0059.010 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.010 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • Link PDF
    Link Google Docs

    Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Trước kia vua Chân Lạp là Chăn dâng biểu xin đến cửa quyết chầu hầu. Vua cho 150 người quan phiên đi theo. Chăn đến Gia Định thì xưng có bệnh. Vua biết tình ý, xuống chiếu khiến cho về nước. Chăn bèn tâu sai bọn ốc Nha Chiết Luyện, Phì Mục, Mân Tri Mạt đến Kinh dâng lễ tiến hương và lễ khánh hạ. Vua y cho. (Lễ tiến hương : Sáp ong 500 cân, vải trắng 300 tấm. Lễ khánh hạ : Bạch đậu khấu, cánh kiến, sáp ong, mỗi thứ 55 cân, ngà voi 2 đôi, sừng tê 2 cỗ, (sơn 10 vò). Khi đến, vua cho vào yết kiến, yên ủi hỏi han. Sai chế khăn áo vải trắng cấp cho. Nhân lễ điện lớn, làm lễ tiến hương, lễ xong, cho rất hậu rồi bảo về. (Lệ thưởng vua Chân Lạp gấm Tống 10 cây, trừu nam, sa nam, lụa bắc mỗi thứ 20 tấm, vải đen, vải trắng mỗi thứ 40 tấm. Thưởng thêm 2 cây thiểm kim (vàng nhấp nhánh) và 2 cây gián kim (lẫn vàng), 2 tấm đoạn lông mầu đỏ, 4 tấm đoạn lông màu lam. Lệ thưởng sứ Chân Lạp, hai người ốc Nha, mỗi người 30 lạng bạc và 10 quan tiền, thông ngôn 10 lạng bạc và 5 quan tiền, quân đi theo mỗi người 2 lạng bạc và 2 quan tiền. Thưởng thêm cho Chánh sứ 1 bộ đồ chè bịt vàng, 3 tấm trừu hoa, 1 tấm lụa, cho Phó sứ 1 bộ đồ chè bịt bạc, 2 tấm trừu nam hoa, 1 tấm lụa ; cho thông ngôn trừu nam hoa, lĩnh nam đen, mỗi thứ 1 tấm. Lại ân tứ cho hai người sứ thần hai cái áo chiến hai lớp bằng trừu màu lam, hai cái áo ngắn hẹp tay bằng trừu lam lót lụa, hai bức chăn trừu lam lót lụa, hai cái áo tràng vạt bằng vải trắng, hai bức khăn vải trắng ; cho thông ngôn một cái áo chiến bằng sa xanh lót vải, một cái áo ngắn hẹp tay bằng sa tanh lót lụa ; cho 7 người đi theo mỗi người một cái áo chiến bằng vải xanh lót vải trắng).

    Lại gửi cho Phiên vương tờ sắc thư rằng : “Quốc vương Chân Lạp Chăn, nhà ngươi đời làm thần thuộc, kính giữ chức cống, sợ mệnh trời thờ nước lớn, một niềm kính thuận, cho nên khi trẫm mới lên ngôi, vương sai sứ đến lạy chầu ngay. Xét lòng thành thực ấy, thật là đáng khen, và gia thưởng các vật gấm đoạn. Vương được nhờ vinh quang ấy, phải kính sợ thêm, vỗ yên quan dân của ngươi, để cho vững mạnh phên giậu của ta mà giữ tiếng hay, chớ bỏ mệnh lệnh của trẫm”.

    Vua bảo bọn Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Hữu Thận rằng : “Năm nay dịch lệ phát ra từ Hà Tiên, lan tới Bắc Hà, trước kia chưa có thế. May nhờ dân Nam Hà đã được thấm nhuần ơn nhân nghĩa của các thánh trước, cho nên phong tục thuần tốt, gặp tai nạn mà biến loạn không nổi. Dân Bắc Hà thấm nhuần đức hoá còn cạn, nay gặp tai vạ ấy, chưa biết tình trạng dân ngu xuẩn ra thế nào. Trẫm sớm đêm lo lắng, không thể thôi được, nên ngày gần đây xuống chiếu cầu lời nói thẳng, mà các khanh tuyệt không có một lời nào là tại làm sao ?”. Bọn Hoài Đức không thể đáp được. Nhân dụ từ Nghệ An ra Bắc chỉnh bị đồn trát cho nghiêm và thao diễn quân lính, để phòng xảy ra sự không ngờ.

