0059.011 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.011 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • Link PDF
    Link Google Docs

    Đổi chức Cai án Thị nội làm Tri bạ.

    Quảng Nam gạo đắt. Dinh thần tâu xin lại phát thóc kho bán cho dân. Vua y cho, sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng và Hàn lâm viện Biên tu Lê Bá Tú đến hội bán.

    Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Kiên bị tội tham tang phải bãi chức ; lấy Trấn thủ Phú Yên là Nguyễn Văn Quế thay, Quản phủ Kinh Môn là Nguyễn Văn Tài làm Trấn thủ Phú Yên.

    Sai Thiêm sự Công bộ Nguyễn Công Liêu và Tham tụng Trương Văn Minh làm việc cục Bảo tuyền ở Bắc Thành.

    Lấy Vệ uý Hậu vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Văn Huyên làm Vệ uý Tiền vệ, Vệ uý Tiền vệ Nguyễn Văn Nghi làm Vệ uý Hậu vệ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu là Nguyễn Khắc Tiệp làm Vệ uý, Cai cơ Trần Văn Tính làm Phó vệ uý, Cai đội Lê Văn Giai làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả.

    Lấy Quản đạo Thanh Bình là Phan Văn Thuý làm Chưởng cơ, thự lý ấn vụ Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách. Sau lại sai lấy bản chức lĩnh chức Phó đốc trấn Thanh Hoa. Dụ rằng : “Khanh tuổi dần suy yếu, đáng lý lưu lại chầu hầu bên cạnh, nhưng nghĩ việc toạ trấn Thanh Hoa khó có người, nên nhờ khanh giúp một vài năm rồi sẽ triệu về”.

    Triệu bọn Tri phủ Bùi Phổ, Trương Văn Đoán, Vũ Du,Vũ Hữu Tín, Hoàng Nghĩa Thao, Lương Vân, Đặng Đình Dương, Phạm Thọ Vực, và Thư ký Bình Định Phạm Phước Thiệu, Cai án Hải Dương Nguyễn Công Duy, tất cả 10 người về bộ để dẫn vào yết kiến.

    Đổi định lệ thuế cảng và lễ cho các thuyền buôn nước ngoài. Lệ cũ, thuyền buôn Mã Cao và các nước phương Tây đến buôn bán, cũng đánh thuế như lệ thuyền buôn Quảng Đông, cứ lấy thước tấc bề rộng các thuyền mà thu khác nhau. Vua muốn tỏ lòng yêu mến người phương xa, sai đình thần bàn định phân biệt, theo ngạch cũ mà khoan giảm. (Như đến buôn bán ở Gia Định, thuyền phủ Quảng Châu, phủ Thiều Châu, châu Nam Hùng, phủ Huệ Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh Phúc Kiến, tỉnh Chiết Giang, Mã Cao và các nước phương Tây, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan (lệ trước 160 quan) ; 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 90 quan ; 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 70 quan ; 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 35 quan (lệ trước từ 13 đến 7 thước, mỗi thước 100 quan). Thuyền phủ Triều Châu, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước 110 quan, 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 70 quan ; 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 50 quan, 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 30 quan. Thuyền phủ Quỳnh Châu, phủ Lôi Châu, phủ Liêm Châu, phủ Cao Châu và các nước Ma Lục Giáp, Chà Và, rộng 20 thước đến 14 thước, mỗi thước 105 quan ; 13 thước đến 10 thước, mỗi thước 55 quan ; 9 thước đến 7 thước, mỗi thước 20 quan. Đến buôn bán ở Kinh cùng Quảng Bình, Quảng Trị, so với Gia Định, đều giảm cho 4 phần 10. Đến buôn ở Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Nghệ An, đều giảm cho 3 phần 10. Đến buôn ở Bình Thuận, Bình Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Bắc Thành, đều giảm cho 2 phần 10). Phàm các thuyền buôn nhập cảng, đều căn cứ nơi lĩnh thuyền bài để theo lệ mà đánh thuế. Nếu dám lừa dối, giả mạo lĩnh bài nơi khác để mưu giảm thuế, việc phát thì lấy số thuế giảm làm tang vật [luận tội], từ 20 lạng trở xuống xử 60 trượng, cứ mỗi chục lạng lại gia một bậc ; lại chiếu số tang mà thu gấp đôi. Nếu tang đến 250 lạng trở lên, cũng chỉ xử 100 trượng và đồ 3 năm (hết mức tội). Thuyền và của trong thuyền thì sung công. Lấy 3 phần 10 thưởng cho người cáo giác.

