0101.00006

1/2/16
0101.00006
  • PDF
    GoogleDocs

    {:Bang Tang Du Tu 1:}


    không khỏi có người phản đối rằng hãy dở tạp-chí Đông-Dương, Nam-Phong, mỗi kỳ người ta được ngâm hai ba trang thơ viết bằng quốc-văn; những bài thơ ấy phải đâu đều ký tên Nguyễn Khắc-Hiếu cả. Vâng, ở những tạp-chí ấy người ta có thể lấy thơ ra chất thành đống, nhưng đó chỉ là những viên đá, đã bao nhiêu thể kỷ lăn từ nguồn lễ-giáo về đến đấy xếp thành hàng, ngang bẩy dọc tám. Đó chỉ là những cái sác không hồn sinh ra bởi những nhà nho sống vào thời buổi tàn-tạ.

    Lục trong đống thơ lớn ấy, ta tìm được bao nhiêu bài thơ, thơ như thơ Tản-Đà.

    Ông Tản-Đà là người thứ nhất và là người độc nhất của cái thế-hệ ông đã làm sống lại cái hồn thơ Việt-Nam đang hấp hối – tôi không muốn nói đã chết rồi.Ông ra đời đem cho chúng ta một thi-sĩ thành-thực dám ca hát cái đời sống của lòng.Ông đã mơ-mộng đã chán đời, yêu đời, thiết-tha với đời một cách tự-do.Ông đã dám ngông, dám có một bản-ngã, dám công nhiên để cho cái trữ tình mê man của mình dãi trong văn thơ.

    Ông đã sống một đời thi-sĩ và đã dám có một tâm hồn thi-sĩ.

    Thơ của ông là tiếng nói dịu dàng trong trẻo của Nàng thơ Việt-Nam.

    Văn-học Việt-Nam ta bao giờ mới lại có một thi-sĩ như thi-sĩ Tản-Đà !

    Thế mà, khi thi-sĩ mới ra đời, phê-bình thi-sĩ ông Phạm-Quỳnh còn viết:

    “ Nay cứ hiện-tượng quốc-ngữ mà xét thì ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng là một tay sành làm văn trong buổi bây giờ, ví như một tay thợ khéo trong bọn xây cái “nhà quốc văn” ngày nay. Nhưng đương khi những người thợ kia kẻ gánh vôi, người gánh cát, kẻ lợp ngói, người xây gạch, kẻ leo chót-vót trên ngọn tường, người ngồi éo le trên đầu nóc thời ông đem một phiến gụ ngồi biệt ra một nơi xa mà chạm cái cửa võng, chạm rất chăm-chỉ rất công phu, chạm lòng rồi lại chạm tỉa, thiệt là tinh, thiệt là sảo, các thợ đi qua dù bận đến đâu cũng phải dừng lại xem mà khen là đẹp, ông chạm xong cái cửa võng ông lại chạm đến cái bao-lơn, cũng vẫn kỹ-càng công tế như thế. Nhưng trong khi ấy nhà vẫn chưa dựng xong, không biết đặt cửa võng vào đâu và đóng bao-lơn vào chỗ nào.

    Thôi thì ông đã có công chạm, ta nên lượng cái công cho ông.

    Như thế thì ông Nguyễn khắc-Hiếu cũng có công với quốc-văn vậy…

    Xong, nếu tôi có quyền khuyên được những nhà thiếu niên mới tập làm văn quốc-ngữ thì tôi xin khuyên đừng nên vội học cái nghề chạm của ông Nguyễn khắc-Hiếu mà hãy ra công cố sức gánh gạch, quẩy vôi xây tường, lợp nóc cho cái nhà ta thành đã. Đến bấy giờ trên kín dưới cao, trong ngăn ngoài nắp bà con ta được thảnh thơi khỏi phải cực đi ở nhờ thì lúc ấy những cửa võng bao-lơn mới thật là có giá trị vậy “.

    Nam-Phong 1918

    Ông Phạm-Quỳnh đã không nhận rằng cái công của ông Tản-Đà là thực dụng.Ông đã phê-bình ông Tản-Đà qua quan-niệm, văn-chương của ông.

    Nếu những nhà thiếu-niên đã nghe ông, không vội học cái nghề chạm của ông Nguyễn khắc-Hiếu thì làm gì chúng ta có một cái di-sản về thơ quí-bái như bây giờ.