    Nguyễn Văn Trí và Nguyễn Văn Thuỵ đánh phá được sư Kế ở Nam Vang. Đầu là Kế đem hơn 30 chiếc binh thuyền tiến bức thành Nam Vang. Phiên vương muốn bỏ thành chạy. Vừa bọn Trí đến Châu Đốc, kịp chọn thuyền nhẹ mà tiến. Khi đến thành thì quân giặc đã qua đò sang Cổ Nha Chăn (tên đất) cách thành chỉ hơn 10 dặm. Trí tiến trước, Thuỵ tiếp ứng sau. Quan phiên là Chiêu Chuỳ Đồng Phù đem quân đi theo. Gặp giặc ở Ỷ Hôn (tên đất), đánh phá được, chém giết rất nhiều. Bắt được 2 vị bôn (tên quan Chân Lạp) hàng theo giặc. Kế và bọn Tham Đích Tây đều chạy trốn. Quan quân đuổi theo, bắt chém hơn 400 người.

    Quân của bọn Phan Công Nghĩa đóng ở Liêu Hiêu nghe giặc ở Bà Nam chiếm giữ chỗ hiểm, sai Quản đạo Tân Châu là Vũ Văn Sáng dẫn quân tiến lên, Sáng đánh thua, bị giặc giết chết. Nghĩa cùng bọn Lê Kim Nhượng, Nguyễn Văn Tuyết kế đến, giặc bèn lui chạy. Đuổi theo tới Khu Trung, đánh phá được, lấy được đồ quân nhu khí giới. Đảng giặc nhiều người hàng. (Liêu Hiêu, Bà Nam, Khu Trung đều là tên đất).

    Ở Biên Hoà mưa lụt. Ruộng nương nhà cửa của dân đều ngập mất. Lê Văn Duyệt theo tiện nghi phát gạo kho 1.000 phương để chẩn cấp cho người đói. Vua nghe việc ấy, ra lệnh phát thêm 200 quan tiền và muối gạo, chia ra để chẩn cấp.

    Vua nghe rằng những lại dịch từ Quảng Trị trở ra ngoài phần nhiều bớt xén tiền tuất, dụ rằng : “Gần đây lệ khí tràn lan, dân mắc hoạn nạn. Trẫm thương xót, nghĩ cách giữ yên cứu giúp, mới ra lệnh cho Hữu ty cấp cho thuốc thang tiền vải, đó là muốn cho dân ta người sống người chết đều được nhờ ơn. Các ngươi là quan lớn ở địa phương, được ký thác chăn dân, nên coi dân bị tai nạn như con, để lòng vỗ về cứu giúp, chớ để tư lại, tổng lý bám víu vào để làm gian, như thế mới vừa ý trẫm”.

    Lấy Chưởng cơ Trần Văn Thái thự Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách, lĩnh Trấn thủ Sơn Tây. Vua dụ rằng : “Việc quân việc dân, khanh đã từng trải ; nay vào lúc tuổi già, coi giữ địa phương, nên lo vì nước hết trung, để đền đáp ơn hậu đãi”. Thái cúi đầu tạ, nhân xin lấy bộ khúc 14 người đi theo. Vua y cho.

    Lấy Vệ uý Hậu nhất quân Thị trung là Văn Nguyên làm Vệ uý Thành võ quân Thị nội, Cai đội Phạm Văn Sỹ làm Phó vệ uý Hùng cự nhất thuộc Tượng quân, Hoàng Văn Trường làm Phó vệ uý vệ Hùng cự nhị.

    Cho thêm hoàng tử, hoàng nữ tiền gạo hằng năm theo thứ bậc.

    Cho người Thanh là bọn Lê Thắng Lợi về nước. Trước đây Thắng Lợi nhân đi việc công bị gió dạt đến cửa biển Nhật Lệ, vua thương, ra lệnh cho dinh Quảng Bình gia cấp tiền tuất mỗi người 10 quan. Đến nay cho về.

    Phú Yên bị lụt, giá gạo cao. Sai bán thóc ra. Trấn thần tâu nói dân nghèo khổ lắm, xin cho vay. Vua y cho.

    Ngày Bính tý, dựng điện Phước Thọ.

    Định lệ quan văn quan võ chuyên cử người. Dụ rằng : “Tiến người hiền thì được thưởng, tiến người không hiền thì phải phạt, đó là phép thường của nước. Nay cả đình thần cùng cử một người đều ký tên tâu xin, nếu người ấy không xứng chức, thì lỗi quy cho ai ? Phàm người ta cho nhau là vì cùng loài, tài hạnh của văn thần thì võ thần khó biết, trí năng của võ thần thì văn thần cũng không dễ biết. Nếu người xướng cử mà tư vị, hoặc là không biết rõ mà cứ theo người ta đề cử thì há chẳng vì thế mà sai lầm sao ? Từ nay về sau, việc đình cử, văn giai thì do văn thần cử, võ giai thì do võ thần cử. Người chuyên cử chua tên rồi sau mới hội sớ tâu lên, không được hùa theo, để ngăn cái tệ cầu may và quá lạm”.

