0014.01.01 Trang [001]-[012] tducchau 'lóc cóc' (done)

4/11/15
0014.01.01 Trang [001]-[012] tducchau 'lóc cóc' (done)
  • http://www.mediafire.com/view/3zn1y0kc9d9kfv1/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00001.pdf

    TỔ NGÔN NGỮ HỌC
    ỦY BAN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT-NAM

    NGHIÊN CỨU
    NGÔN NGỮ HỌC

    TẬP I

    VẤN ĐỀ GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG
    CỦA TIẾNG VIỆT

    NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
    HÀ NỘI - 1968

    Nghiên cứu ngôn ngữ học gồm những bài nghiên cứu về những vấn đề ngôn ngữ của ta, chủ yếu là về tiếng Việt. Những bài này sẽ in thành nhiều tập. Tập 1 gồm những bài nghiên cứu về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một vấn đề có tầm quan trọng lớn trong lĩnh vực ngôn ngữ của ta hiện nay.

    HOÀNG PHÊ

    VỀ VẤN ĐỀ
    GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

    "Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó..."
    Hồ Chủ Tịch

    Trước Cách mạng tháng Tám, trong lĩnh vực văn hóa, Đảng ta nêu nhiệm vụ "tranh đấu về tiếng nói" thành một "nhiệm vụ cần kíp", chủ trương "thống nhất và làm giàu thêm tiếng nói" của dân tộc (1).

    Sau Cách mạng tháng Tám, chính giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở trong giai đoạn gay go nhất, đồng chí Trường Chinh kêu gọi "gây một phong trào Việt hóa lời nói và văn chương", "kiên quyết bảo vệ tiếng mẹ đẻ" (2). Và gần đây, giữa lúc tiếng súng chống Mĩ cứu nước đang nổ rền khắp Nam, Bắc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhắc mọi người phải "giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta", vì "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt tức là góp phần chống Mĩ cứu nước trên mặt trận văn hóa" (1).

    Như vậy, "bảo vệ tiếng mẹ đẻ", "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" là một công tác không thể thiếu được trong toàn bộ công tác cách mạng của chúng ta. Dù những khi phải tập trung sức lực chống ngoại xâm, như trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và trong chống Mĩ cứu nước hiện nay, cũng không một lúc nào chúng ta chểnh mảng việc đó.

    Theo đường lối nói trên của Đảng, những người nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta cũng nhận thức rằng: "Bảo vệ tính chất trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó mỗi ngày một giàu đẹp, chính xác thêm, đó là nhiệm vụ của tất cả mọi người dân Việt-nam, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học, nhà văn, nhà báo" (2) và trong mấy năm nay rải rác đã có không ít bài nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (3).

    Từ đầu năm 1966, sau bài phát biểu về "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" của Thủ tướng Phạm văn Đồng, vấn đề càng được chú ý hơn, và không chỉ trong giới ngôn ngữ học. Nhiều người, trong đó có những nhà văn, nhà báo đã nói những suy nghĩ và những băn khoăn của mình về vấn đề này (1).

    Cách mạng tháng Tám mở ra một giai đoạn phát triển mới của tiếng Việt: giai đoạn nó được nâng lên địa vị ngôn ngữ nhà nước của một dân tộc độc lập, tự do, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, phạm vi sử dụng của tiếng Việt được mở rộng một cách không hạn chế. Ngày nay, đông đảo nhân dân ta dùng tiếng Việt hàng ngày trong những lĩnh vực hoạt động, chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, nghệ thuật, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ đối với mình. Do đó mà cũng không khỏi nảy sinh hiện tượng khá phổ biến là nói, viết không được tốt, ảnh hưởng đến sự trong sáng, sự phát triển lành mạnh của ngôn ngữ. Mọi người đều thấy cần chống những hiện tượng ấy.