    Vua lại thấy ba lễ thượng tiến và lễ quan cai tàu, trước đến nay đều tuỳ theo xứ sở thuyền buôn mà tính nhiều ít không đều, chưa được hoạch nhất, bèn chuẩn định rằng phàm tiền bạc đánh vào thuyền hộ gọi chung là thuế cảng và lễ, cứ khi mãn kỳ thì quan sở tại gộp kê tổng số tiền chia ra thuế cảng và các lễ (Lấy tổng số chia làm 100 phần, 78 phần làm thuế cảng, 22 phần làm lễ, tiến dâng vua 5 phần, cung Từ Thọ 4 phần, điện Thanh Hoà 3 phần, quan cai tàu 10 phần).

    Lấy Nguyễn Văn Mưu làm Hàn lâm viện Biên tu sung chức Hành tẩu Văn thư phòng, Lê Công Tường làm Kiểm thảo, Vũ Doãn Triều, Đặng Như Tâm làm Điển bạ, Trần Tử Tuấn, Trần Đình Đạt làm Đãi chiếu. Bọn Mưu khởi thân là thường dân, Hứa Đức Đệ khen là viết tốt, vua sai Nguyễn Hữu Thận cho thi phép viết, rồi chia định thứ bậc mà dùng.

    Vua vời hỏi Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới năm nay án xử tử còn lưu lại bao nhiêu. Giới đáp : “Mỗi năm đến cuối mùa đông, các án hình phần nhiều chưa xử quyết hết. Gần đây có chỉ nói rằng ngày đông chí không được giết tù, cho nên trước ngày đông chí đều xử quyết hết, chỉ còn hoãn quyết 60 án mà thôi”. Vua nói : “Trẫm tuổi trẻ nối nghiệp, gắng giỏi tinh thần để mưu trị nước, phàm việc gì cũng không muốn để bê trễ. Nhưng thường tình người ta hay hăng hái lúc đầu, chưa biết ngày sau có được như thế này hay không ?”. Nhân dụ bộ Hình rằng từ nay về sau các địa phương xét xử án tử hình phải tâu ngay để xử định, không được chậm trễ.

    Làm ngọc phả. Sai Tôn Thất Dịch và Phạm Đăng Hưng sung chức Giám tu. Vua dụ rằng : “Từ xưa sự hoà mục trong gia tộc có ảnh hưởng đến sự thịnh trị của nước. Thái tổ ta khi mới gây dựng, tỏ đức dày đối với thân thuộc, xưng quốc tính là Nguyễn Phúc. Hoàng khảo ta lập pháp luật, định chế độ, bắt đầu dựng phủ Tôn nhân, giữ việc phả hệ để lại muôn đời. Trẫm vâng nối nghiệp lớn, rất lưu tâm đến việc kế thuật. Các khanh làm ngọc phả nên xét kỹ, thế thứ trong sách vở cũ, liệt kê đầy đủ dâng trình, đợi chỉ xử định”. Lại dụ cho quan dân trong ngoài, nếu không phải tôn thất thì không được mạo dùng chữ Nguyễn Phúc, làm trái thì có tội.

    Bàn đặt Sử cục. Trước đây sai bộ Lại tâu rõ từng điều về quan chức Sử cục, đã lâu chưa dâng lên, vua dụ rằng : “Chức chưởng của Sử quán nên có điển cũ mà xét. Sang năm làm sử, việc đặt sử quan không thể hoãn được.” Phạm Đăng Hưng xin sai đình thần bàn kỹ. Vua nghe theo.

    Hạ lệnh cho thổ ty Tuyên Quang là Tuyên uý đồng tri Nguyễn Thế Nga tạm sai Chánh thuộc hiệu Ma Doãn Thước cai quản thổ binh hiệu Hùng nhất đóng giữ bảo Tụ Long thu thuế đồng nhất thiết theo lệ trước.

    Triệu Hiệp trấn Lạng Sơn là Nguyễn Thận Ngôn về Kinh ; lấy Hiệp trấn Sơn Tây là Ngô Huy Viên làm Hiệp trấn Lạng Sơn.

    Lấy Hàn lâm viện Trực giảng là Lê Đường Canh làm Thiêm sự Binh bộ.