    Lại sai bàn định phép chọn cất, một là làm việc lâu năm hạn bổng đã mãn, hai là tài nghệ có thể lấy được. Văn mà tham tang, võ mà sợ giặc, thì người cử phải tội.

    Lấy Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng làm thự Tham tri Hộ bộ, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Bá Nhân làm Ký lục Quảng Đức. Rồi Hưng lấy cớ sửa sang phần mộ, dâng biểu xin về. Vua quở trách rằng : “Nghĩa làm tôi, làm việc công phải quên việc riêng, làm việc nước phải quên việc nhà. Nay ngươi mới được cất nhắc, vội vã xin về, vậy không lo việc công sao ?”. Không cho về.

    Triệu Phó quản cơ cơ Trung oai thuộc Hậu quân là Đỗ Văn Niệm về Kinh. Niệm giỏi võ nghệ, vua nghe tiếng, cho nên triệu về sai dạy cấm binh.

    Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi”.

    Sai đình thần hội bàn. Đều nói : “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét là tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi.

    Lấy Tri bạ Nguyễn Công Liêu làm Thiêm sự Công bộ.

    Hạ lệnh cho Vũ Viết Bảo, phàm các Nội hầu, Tiểu sai, Thị trà, nếu có sai khiến việc gì thì làm danh sách liệt tên dâng lên để đợi kén chọn. Dụ rằng : “Gần đây bọn ấy vâng lệnh sai đi, phần nhiều là lấy yêu ghét mà khen chê, hỏi tới tình trạng quan lại và nhân dân, đều không biết gì cả, vậy thì việc đi hỏi han giao cho bọn ấy sao được ! Từ nay về sau nên cẩn thận chọn người mà sai đi mới được”.

    Sai từ Nghệ An trở ra dùng kẽm đúc tiền. Lại định lệnh cấm đúc trộm tiền. Đầu là vua sắc hỏi Lê Văn Phong rằng : “Tiền kẽm mới đúc dùng ở Bắc Thành thế nào ?” Phong tâu nói : “Dùng thì tiện, chỉ sợ có tệ đúc trộm thôi”. Vua cho là phải, dụ rằng : “Đúc tiền là để lợi cho việc dùng của dân. Nhà nước mới đúc tiền kẽm, từ Quảng Bình vào Nam, đều đã tiêu dùng. Duy từ Nghệ An ra Bắc vẫn dùng tiền đồng cũ, từ trước đến nay, ngày càng hao bớt, dân dùng không đủ. Vậy đặc chuẩn từ nay về sau, kho tàng xuất thu, dân gian mua bán, đều dùng kẽm tiền “Gia Long thông bảo” và “Minh Mệnh thông bảo” để cho cái lợi tiền tệ đến khắp mọi nơi”.

    Lại chuẩn định điều cấm. Phàm ở dân thu nộp, ở chợ phố mua bán đổi chác, tiền mới tiền cũ đều dùng cả, không được chọn bỏ. Ai dám đúc trộm thì phải tội giảo giam hậu, tịch thu gia sản. Người tố cáo được thưởng bạc 50 lạng. Người chở trộm và mua bán trộm kẽm thì xử 60 trượng, đồ 1 năm, thuyền và hàng hoá, một thu vào nhà nước, lại lấy 3 phần 10 tang vật thưởng cho người tố cáo. Các quan phủ huyện và đồn thủ không kiểm soát được thì xử tội thất sát. Biết tình mà cố ý dung túng thì đồng tội với người phạm. Những người ở trường đúc cục Bảo tuyền và Đồ gia Bắc Thành, có ai mang khối kẽm đúc tiền ra ngoài thì theo luật lấy trộm tiền lương ở kho, tính tang vật xử tội.

    Miễn lệ Bắc Thành dâng tiến cam đường. (Lệ trước khi cam đường chín, cứ 15 ngày do trạm tiến một lần, đến nay bãi đi. Duy lễ hưởng ở các miếu thì lấy dâng như lệ cũ).