    Càng nghĩ đến những lời phê-bình khắc-nghiệt của ông, ta càng lượng được một cách chính xác cái công của ông Tản-Đà.

    *

    * *
    Ngày nay thi-sĩ của chúng ta đã về sống những ngày lạnh-lùng thanh-bạch trong tháp-ngà ở Khê-Thượng, Sơn-Tây.Thi-sĩ muốn quay lưng lại với người đời, mặc để cho người đời quên thi-sĩ, không biết đến thi-sĩ.

    Mặc để cho người đời nói đến cái say, cái mơ-mộng, cái nghèo của thi-sĩ, đem thi-sĩ mua lấy một nụ cười cho người vô ý thức.

    Mặc để cho người đời hăm hở hoan-nghênh những tập thơ, những tiểu-thuyết có cái tên đẹp, có cái vẻ hào nháng, còn những tập thơ Khối Tình Con, những tiểu-thuyết như Thề Non Nước, mặc để cho người đời đem bán giao, kèm những hộp sáp thơm, lọ dầu soa, trong ga xe lửa, ngoài bến ô-tô.

    Thật là bạc bẽo! Thật là đau đớn!

    Còn đâu là thời-kỳ lừng lẫy xưa kia. Cái ngày mà mỗi một lời thơ của thi-sĩ là một tiếng tơ réo rắt làm rung động bao nhiêu tâm hồn, nay đã thuộc hẳn về quá khứ rồi!

    Biết làm thế nào…

    Người ta kể rằng ở một xứ văn-minh kia có một thi-sĩ, mang một bộ quần áo bẩn-thỉu, rách-rưới, thi-sĩ không gia-đình, không bà con anh em, một mình thui-thủi trên con đường đời.

    Anh làm thơ theo luật cổ-điển. Trong thơ anh, anh chỉ nói đến giăng hoa, mây gió, đến giọt mưa… ngây rơi bên cửa sổ, đến ánh sáng mặt trời lạnh lùng trong cụm lá vàng mùa thu, đến người đàn bà yêu trong giấc mộng.

    … Và mỗi đêm, vào khoảng mười giờ đêm, ở những vỉa hè, những tụm người chen chúc thành vòng hỗn độn ở giữa một người rách rưới, miệng hát tay đánh đàn. Bài hát tả cái buồn não nùng của một đô-thành đã chịu bao nhiêu cuộc tang-thương.Giọng hát vụng về, nhưng thiết tha xuất tự một tâm hồn đầy vơi điên đảo, gợi lên trong trí của người nghe hình ảnh một người đàn bà yêu quí.

    Mấy đồng trinh ở trên tay rơi lở tở xuống lòng nón trả cái bài hát kia đương bay khắp thành phố như con chim lạc đàn.

    Rồi một người đàn ông bật ra tiếng thở giài, một người đàn bà nhỏ một vài giọt lệ.

    Rồi đến đêm khuya người ta vẫn nghe cái tiếng hát ấy nó hòa lẫn với sương sa gió lạnh, luồn qua khe cửa vào làm tê-tái lòng người.

    Rồi, ngày một ngày, bài hát ấy cứ bay qua các con đường vào tận chỗ hang cùng ngõ hẻm.

    Thi-sĩ làm ra những bài hát bán cho con hát cứ đêm đến là lại lang thang đi kiếm ăn ở những đầu đường.

    Nhưng ở đời, tiếng thở giài của người tài-tử, giọt lệ của kẻ giai nhân hồ dễ bán được.

    Thi-sĩ vẫn nghèo, vẫn để cho cái thiếu thốn ngày ngày đục khoét cái thân thể trầm-luân.

    Thi-sĩ là một người đến chậm ở cuộc đời và đã mất hết tính cách của người đời ; thi-sĩ đã thành ra một trò cười cho thiên hạ.

    Thân-thể thi-sĩ như xác con ve cuối hè. Cái nghèo ăn cái thân của thi-sĩ cũng như thơ ăn cái óc của thi-sĩ.

    Thế mà cái nghiệp văn thơ vẫn không bỏ được, động nói là thơ với thơ.

    Thật một anh chàng giá trị không bằng một bó rau, một đồng kẽm mà đã dám để cả tâm hồn vào một nghệ-thuật.

    Cái đời của thi-sĩ là một buổi hoàng-hôn mà sự thực đã phủ lên một màu ảm-đạm. Cái tâm hồn thi sĩ là do những câu thơ kết thành, như một vòng hoa héo lả đặt trong cõi hư-vô.

