như mác cũng thua [ người vận đỏ.

    Tày mo ăn đứt [ chị môi son.

    (Hai câu này là phú đắc ở câu Tục-ngữ : «May hơn khôn, Nhờn… »

    Hết

    MỤC-LỤC

    Số câu Số trang

    Tựa 8

    Phép làm câu đối 19

    I — CÂU ĐỐI TOÀN NÔM

    Câu đối Tết

    1 Thịt mỡ — Cây nêu 27

    2 Duyên — Nợ 28

    3 Thiên hạ — Nhân tình 29

    4 Ai nấy — Ta nay 31

    5 Thiên hạ dại — Ông nay khôn 32

    6 Tối ba mươi — Sáng mồng một 33

    7 Chiều ba mươi — Sáng mồng một 35

    8 Bật cần nêu — Đùng tiếng trúc 36

    9 Bầu một chiếc — Nhà hai gian 37

    10 Lá phướn — Tiếng chuông 38

    11 Doanh quan lớn — Tiết ba mươi 39

    Câu đối mừng

    12 Đám công danh — Nhờ phúc ấm. 41

    13 Mười mấy khoa — Năm mươi tuổi. 43

    14 Trên quan — Trong họ 44

    15 Nhất cận thị — Sống ở làng 44

    16 Có tật — Đứt tay 46

    Câu đối phúng

    17 Kiếm một — Xin đôi 47

    18 Giàu làm kép — Cá kể đầu 48

    19 Mẹ sinh con — Con chở mẹ 49

    II

    20 Nghìn năm — Trăm tuổi 50

    21 Đất chẳng — Giời mà 51

    22 Nhà cửa — Công việc 53

    23 Thiếp kể từ — Chàng ở dưới 54

    24 Trước cũng tưởng — Nếu có biết 55

    25 Nhà chỉn rất — Bà đi đâu 57

    26 Mần rứa — Nhắn hỏi 59

    27 Chữ nghĩa — Rể con 61

    28 Hỡi thương ôi ! — Ờ quái nhỉ 62

    29 Giàu có — Sang không 66

    30 Vừa mới — Thế mà 67

    31 Cửa trai thiền — Đường tĩnh độ 68

    Tạp liên

    Tự thuật —Tự thán

    32 Trói chân — Rút ruột 69

    33 Ba vạn — Chín lần 70

    34 Tiền bạc — Công danh 72

    35 Chị em ơi ! — Giời đất nhỉ ! 73

    36 Chữ nghĩa — Râu ria 74

    37 Nhà dột —Học trò 75

    38 Một chiếc — Ba vòng 76

    39 Nghển cổ — Lủi đầu 78

    40 Đường thanh xuân — Sân đan trì 80

    41 Cũng may thay — Thôi quyết hẳn 82

    42 Quan chẳng quan — Già chẳng già 86

    Đề tặng

    43 In như — Đem cả 89

    44 Ra tay — Ngậm khói 90

    45 Bán giàu — Buôn trăm 91

    46 Nếp giàu — Việc nước 92

    47 Thiếp vì —Khách muốn 93

    III

    48 Ngày ngày — Cuối năm 94

    49 Giang sơn —Vân vũ 94

    50 Mở khép — Ra vào 96

    51 Hai hạp — Ba bị 97

    52 Gió đưa — Giăng nhòm 98

    53 Đất e — Núi sợ 100

    54 Gió quyến — Giăng lồng 101

    55 Mùa xuân — Mùa hạ 101

    Vịnh chơi

    56 Giơ tay — Xoạc cẳng 102

    57 Đập cổ kính — Xếp tàn y 103

    58 Trạng-nguyên — Sứ-sự 105

    59 Được thì — Ăn lấy 106

    60 Một và tuần — Ba mươi sáu 107

    61 Ông lão — Tướng sĩ 109

    Trào phúng

    62 Giời sinh — Đất nứt 110

    63 Áo đỏ — Dù xanh 111

    64 Trạng dở — Khách quen 112

    65 Nay đã — Rày thì 113

    66 Quan Huyện — …. 114

    67 Miệng kẻ sang — Đồ nhà khó 115

    68 Nước trong — Giời nóng 117

    69 Đá xanh — Ngói đỏ 118

    70 Mười rằm — Tháng chạp 119

    71 Cung kiếm — Rồng mây 120

    72 Ai công hầu — Thế chiến quốc 122

    73 Đọc ba trăm — Hay tám vạn 124

    74 Trên cây — Ngoài sân 126

    Tục-ngữ

    75 Góp nhặt — Nưng niu 127

    76 Đã chót — Quí hồ 128

    :rose::rose::rose:
  • Chia sẻ trang này