    Nhưng đi cụ thể, đi sâu hơn nữa thì nảy ra những vấn đề. Trước hết, có vấn đề đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, "trong việc dùng từ và đặt câu... điều then chốt là phải phân rõ cái đúng với cái sai, cái làm giàu đẹp thêm tiếng Việt với cái "làm hư" tiếng Việt... Nhưng ai cũng thấy việc ấy không phải dễ" (1). Thật vậy, trong ngôn ngữ, thế nào là đúng, sai, tốt, không tốt? Có nhiều trường hợp rõ ràng, nhưng cũng có những trường hợp không rõ ràng, nhưng cũng có những trường hợp không rõ ràng. Thế nào là sự trong sáng của tiếng Việt là một câu hỏi không dễ trả lời, và đúng là "có nhiều quan niệm trong sáng khác nhau, do đó có nhiều cách đánh giá khác nhau" (2). Vậy nên quan niệm thế nào để khi giải quyết vấn đề ngôn ngữ tránh được sai lầm của chủ nghĩa chủ quan, tránh được "cái tình trạng chỉ dựa vào cảm tính" (4), mà không dựa vào sự nghiên cứu khoa học?

    Như vậy, có nhiều vấn đề, mà chung qui là: nên hiểu thế nào là "giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt"? Thế nào là "trong sáng", thế nào là "giữ gìn"? Rõ ràng là cần phải nghiên cứu cơ sở lí luận, nội dung, phương hướng của việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ chúng ta.

    Vấn đề rất lớn và phức tạp. Dưới đây chỉ xin trình bày một số suy nghĩ bước đầu và chưa phải toàn diện.

    *
    **

    Đề ra việc giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ tức là thừa nhận rằng trong ngôn ngữ có cái "đúng" và có cái "sai", cái "tốt" và cái "không tốt", và thừa nhận con người có thể tác động một cách tự giác và tích cực đến sự phát triển của ngôn ngữ. Thừa nhận như vậy có cơ sở hay không? Câu hỏi này nhiều người có thể cho là thừa. Nhưng đây chính là một vấn đề quan điểm cơ bản, và trong ngôn ngữ học hiện đại, không phải là không có những ý kiến khác nhau rất nhiều.

    Cho nên cũng cần khẳng định rõ ràng quan điểm của chúng ta. Đó đây, có những nhà ngôn ngữ học cho rằng một "nguyên tắc cơ bản" là "trong ngôn ngữ không có cái gọi là tốt và xấu (hay là đúng và sai, hợp ngữ pháp hay không hợp ngữ pháp)", và nếu nghĩ rằng trong ngôn ngữ có cái đúng, cái sai, thì đó là một quan niệm "không những không đúng đắn, sai lầm và vô ich, mà còn là hết sức có hại" (1). Quan niệm này chỉ là "sản phẩm phụ của những địa vị xã hội nào đó". Cho nên nhà ngôn ngữ học "quan sát tất cả các hình thức ngôn ngữ một cách vô tư và sẽ không đứng về phía nào cả", bởi vì ngôn ngữ học là khoa học, mà nói khoa học tức là dựa trên sự quan sát hiện tượng và không đề nghị một sự lựa chọn nào hết", cũng tức là hoàn toàn không can thiệp vào sự phát triển của sự vật. Quan điểm trên đây từ mấy chục năm nay là quan điểm phổ biến trong giới ngôn ngữ các nước tư bản. Nó đã nảy sinh trong hoàn cảnh có sự phản ứng chống lại việc dạy ngôn ngữ ở nhà trường theo lối kinh viện chủ nghĩa, tách rời ngôn ngữ sinh động của nhân dân, chống thái độ bảo thủ, hẹp hòi, "thuần túy chủ nghĩa" trước những hiện tượng mới trong ngôn ngữ, chống chủ nghĩa chủ quan trong việc đánh giá và nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ. Nhưng nếu chống chủ nghĩa chủ quan mà lại rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, thì vẫn là sai lầm. Không thể vì phản đối sự đánh giá chủ quan đối với các hiện tượng ngôn ngữ mà phủ nhận mọi sự đánh giá. Sự thật là trong hoạt động ngôn ngữ, mỗi người nói riêng và xã hội nói chung, dù tự giác hay không, đều có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, phân biệt giữa đúng và sai, tốt và không tốt. Ngay cho rằng trong ngôn ngữ không có cái đúng và cái sai cũng đã là một sự đánh giá rồi, đánh giá rằng cái gì cũng "được", cũng đúng, không có cái gì là "sai" cả. Vì có đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, nên mới có sự lực chọn cách diễn đạt và có sự sáng tạo trong lời nói, mới có thái độ khác nhau đối với những hiện tượng mới trong ngôn ngữ. Một hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng được chấp thuận hay không, được giữ lại và củng cố, hay bị bỏ đi, hoặc bị thay thế là thông qua sự đánh giá của xã hội.