    Với tâm-hồn ấy thi-sĩ phiêu lưu đem đời mình hiến cho một lý-tưởng, và sau bao nhiêu năm lê-la trong cuộc đời, trải bao nhiêu năm dầm mưa dãi nắng, cái thân của thi-sĩ đã tàn, cái tâm hồn của thi sĩ đã dạn vỡ, thi-sĩ chỉ còn đem sẻ cái thân tàn ấy, cái tâm hồn dạn vỡ ấy vứt chỗ này một mảnh, chỗ kia một mảnh, thế là hết chuyện.

    … Mấy năm sau, thi-sĩ mất tích để lại trong thành phố mấy bài thi ca bơ-vơ như đàn chim lạc mẹ.

    Cũng thời kỳ ấy, ngoài đường người rao : “ Bánh! Bánh !Một xu hai cái!”

    Và ở những nơi lịch-sự người ta nhỏ nhẻ kể rằng trong thành phố sở cảnh sát hợp lực với sở liêm-phóng mới bắt được một bọn làm nghề chôn người chết vô thừa nhận ở nhà thương, lâu nay thường dấu thây rồi mang đi băm ra làm nhân bánh, bán một xu hai cái. Mà trong số những người bất hạnh ấy có cả thi-sĩ nói trên.

    Rồi người ta hỏi, ai đã ăn cái tai của thi-sĩ, ai đã ăn cái mắt của thi-sĩ. Một con chó của một nhà giầu nào đó. Ai đã ăn bộ óc của thi-sĩ, ai ăn quả tim của thi-sĩ. Một anh chàng say rượu nào đó. (1)

    (1) Theo truyện ngắn của Umberto Salvador, một văn-sĩ có tiếng ở Nam-Mỹ là tiên-viên diễn ra quốc-văn.

    Nhà thi-sĩ của chúng ta, nghe câu chuyện kể trên đã rõ cái giá trị và cái công dụng của thi-sĩ ở đời này. Thi-sĩ của chúng ta phải bùi-ngùi thương người đồng điệu, nghĩ đến cái mẩu đời còn lại của mình, tự tìm cho mình một câu an-ủi : đó là số phận chung của những con tằm ăn lá dâu xanh để nhả sợi tơ vàng, những người mang cái thiên-chức thiêng-liêng, đem những nỗi đau đớn của mình ra để ru người đời, và để sau cùng, nhận lấy sự quên bỏ, sự bạc bẽo của người đời.

    *

    * *​

    Chiều hôm ấy, tôi đi chơi định qua mấy hàng sách xem có gì lạ, và thứ nhất là để tìm mua những cuốn sách, tập báo quốc-văn in từ lâu.

    Tôi vào một hiệu nhỏ ở đầu phố Hàng-Bông.

    Lục ở trồng sách báo cũ nằm lộn-xộn dưới một làn bụi mỏng, một cuốn sách nhỏ đã cũ lắm nhưng vẫn còn giữ được vẻ xinh-xắn, tập Nhàn-tưởng của ông Tản-Đà hiện trước mắt tôi.

    Tôi vội cầm lấy vật quý-báu ấy.

    Tôi hỏi, bà chủ hiệu bảo cho tôi biết rằng bà chỉ bán cuốn sách ấy có hai xu.

    Tôi còn vừa lục ở trồng sách, vừa nhắc lại trong trí mấy tiếng nó đã làm cho tôi ngạc-nhiên một cách buồn rầu : “Ông cho hai xu “, một người ở trên gác đi xuống rồi vào thẳng trong nhà khiến cho tôi phải chú ý. Bà chủ nói:

    - Đó là Tản-Đà tiên-sinh.

    - Tản-Đà tiên sinh!

    Ngay từ lúc ấy tôi đã nhận được hình ảnh của tiên-sinh, hình ảnh của một thi-sĩ bị quên bỏ, đang sống những ngày tàn.

    Hình ảnh ấy đã cùng sự công-phẫn, sự bùi-ngùi phảng-phất trong trí tôi, mỗi khi tôi cầm bút viết tập nghiên-cứu và phê-bình này.

    Viết xong năm 1936








    Thế là tan một giấc mộng.

    Từ 1936, cùng gia-đình, ông lang-thang nay Quảng-Yên, mai Hà-đông, sống cái đời của một gia-đình giang-hồ lãng-sĩ.