    Thái thường Tự khanh là Nguyễn Xuân Tình chết. Tình trước từ Hàn lâm thiên dần lên Thiêm sự Lại bộ, Ký lục Quảng Nam, đi sứ Trung Quốc về, cất làm Tự khanh, tham biện việc Lễ bộ, làm quan trước sau tự giữ tiết trong sạch, đến nay chết, vua tiếc lắm, cho tiền tuất theo lệ Tham tri. Than rằng : “Những người trẫm mới cất lên, theo nhau mà chết, vậy còn cùng với ai mà trị nước ?”.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng. Sai Kiến An công là Đài, ứng Hoà công là Đán, Thái Bình công là Kính tế thay.

    Lấy Phó vệ uý vệ Trung nhất quân Thị trung là Lê Văn Quý làm Vệ uý vệ Hậu nhất, Vệ uý vệ Tả bảo nhị thuộc Tả quân là Lê Văn Từ làm Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong quân Thị nội, Khâm sai cai cơ vệ Túc oai quân Thần sách là Trương Công Tồn làm Phó vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Thị trung Trần Văn Trí làm Phó vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung, Phó quản cơ cơ Trung oai thuộc Hậu quân là Đỗ Văn Niệm làm Phó vệ uý Tả vệ dinh Long võ quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Thị tượng tam quân Thị nội là Nguyễn Văn Trì làm Vệ uý vệ Hùng cự nhất thuộc Tượng quân, Quản cơ cơ Thị tượng ở Thanh Hoa là Hồ Văn Đa làm Phó vệ uý vệ Thị tượng tam, Cai đội Lê Văn Phú0c làm Phó vệ uý Hữu vệ dinh Long võ quân Thị nội.

    Lấy Cai án Thị nội là Phan Văn Nguyên làm Thiêm sự Công bộ, tham biện công việc Vũ Khố.

    Bọn ác man ở Quảng Ngãi lẻn xuống bảo Khu Linh giết cướp dân Hán (Việt). Trấn thủ Nguyễn Văn Hưng đem quân đuổi theo không kịp. Vua sai lấy Vệ uý vệ Nghiêm uy là Lê Viết Quý đem lính Kinh hội đánh. Khi đến thì bọn ác man đã trả lại những dân bị bắt, lính kinh không đánh mà trở về.

    Cho các đội Tư thiện, Trung cần tiền gạo lương hằng tháng (Hai đội Tư thiện nhất, nhị mỗi đội mỗi tháng tiền 10 quan, gạo 25 phương ; đội Tư thiện tam mỗi tháng tiền 10 quan, gạo 30 phương ; các đội Trung cần nhất, nhị, mỗi đội mỗi tháng gạo 50 phương).

    Lấy Tri bạ cơ Kiên thuận là Nguyễn Ngọc Châu làm Tri bạ phủ Tôn nhân, theo Tôn Thất Dịch coi giữ sổ sách phủ Tôn nhân.

    Diễn trận voi. Thưởng cho ba vệ Thị tượng 100 quan tiền.

    Cung Từ Thọ làm xong.

    Ngày Tân mão, rước Hoàng mẫu về ở cung mới. (Trước một ngày vua kính cáo ở điện Hoàng Nhân ; đến ngày rước loan giá Hoàng mẫu từ cửa Hưng Khánh đi ra. Cung tần trong đại nội và các mệnh phụ theo hầu từ cửa Tiên Thọ đi vào. Vua đem bầy tôi xin làm lễ mừng. Hoàng mẫu dụ cho miễn). Tiến tiền kẽm mới đúc 30.000 quan.

    Cho bọn Trần Hưng Chính 8 người họ Trần ăn lương theo thứ bậc.

    Lấy Cai đội tuần thành là Đặng Đức Ân làm Quản thủ ba nguồn An Đại, An Náu, Cẩm Lý (ba nguồn thuộc tỉnh Quảng Bình).

    Nguyễn Văn Trí đánh phá được sư Kế ở Ba Tầm Lai (tên đất, ở phủ Thời Thu). Trước kia, trong trận ỷ Hôn, Kế cùng bọn Tham Đích Tây chạy đến Lạng Khoan (tên đất) chẹn chỗ hiểm để giữ. Quan phiên là Bông Sa Sô Phì đánh không được. Quan quân đến Xuy Sóc (tên đất), vì có khe lớn ngăn trước mặt, không thể tiến được. Trí giả cách rút quân về Long Sô (tên đất). Giặc nghe thấy, lại dẫn quân ra. Trí ra lệnh cho quân sĩ đương đêm ngậm tăm theo bốn đường đều tiến đến Ba Tầm Lai, phía trước phía sau cùng đánh hăng, phá vỡ được, chém được sư Kế. Đầu hàng vài trăm người. Bọn Tham Đích Tây đều trốn cả.