    Trong những vấn đề ngôn ngữ cũng vậy, nếu vin vào lẽ cần phải khách quan, mà đi đến thái độ khách quan chủ nghĩa thì là hoàn toàn sai lầm. Không thể coi "ngôn ngữ là một hệ thống chỉ biết có trật tự của bản thân nó" (1). Không thể "để mặc ngôn ngữ", như có người đã nêu thành một đường lối, đề tên như vậy cho một quyển sách của mình (1). Có lúc người ta quên cái chân lí đơn giản sau đây: chính con người tạo ra và sử dụng, thì cũng chính con người phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ. Xã hội và khoa học phát triển, thì tác dụng của con người đối với cái sản phẩm ấy của mình cũng từ không tự giác dần dần trở thành tự giác, và ngày càng tự giác hơn, tích cực hơn. Cho nên nghiên cứu về ngôn ngữ thì phải biết đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, tuyên truyền cho một sự đánh giá đúng đắn, hướng dẫn sự đánh giá của xã hội, đứng về phía những hiện tượng tích cực mà đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực. Như có người đã nói: "Những nhà ngôn ngữ học phải là những người thực tiễn; không những chỉ sưu tầm các từ ngữ, mà còn phải can thiệp vào quá trình phát triển của ngôn ngữ; phải giải thích quá trình ấy, đoán trước chiều hướng phát triển, đấu tranh dũng cảm cho cái mới. Nói chung, phải nắm lấy ngôn ngữ!" (2) Đó thật ra là điều mà Mác và Enghen đã nói từ lâu: "Lẽ dĩ nhiên, đến lúc nào đó, con người sẽ hoàn toàn kiểm soát cả cái sản phẩm ấy" (chỉ ngôn ngữ) (3).

    Như vậy, vấn đề không phải là nên hay không nên đánh giá, mà là nên đánh giá như thế nào. Đây đúng là vấn đề mấu chốt, mà cũng là vấn đề khó khăn nhất. Trước cùng một hiện tượng ngôn ngữ, sự đánh giá có khi không nhất trí: có người cho là đúng, tốt, hoặc ít nhất là “được”; có người cho là sai, không tốt, « không được». Có những cách nói tương đối phổ biến, nhưng lại bị một số người không phải ít phản đối. Đúng, sai như thế nào, lắm lúc làm chúng ta rất phân vân. Sự đánh giá không nhất trí, vì thường dựa trên những căn cứ khác nhau. Nó chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâmlý, văn hóa. xã hội phức tạp, và không phải lúc nào cũng dựa trên những hiểu biết về ngôn ngữ. Cókhi sựđánh giá chỉ dựa trên những “thị hiếu” ngôn ngữ cá nhân, hoàn toàn chủ quan, Chúng ta thường thích một cách nói này hơnmột cách nói khác, nhưng hỏi lý do tại sao thì lắm khi rất khó trả lời. Ai cũng ít nhiềuquan tâm đến ngônngữ, “nhưng kết quả kì cục… là trong lĩnh vực này, hơn ở đâu hết, nảy sinh những ý nghĩ vô lí, những định kiến, tưởng tượng, ảo tưởng… Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học trước hết là vạch ra và làm tan những cái đó…” (1). Đúng như vậy. Nhưng vạch ra và làm tan các thứ định kiến là nhằm để đi đến xây dựng một sự đánh giá khách quan hơn, dựa nhiều hơn trên những hiểu biết về ngôn ngữ,về qui luật, yêu cầu, điều kiện, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời kì mà ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, không những cần đánh giá đúng đắn rất nhiều hiện tượng ngôn ngữ mới, mà lắm khi còn cần “đánh giá lại” nhiều hiện tượng ngôn ngữ cũ nữa.

    Nên căn cứ vào đâu để đánh giá những hiện tượng ngôn ngữ, và trước hết là để phân rõ đúng và sai?