    Trong thời kỳ ấy nhiều lần tôi được gặp ông, vì thế tôi được hiểu ông và văn-chương của ông hơn.

    Đáng lẽ tôi phải viết ra đây.

    Nhưng cán bút tôi cầm muốn rời khỏi tay tôi. Tôi muốn làm một việc gì hơn là ngồi chép những ý-nghĩ mà tôi đã có về cái Giấc-Mộng-Lớn của ông.

    Vì nay giấc mộng ấy đã tàn rồi.

    Thi-sĩ của chúng ta đã qua đời, giữa lúc mặt giời của sinh-mệnh chưa sế bóng, để lại cho chúng ta một vết thương.

    Cách đây hai tháng, theo lời thúc-dục của an hem, tôi dự-bị giao cho một nhà xuất-bản in tập văn nghiên-cứu và phê-bình này.

    Buổi chiều hôm ấy tôi tìm xuống thăm thi-sĩ ở dưới xóm Bạch-Mai định xin một tấm ảnh về in vào tập sách của tôi.

    Ở xe điện xuống, đi bộ một quãng nữa tôi đến một ngôi nhà, bề ngoài cũng khá rộng rãi trên tường có hai chữ TẢN-ĐÀ kẻ dở. Cứ trông màu mực thì hai chữ ấy kẻ từ lâu, và chắc không bao giờ thi-sĩ nghĩ đến việc kẻ nốt hai chữ ấy nữa.

    Có lẽ ở đời Tản-Đà tiên-sinh việc gì cũng phải bỏ dở.Không ngờ ở cái công việc nho nhỏ ấy, ta đã thấy một tượng-trưng rõ rệt.

    Tôi vào, rồi theo người nhà lên gác.

    Thi-sĩ đang nằm ở giường.

    Tôi cảm thấy hình như xung quanh tôi cái gì cũng đang chán nản chờ một ngày mai tươi đẹp hơn. Tôi bùi ngùi nghĩ đến mấy câu trong bài tựa mà ông Thái-phỉ vừa đưa cho tôi hôm trước:

    “ Thi-sĩ Tản-Đà hiện đang sống những ngày tàn ở dưới xóm Bạch-mai bằng nghề đoán vận mệnh cho người.

    “ Đó cái kết cục khốc tàn của đời một thi-sĩ.

    “ Còn đâu là thời kỳ trìu-mến xưa kia “.

    Thi-sĩ tiếp chuyện tôi.Nhưng lần này kém sự vui vẻ.Mà vui làm sao được.Thi-sĩ đang ở trong sự thất-bại.Chua chát nhất là thi-sĩ bị thất-bại trong nghề đoán số.đã không có duyên với văn-tự lại vô duyên với cả cái nghề đoán số mệnh. Những câu như “ mạch Thái-tố, số Hà-lạc “ mà thi-sĩ thường đọc, cái trí thông minh của thi-sĩ, không đủ làm quảng cáo cho cái nghề của thi-sĩ. Thôi đành mở cửa hàng xem số để xem số cho mình, và để biết rõ thêm về cái số phận lênh đênh của mình…

    “ Có lẽ ông giời muốn xuốt đời tiên-sinh phải sống cái đời thi-sĩ “, tôi an ủi thi-sĩ, rồi kể qua công việc tôi định làm. Tôi ngỏ lời xin thi-sĩ một bức ảnh.

    Thi-sĩ nghiêm nghị giả lời tôi:

    “ Ngài lại xin tôi một bức ảnh in vào tập sách ngài viết để nói về thân-thế và văn-chương tôi. Ngài làm cho tôi giật mình; mỗi lần có ai muốn giữ một cái gì của tôi để kỷ-niệm, tôi lại tưởng như tôi sắp chết đến nơi.Vì mình sắp xa người ta, và vì người ta quí mình, người ta mới xin mình kỷ-niệm.Mà tôi thì tôi còn thấy khỏe lắm. Chính bây giờ mới đến lúc tôi góp các văn thơ của tôi lại, chia ra từng loại định in ra tất cả. Tôi đã gói riêng ra và định in dần.Tôi chưa làm được.Thuyết thiên-lương tôi cũng chưa viết xong.Từ biệt các ngài thế nào được.Cứ ở sự tôi chưa làm xong những việc tôi phải làm là giời chưa cho tôi chết rồi”.