    Tin thắng trận tâu lên, vua mừng bảo bầy tôi rằng : “Giặc tăng kia gây loạn, dần dà gần tới Nam Vang, may Lê Văn Duyệt vừa đến, sai tướng dẹp tắt. Nếu không thì Nam Vang thất thủ, hỏng nát phên giậu của ta, sẽ không lợi cho thành Gia Định”.

    Lê Chất tâu rằng : “Tên giặc tăng ấy cũng là địch mạnh, trước đây Lê Văn Duyệt sợ phiền bệ hạ lo nghĩ nên không dám giương to lên đấy thôi”.

    Vua nói rằng : “Năm trước sơn man ở Quảng Ngãi lấn cướp, Duyệt đem quân đi đánh, vài tháng mà dẹp yên. Nay việc giặc tăng lại khó hơn việc sơn man ở Quảng Ngãi”. Bèn xuống chiếu khen ngợi. Sai lấy tiền 10.000 quan thưởng cho tướng sĩ.

    Quốc vương Chân Lạp là Chăn lấy cớ có những quan phiên giao thông với sư Kế làm loạn, mà không hay ngăn được, chịu đến Gia Định xin chịu tội. Vua sai sứ mang chiếu đến yên ủi, dụ rằng : “Nước phiên mới dẹp yên, người ta còn mang lòng ngóng trông thì làm thế nào được. Trẫm đã xét biết tình hình ấy, nên không bắt tội. Quan phiên, trừ Tham Đích Tây và Kế Luyện Na Công pháp luật không thể tha được, còn những người khác đền là tôi tớ thuộc quốc của triều đình, đáng bao dung hết, bất tất phải mang lòng ngờ vực sợ hãi làm gì. Phải nên càng kính thuận thêm, nhóm họp nhân dân nước ngươi, sửa lễ chức cống của ngươi, để xứng ý yêu thương gây dựng của trẫm”.

    Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông xét đệ án về tội cùng đánh giết người. án ấy sai về xuất nhập tội người. Vua dụ bộ Hình rằng : “Cùng mưu cùng đánh, luật có điều mục rõ ràng. Nếu đánh loạn không biết ai trước sau nặng nhẹ thì lấy kẻ mưu trước làm thủ phạm, còn người khác làm tòng phạm. Nay án ấy chứng cớ không phù, cưỡng kéo cho hợp, khiến kẻ mưu trước được lọt lưới mà người khác lại mắc tội nặng, xét hỏi việc hình nên như thế nào ? Nhưng vì ta mới lên ngôi, nên hãy rộng tha tội cho. Từ nay về sau, nếu quan xét xử chiếu luật không tường, khép tội không đúng, thì trị theo luật”.

    Tha tù tội tử ở Gia Định. Lê Văn Duyệt dâng sớ nói : “Trong thành hạt có hơn trăm tù tội tử đáng được ở lệ ân chiếu khoan giảm. Vả gần đây lại có kẻ quan lại không tốt, hút máu mủ dân, hoặc có kẻ ngặt vì đói rét, nên sa vào tội lỗi, trong số ấy có kẻ tạp phạm theo trộm cướp, tình trạng có chỗ đáng thương, xin rộng tha cho, để rộng đức hiếu sinh”. Vua lấy làm phải, sai đánh trượng rồi tha cho hơn 90 người. Duy kẻ cướp giết người vẫn đợi đến kỳ xét án mùa thu.

    Triệu Quản đạo Thanh Bình là Phan Văn Thuý về Kinh ; lấy Vệ uý vệ Tuyển phong hữu Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Tạo thay.

    Thự Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Tường Vân chết.

    Tường Vân ở Bắc Thành bệnh nặng có di biểu rằng : “Thần, học kém tài hèn, tính lại thô lỗ, duy theo làm việc lâu ngày, nên Tiên đế xét thấy ngu đần chất phác, tha tội lỗi cho, mới có ngày nay. Trước đây vâng chiếu đi duyệt tuyển ở Bắc Thành, bỗng bị ốm, vì cớ còn có mẹ già dựa cửa, cho nên cố gượng cơm ăn thuốc uống, mong làm xong công việc để kịp sớm về thăm. Thế mà bệnh ngày tăng lên, hạn chết không kéo lại được, đấy là tội thần nhiều vậy. Nhưng lòng thành nhỏ mọn, không thể tự thôi được. Xin bệ hạ thường giữ đức tốt, sau trước như nhau, khiến cho tốt đẹp sánh với Thành Chu ngày trươc. Đến như việc nước Xiêm La, nếu có lỗi nhỏ cũng bỏ qua mà cùng nhau làm đạo lớn((1) Cùng làm đạo lớn : Kinh Lễ có câu rằng : “Đại đạo chi hành, thiên hạ vi công”.1), thì không những là báo nghĩa Tiên đế dừng chân ở đấy mấy năm, mà cũng khỏi được mối lo trăm đời của năm kẻ bầy tôi lớn ở ngoài biên”.