    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong lô-gich: hình như cái gì "hợp lí" là đúng. Nhưng thế nào gọi là "hợp lí" trong ngôn ngữ? Ngôn ngữ có cái "lí" riêng của nó, không đơn giản, khác cái lí thông thường. Trong tiếng Việt, nói mười một nhưng lại không thể nói "hai mười một", "ba mười một", mà lại phải nói hai mươi mốt, ba mươi mốt. Bất, vô đều có nghĩa phủ định: bất ngờ, bất công, vô lễ, vô cớ,..v..v, nhưng bất thình lình lại nghĩa như thình lình, còn vô khối lại nghĩa như khối (còn vô khối = còn khối). Cùng là chạy nhưng trong chạy giặt, chạy nạn thì lại có nghĩa là chạy để tránh, mà trong chạy gạo, chạy thầy thì lại có nghĩa là chạy để tìm! Chỉ dựa trên cái lí thông thường, làm sao xác định được cái đúng, cái sai ở đây?
    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng ở trong dĩ vãng, trong sách. Trước kia, ngày xưa, nói như vậy, hiểu như vậy, thì bây giờ cũng phải nói vậy, hiểu như vậy mới là đúng, khác đi là sai. Hình như nghĩa theo gốc, theo từ nguyên mới là nghĩa "đúng" nhất của một từ. Nhưng ngôn ngữ đâu có đứng nguyên một chỗ, nó phát triển không ngừng. Tiếng Việt ngày nay không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Du, càng không thể giống tiếng Việt thời Nguyễn Trãi. Nếu hiểu theo thời Nguyễn Trãi thì ngặt, phải có nghĩa là "nghèo":
    Quân tử hay lăm bền chí cũ,
    Chẳng âu ngặt chẳng âu già (1) (Nguyễn Trãi: Quốc âm thi tập, Hà-nội, 1956, tr,39.)
    Còn nghèo thì lại có nghĩa là "nguy, khốn, ngặt":
    Khi bão mới hay là cỏ cứng,
    Thuở nghèo thì biết có tôi lành (2) (Như trên, tr.119)

    Đểu và cáng ngày xưa chỉ những hạng người lao động. Theo quan điểm của chúng ta ngay nay thì chẳng có gì đáng khinh. Nhưng từ lâu rồi "đểu cáng" đâu còn cáo nữa cái nghĩa phu gánh thuê và phu cáng, như Việt-nam tự điển của Hội Khai trí tiến đức đã giải thích? Trong ngôn ngữ, cái quá khứ chỉ có thể giúp chúng ta hiểu rõ thêm cái hiện tại, chứ không xác định được cái hiện tại. Enghen đã từng nói rằng phải hiểu một từ "theo cái nghĩa mà nó đã có trong quá trình phát triển lịch sử của việc sử dụng nó trong thực tế", chứ không thể hiểu " theo cái nghĩa mà đáng lẽ nó phải có theo nguồn gốc từ nguyên của nó" (1) (F.Enghen: Lutvich Fơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (C, Mác - F, Enghen: Tuyển tập, tập II, Hà-nội, 1962, tr.616. Chúng tôi có dịch và chữa lại một đôi chỗ - H.P.)

    Có khi chúng ta đi tìm căn cứ của cái đúng trong một ngôn ngữ nước ngoài. Có người dựa theo ngữ pháp của một tiếng nước ngoài để phân tích, đánh giá một câu của tiếng Việt: đó là một sai lầm ấu trĩ. Nhưng nếu với những từ mượn, mà dựa theo "từ nguồn gốc" trong tiếng nước ngoài để xác định âm và nghĩa của nó thì sao? Có người cho rằng 'có nhiều chữ Hán, tục đọc sai lầm như huyền đọc ảo..., thống kế đọc thống kê , ủy mĩ đọc ủy mị...nay... [cần phải] cố gắng sửa lại" (2) (Hoàng Thúc Trâm: Hán - Việt tân từ điển, Sài-gòn, 1951, Phàm lệ, tr.14). Và người ta cho rằng nói thống kê, thông qua, ảo tưởng, trú ngụ là "sai", phải thống kế, thông quá, huyền tưởng, trụ ngụ mới "đúng"! Sự máy móc dựa vào tiếng Hán đã làm đảo ngược đúng, sai thực tế trong tiếng Việt. Sự thật là khi chúng ta mượn một từ của tiếng nước ngoài, thì với một ý nghĩa nào đó, chúng ta đã "tạo" ra một từ ...[Done]
teacher.anh thích bài này.