    Chuẩn định rằng lính mộ ở ba vệ Trung, Tiền, Hậu, dinh Tiền phong quân Thị nội có thiếu thì cho lấy khinh phu và mộ người lậu sổ ở các dinh trấn sung vào, lính giản hai vệ Tả, Hữu có thiếu (binh hai vệ này quân ở Bình Định) mà dân sở tại xiêu tán, thì cho lấy các đội Tân sai quán ở các dinh trấn mà sung vào, cốt sao cho đủ số mỗi vệ 500 người.

    Tháng 12, mồng 1, ban lịch Hiệp kỷ sang năm. Trước đây bộ Lễ tâu nói : “Ban bảo chính sóc là việc chính trị lớn của vương giả kính trời chăm dân. Xin lấy ngày mồng một tháng này đặt đại triều ở điện Thái Hoà để truyền chỉ ban lịch, theo như phép cũ”. Vua y theo.

    Làm sách Khâm định vạn niên thư.

    Thổ phỉ ở Sơn Tây là Trần Lê Quyền nguỵ xưng hoàng thúc nhà Lê, tụ đảng ở Lâm Thao mưu khởi loạn. Thành thần mật sai Quản cơ Tả quân là Lê Công Chiếu đem quân tìm bắt được Lê Quyền và bè đảng mười mấy người. Việc tâu lên. Thưởng cho quân sĩ 200 quan tiền.

    Bộ Binh dâng sớ tâu : “Khoảng mùa hạ mùa thu, khí trời không được điều hoà. Hoàng thượng ta xét thấu ẩn tình dân, hoãn việc bắt lính thiếu. Nay lệ khí đã yên, xin lệ đòi điền cho đủ ngạch binh”.

    Vua dụ rằng : “Dân đau ốm mới khỏi, người đi lánh nạn chưa trở về hết, nếu vội vã bắt lính, há chẳng nhiễu dân sao”. Không cho.

    Bình Thuận gió bão.

    Vua bảo Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân rằng : “Kinh sư là nơi thanh danh văn vật, phong hoá bắt đầu từ đây. Trước kia từ loạn Tây Sơn, quân dân tập nhiễm thói xấu, không biết nhún nhường. Nay phải lấy lễ phép mà dạy bảo. Khi có xe kiệu nhà vua đi thì phải nghiêm lặng tránh xa, không được xông xáo ; hoặc thấy xe lọng các quan trưởng, thì đương ngồi phải đứng dậy, đương đi phải tránh lối, để tỏ giáo hoá tôn vua kính trên mà làm gương cho thiên hạ”.

    Xuống chiếu mở khoa thi Hương và thi Hội. Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ thánh nhân ban ân trạch, không việc gì lớn bằng sự gây dựng nhân tài, vương giả suy ơn, tất phải trọng việc tuyển sĩ tử, cho nên không câu nệ ở lệ thường, chỉ quý chọn được chân tài. Lớn thay nhà nước ta, chính trị giáo hoá tốt đẹp, phong khí học nho chấn hưng. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mở khoa thi kén sĩ tử, ấn định các năm mão dậu thì thi Hương, gần đây đã đủ lệ thường. Trẫm noi theo nghiệp lớn, mở mang trăm việc, quan dân trong ngoài, ai cũng thấm nhuần ơn trạch. Nay muốn rộng ban ân điển cho khắp làng nho, mong được nhiều sĩ tử kéo đến, vang lừng như sấm như gió, quả mùa thu hoa mùa xuân đều hái được, vàng tốt phương nam, tên thẳng phương đông đều thu được, để làm rộng sáng sự nghiệp chuộng văn của Hoàng khảo ta, nên có dịp may tuyển nhân tài ngày nay. Vậy đặc biệt cho mở ân khoa, mùa thu năm Tân tỵ thi Hương, mùa xuân năm Nhâm ngọ thi Hội. Sĩ tử các ngươi đều phải trong sạch mà thừa hưởng phước tốt này, chăm chỉ học hành, trông hoa hoè mà rảo đến trường thi, nhìn sóng đào mà tranh tiến lên trước, để đáp lại cái ý muốn cất nhắc nhân tài của trẫm”.

    Chuẩn định rằng các địa phương từ nay có được ban phát chiếu thư, tiếp lĩnh yết thị, đều phải theo nghi chú do bộ Lễ gửi cho làm phép thường mãi. (Phàm tiếp trung sứ mang chiếu thư đến, quan địa phương trước phải bái vọng ở lỵ sở mình. Rồi xem trong tờ chiếu, có việc quan trọng cần tuyên bố cho mọi người nghe biết, thì lập tức đem văn võ thuộc quyền đều mặc phẩm phục, và sai binh lính sắp sẵn nghi trượng, long đình, tàn lọng, để sớm hôm sau đều họp đón rước chiếu thư ở hành cung, làm lễ bái tạ. Lễ xong, phụng mệnh dán treo lên và tuỳ việc sao gửi đi).