    Vua xem biểu than tiếc, truy tặng Binh bộ Thượng thư, cho 200 lạng bạc cấp cho 2 người mộ phu. Lại bảo bầy tôi rằng : “Tường Vân có đủ tài chính trị, văn học, lo việc nước, làm việc công, gặp việc thì lo cố gắng, ít người kịp được. Tiếc rằng chí chưa chọn mà thần đã chết. Vả lòng trung ái hiện ra ở tờ di biểu, trẫm xem mà chảy nước mắt ra”.

    Trịnh Hoài Đức tâu rằng : “Di biểu của Tường Vân nói đến mẹ già, ý muốn trông nhờ Hoàng thượng, nhưng không dám nói rõ đó thôi”.

    Vua nói rằng : “Bề tôi trung còn có mẹ, trẫm nên hậu đãi”. Sai cho 20 lạng bạc, 2 tấm đoạn, sắc cho địa phương thời thường để ý thăm hỏi. Đến khi chết, cho 100 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 10 tấm.

    Sai Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm kiêm quản việc Trường đà, Vệ uý Thị trung Trần Đăng Long quản lý Vũ Khố.

    Đình thần dâng sớ cử Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Ký lục Quảng Trị, Hàn lâm viện Nguyễn Văn Đống làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ.

    Vua nói : “Nguyễn Đăng Tuân kiêm giữ việc Văn thư phòng và việc Thượng bảo tự, then chốt quan hệ ở đấy, chưa có người thay. Nguyễn Văn Đống thì trật Chánh ngũ phẩm, đổi ra ngoài chỉ đáng bổ Tri phủ, bổ Tham hiệp thì chẳng quá lạm sao ?” Không cho.

    Sai Đông các học sĩ Đinh Phiên và Hàn lâm Thị độc Cao Huy Diệu soạn định thể thức cáo văn, sắc văn cho văn giai và võ giai.

    Định lệ cấp phu trạm cho quan ngoài đi nhận chức. (Lưu thủ, Trấn thủ, 2 phu cáng, 2 phu gánh đồ ; Cai bạ, Ký lục, Hiệp trấn, Tham hiệp, 2 phu cáng, 1 phu gánh đồ ; Quản phủ, Đốc học, Tri phủ, Tri huyện, 2 phu cáng).

    Triệu Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Huy Trinh về Kinh ; lấy Tả Tham tri Lễ bộ là Bùi Đức Mân hành chức Hiệp trấn. Đức Mân trước đi sứ nước Xiêm, vì ứng đối không hợp, vua tuy không bắt tội, nhưng ý đã sơ, đến nay đổi ra ngoài.

    Chuẩn định từ nay chánh đội trưởng và đội trưởng ở các vệ đội bốn dinh quân Thị nội được thực thụ suất đội đều chiếu phẩm mà chi bổng.

    Lấy Phó quản thập cơ thuộc Hữu quân là Nguyễn Hữu Viễn làm Trấn thủ Yên Quảng, Thiêm sự Lại bộ là Phạm Quang Anh làm Tham hiệp Sơn Nam hạ.

    Bốn trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, Biên Hoà, Phiên An, bão to, nước lớn, nhân dân nhiều người chết đuối. Lê Văn Duyệt trước hạ lệnh cho các trấn chiếu theo lệ bị nạn bãi mà chẩn cấp, rồi làm sớ tâu lên. Vua khen là phải.

    Biếm Ký lục thự Tham tri Lại bộ là Lê Đồng Lý làm Thái thường Tự khanh, tham lý công việc Lễ bộ. Trước đây thự Đô thống chế Hậu dinh Bùi Văn Thái ra làm quan ở trấn, vua sắc cho Lý rằng chiếu văn chớ viết thự hàm. Rồi khi Thái đến trấn lỵ vẫn mang ấn Hậu dinh. Vua nghe thấy làm lạ bảo rằng : “Thái còn tạm giữ ấn dinh, có lẽ chiếu văn chưa bớt thự hàm chăng ?”. Hỏi ra thì quả như vậy.