    Nói đến đây có lẽ thi-sĩ nghĩ đến cái sứ mệnh của mình, ha hả cười. Tôi cũng cười theo. Thi-sĩ hạ giọng:

    “ Nói là nói cho vui, thực tình chắc ngài cũng biết cho rằng đã lâu lắm tôi không chụp ảnh, mà bây giờ thì tôi không muốn chụp. Cho thấy cái thân già yếu của mình, thấy sự thanh bạch của mình, e mất cảm tình của quốc dân.Từ nay không làm được công việc cho quốc dân quí mến hơn nữa thì được quốc đâ quí mến bao nhiêu nên giữ lấy bấy nhiêu.”

    Tôi phản đối những tư-tưởng bi-quan của thi-sĩ, làm cho thi-sĩ phải nhận lời hứa, một hôm nào thi-sĩ khăn áo chỉnh tề sẽ đi chụp ảnh để cho tôi in vào sách.

    Tôi cáo từ; ra đến cửa thi-sĩ còn cho tôi biết rằng vài ngày nữa thi-sĩ sẽ xuống ngụ tại Ngã-tư-Sở, số nhà 71, và dặn tôi lần sau có xuống thăm thi-sĩ thì xuống đấy. Đi xe điện cũng tiện.

    Tôi không ngờ rằng hôm ấy tôi xuống xin thi-sĩ một bức ảnh lại cả xuống để ghi lấy ảnh cuối cùng của thi-sĩ.

    Tôi không ngờ thi-sĩ dận tôi lần sau có xuống thăm thi-sĩ thì xuống Ngã-tư-Sở, lần sau tôi xuống lại là để đưa thi-sĩ ra chỗ ở cuối cùng của thi-sĩ.

    Thi-sĩ đã từ trần một ngày mồng bảy tháng sáu.

    Đám tang thi-sĩ là đám tang thi-sĩ của muôn đời. Sau linh-cữu, lẻ tẻ một số bạn-hữu và nhà-văn, âm thầm đi.Hai bên đường người đời nghểnh cổ lạnh lùng nhìn.

    Tôi muốn giữ người đi đường kia lại hỏi xem người ta có biết đó là đám tang một thi-sĩ mới qua đời không. Tôi muốn chạy lại cô Hồng, cô Tuyết kia bảo cho họ biết rằng đó là đám tang thi-sĩ, tác-giả những câu mà đêm đêm họ hát theo với dịp phách cung đàn của họ.

    Nhưng thôi mặc.

    Sẽ có hậu sinh làm cái gì ta đang mong đợi.

    Họ sẽ nhớ công của thi-sĩ, sẽ đặt tên thi-sĩ lên trang đầu của cuốn sử văn-chương Việt-Nam cận-đạ. Họ sẽ tìm đến mộ thi-sĩ, khắc vào một tảng đá mấy chữ : đây là chỗ an-nghỉ của nhà thơ Việt-Nam, Nguyễn khắc-Hiếu.

    Và một ngày kia, người đi qua, đứng dừng lại đọc mấy chữ ấy. Sau một phút âm-thầm thấy tâm hồn rạo rực… một vài giọt lệ rỏ. Những giọt lệ ấy, giọt lệ của người đời sẽ kết lại thành một vòng hoa bất-diệt, trăm năm đặt trên mộ thi-sĩ…

    Với những ý nghĩ ấy ta có thể an ủi, chấm dấu chấm hết trên trang giấy này và, để vĩnh-biệt, nghiêng đầu viếng lần cuối cùng thi-sĩ thân yêu của chúng ta.






















    Tiểu-sử Tản-Đà

    Ông Tản-Đà sinh ngày 29 tháng tư năm Thành-thái nguyên-niên (1888), quán làng Khê-Thượng, huyện Bất-Bạt, Sơn-Tây.

    Ông là con cụ Nguyễn danh-Kế.

    Ông vốn giòng giõi quyền-quí, tổ-tiên xưa đã làm quan dưới triều Lê.Đến khi nhà Lê suy nhà Nguyễn lên ngôi trị-vì các ngài đã thề với nhau rằng sẽ không bao giờ ra làm quan nữa.Nhưng đến đời thấ-sinh của ông, cụ Nguyễn danh-Kế, sự bần hàn trong gia-đình đã bắt cụ ra thi chịu ấn phong của triều Nguyễn. Cụ giỏi chữ lại hay thơ, làm đến
  • Chia sẻ trang này