    Vua cả giận. Triệu Lý vào trách về tội trái chỉ, bắt cùm lại. Thượng thư Trịnh Hoài Đức và bọn Hoàng Quýnh, Lê Vạn Công ở Văn thư phòng đều bị quở. Bèn đổi Lý làm chức này, lại giáng một cấp. Nhân dụ bầy tôi rằng : “Trẫm lấy khoan nhân mà trị, chứ có muốn lấy pháp luật mà buộc kẻ dưới đâu, chỉ sợ có lỗi nhỏ không răn đi, thì đến lúc có lỗi lớn khó tha được mà thành ra không phải là ý xây dựng”.

    Vua dụ bộ Lại rằng : “Quan văn võ trong ngoài chức giữ việc quan trọng thì lệ có cấp ấn quan phòng là để tỏ sự tin, phòng gian dối và trọng danh vị. Từ nay về sau có ai được cất bổ, đáng cấp ấn quan phòng, thì đề thỉnh trước để đúc ấn, đến ngày ban chiếu sắc thì cấp cả một thể. Nếu viên nào được chọn bổ chức khác, cùng với chức cũ không có liên quan, thì nộp ấn ấy ở bộ, đưa sang Văn thư phòng thu giữ”.

    Lấy thự Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Văn Hưng đổi thự Tham tri Lại bộ, Hưng lấy cớ ít học xin từ. Vua không nghe.

    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Chính Đức làm Thiêm sự Lại bộ.

    Đổi bảo Bình Hoà làm đạo Bình An, trạm Kỳ Vĩ làm thủ sở Bình Nguyên (đều thuộc trấn Bình Hoà).

    Bắt đầu đặt chức Tri huyện Tân Định trấn Bình Hoà, kiêm lý việc huyện Quảng Phúc. Hai huyện trước chưa đặt quan, duy có quản đạo đạo Bình An hợp với thủ quản coi các việc giấy tờ kiện tụng trong đạo. Đến nay mới đặt huyện nha chuyên làm việc giấy tờ kiện tụng. Có xảy ra trộm cướp thì báo cho đạo nã bắt.

    Kinh thành mưa lụt to, thành lở hơn 300 trượng.

    Vua bảo bầy tôi rằng : “Trước Tiên đế có bảo trẫm : “Việc xây đắp Kinh thành không khỏi nhọc dân phí của, làm cho kẻ dưới ta oán. Ta cố đương lấy sự khó nhọc để rỗi cho mày, nếu có chỗ nào chưa xong, thì nhân đấy mà làm xong đi”, Tiên đế băng, chỉ một việc ấy là kinh dinh chưa xong, nay lại lở sụt, đấy là trách nhiệm nối chí noi việc của trẫm”. Tức thì ra lệnh cho người giám tu sửa đắp lại mà tha tội cho. Dụ rằng : “Từ nay về sau, phàm các công việc lớn về sửa đắp thành trì, nếu không hay chỉ vạch đúng phép, để đến nỗi không bền vững, thì đều theo nhẹ nặng mà trị tội”.



    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN VI

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG Đ

    Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa đông, tháng 11, định lệ quân cấm vệ chia đi tuần hoàng thành và cấm thành : Ba đội Túc trực, Trường trực, Thường trực đi tuần ngoài cấm thành ; mười vệ Thị trung đi tuần trong hoàng thành ; các vệ Thị nội đi tuần ngoài hoàng thành ; đều chia ra tả hữu dực, định nơi khởi hành và nơi trở lại. Lại sắc từ nay về sau, đêm đông chí thì ở sân ba điện Cần Chính, Thái Hoà, Càn Nguyên và ở cửa Tử cấm của hoàng thành đều thắp đèn mãn đường hồng [đèn nến] suốt đêm mới thôi.

    Cho con cháu tập ấm của công thần Vọng Các và công thần trung hưng được chi toàn bổng theo phẩm trật ; ấm chức mà không cầm quân thì theo lệ cấp nửa bổng. Vua truy niệm các công thần có công lao ngày trước, cho nên đặc cách cho như thế.

    Sai Giám thành phó sứ Đỗ Phước Thịnh, Phó đội Nguyễn Văn Học, Đội trưởng Nguyễn Văn Tuân và Trương Viết Suý, chia nhau đến các đầu nguồn ở Quảng Đức vẽ bản đồ núi sông rừng rú, đường đất xa gần, chỗ hiểm chỗ dễ, để dâng.

    Vua mở xem sách Dư địa chí, muốn biết rõ hình thế kỳ ((1) (2) Kỳ , điện : nơi phụ cận với Kinh thành là kỳ, ngoài kỳ gọi là điện.1)điện(2), chép vào bản đồ sách vở để lại đời sau, bèn sai bọn Thịnh đi. Thưởng cho áo, bạc, tiền, gạo, theo thứ bậc khác nhau. (Trung lộ từ Sơn Bồ qua Tả Trạch, Hữu Trạch, cho đến nguồn Hưng Bình. Tả lộ từ Hưng Bình qua Phù Âu, Vân Quan, cho đến nguồn Lỗ Đông thuộc Quảng Nam. Hữu lộ từ Ô Lâu, Tho Lay đến nguồn Sơn Bồ. Cả ba lộ đều phía trên giáp địa giới sơn man).

    Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý có tội bị hạ ngục. Khi Quang Lý ở trấn,
    có người tố cáo làm trái phép, thành thần Gia Định tra xét tâu lên. Vua nói : “Quang Lý và công thần Vọng Các cũ, không biết tự yêu thân danh để mắc vào pháp luật, rất đáng thương tiếc”. Khi án dâng lên, Lý bị khép vào tội lấn xén tiền công tiền tư hơn 9 vạn quan. Vua nghĩ đến công lao, miễn cho tội chết, bắt giam kín, đòi lại tang vật.

    Lấy Vệ uý vệ Định võ là Nguyễn Đình Phổ quyền thự việc trấn Phiên An.

    Triệu Tham hiệp Lạng Sơn là Phan Huy Thực về Kinh ; lấy Hàn lâm Thị độc học sĩ Nguyễn Hựu Bình làm Tham hiệp Lạng Sơn.

    Sai Thiêm sự Lễ bộ là Lưu Thuyên kiểm tra Vũ Khố.

    Hiệp trấn Kinh Bắc là Phùng Huy Giảng vì ốm phải miễn chức. Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Lê Quang Thực làm Hiệp trấn Kinh Bắc.

    Triệu bọn Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành Vũ Đức Thông, Ký lục Quảng Nam Hồ Công Thuận, Cai bạ Bình Định Hoàng Văn Quyền, Ký lục Bình Hoà Bùi Đức Minh, Ký lục Bình Thuận Trần Thiên Tải, Ký lục Định Tường Trần Lợi Trinh, Trấn thủ Phú Yên Nguyễn Văn Quế về Kinh.

    Sứ bộ sang Thanh là bọn Ngô Vị, Trần Bá Kiên, Hoàng Văn Thịnh qua Nam Quan. Trước kia, người Thanh đã ước hẹn ngày 19 tháng 10 mở cửa quan. Vừa được mật tín báo tang vua Thanh, bọn Ngô Vị, Trịnh Hiến bàn rằng biểu văn trước dùng ấn son, nay nên đổi ấn chàm. Liền làm công văn tư qua phủ Thái Bình xin hoãn hạn mở cửa ải và chạy biểu tâu lên. Vua nói : “Việc mở cửa quan đã hẹn trước, quốc tang báo sau, người Thanh không ngại gì ấn dấu son, tại sao sứ thần lại sinh chuyện mà chần chờ như thế ?”. Lập tức dụ sai báo ở cửa quan là dùng biểu dấu son.

    Kinh thành nhiều lần có nạn trộm. Sắc rằng quân dân bắt được thì hậu thưởng. Vừa gặp có người bắt được kẻ cắp ngày. Vua bảo bầy tôi rằng : “ăn cắp tuy là tội nhẹ, nhưng giữa ban ngày mà ăn cắp ở chốn đại đô là rất khinh miệt pháp luật. Bọn vô lại khinh phạm hiến chương như thế, tha thì rốt cục cũng không chừa nào, tha cũng vô ích”. Bèn sai chém để răn dân chúng. Lại hạ lệnh cho Quảng Đức từ nay về sau ở đâu có trộm xảy ra, lân bàng (bên cạnh) phải kíp đến cứu ứng, bắt giải lên quan. Làm trái thì có tội.

    Định viên ngạch cho Thái y viện (Chánh ngũ phẩm Ngự y chánh 1 người, Tòng ngũ phẩm Ngự y phó 2 người, Chánh thất phẩm Y chính 2 người, Tòng thất phẩm Y chánh 2 người, Chánh bát phẩm Y chính 10 người, Tòng bát phẩm Y phó 10 người, Chánh cửu phẩm Y sinh 12 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 30 người ; ngoại khoa Chánh bát phẩm Y chánh 2 người, Tòng bát phẩm Y phó 2 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 16 người. Tất cả gồm 89 người đều cho thực thụ. Chánh bát phẩm Y chánh trở lên 19 người, cấp bổng theo phẩm trật).
  • Chia sẻ trang này