    Sai Thị thư Lê Vạn Công cưỡi ngựa trạm đi các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, xét hỏi tình hình đau khổ của dân gian.

    Ngày Quý tỵ, yết lăng Thiên Thụ, thưởng cho từ cung tần tiên triều trở xuống đến nô lệ phục dịch ở điện Minh Thành 100 quan tiền. Từ sau lấy làm thường lệ.

    Bọn Trần Thiên Tải, Bùi Đức Minh vào yết kiến.

    Vua hỏi về giá gạo, nhân bảo thị thần rằng : “Trẫm từ khi lên nối ngôi đến nay, vẫn để ý đến cùng dân, giảm tha thuế má, phát chẩn cho vay đã nhiều, không biết ơn ấy có đến nơi không ?”

    Phạm Đăng Hưng tâu rằng : “Ơn rộng đã thấm khắp, dân được dần dần tỉnh lại và sinh thêm”.

    Vua nói : “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc((1) Quan : goá vợ ; quả : goá chồng ; : mồ côi ; độc : người sống một mình không có vợ con để nhờ cậy.1) lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Hoàng Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên 3 vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”.

    Bàn lễ tiến tôn((1) Lễ tôn phong Từ cung làm Hoàng thái hậu.1). Bầy tôi lại dâng biểu nói : “Trước khi dâng biểu tiến tôn, kính vâng tuyên bảo lời từ dụ, ngửa trông được thấy đức khiêm tốn rất lớn. Trộm nghĩ bậc đại hiếu tôn cha mẹ là phép thường xưa nay. Cung mới đã làm xong, xa giá đức Từ cung đã yên ở đó, bọn thần, tấm lòng nhỏ mọn, nghĩ không thôi được, nên dám lại xin”. Vua lấy biểu tâu lên cung Từ Thọ, được từ chỉ y theo. Bèn dụ cho bầy tôi bàn sang năm làm lễ tiến tôn. Sắc cho Khâm thiên giám chọn ngày lành đúc sách vàng, ấn vàng, và chế lỗ bộ Từ giá (1 tán cán cong bằng đoạn vàng thêu chín phượng, 4 cờ long phượng, 10 cái ngô trượng, 4 cái lập trảo, 4 cái ngoạ trảo, 4 tán cán thẳng bằng đoạn vàng thêu hoa bảo tướng, 2 tán cán thẳng bằng đoạn hồng thêu thuỵ thảo, 2 tán vuông mầu đỏ, 2 tán long phượng bằng đoạn vàng, 4 quạt long phượng bằng đoạn hồng, 4 quạt nan bằng đoạn màu vàng lẫn kim tuyến, 4 quạt loan phượng bằng đoạn hồng, 4 quạt hoa cung bằng đoạn xanh, 2 phất trần, 2 lò hương bằng vàng, 2 hộp hương bằng vàng, 1 kiệu phượng dư, 1 kiệu đại nghi, 1 kiệu phượng liễn, 4 phướn dẫn đường màu đỏ nhạt, 4 phướn truyền giáo, 4 phướn chữ tín, 20 thanh nghi đao, 40 cái hàm trượng, 2 cờ thanh đạo).

    Ngày Đinh dậu, tế Chạp. Sai Định Viễn công Bính, Diên Khánh công Tấn, Điện Bàn công Phổ tế thay.

    Gọi bọn Tiến sĩ triều Lê là Nguyễn Đăng Sở và Đỗ Lệnh Thiện, Sinh đồ ở Bắc Thành là Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú, sĩ nhân là Ngô Du, Đoàn Nguyên, Đỗ Huy Ngạc, Nguyễn Minh Khiêm, do bộ dẫn vào yết kiến. Lệnh Thiện và Đình Hổ vì ốm từ không đến. Đăng Sở đến Kinh, được bổ Hàn lâm viện Tu soạn. Bọn Huy Chú được bổ các chức Biên tu, Kiểm thảo, theo bậc khác nhau.

    Phó hầu mệnh Hoàng Kim Hoán từ cửa quan trở về.

    Vua lấy việc sứ kỳ chậm trễ mà quở mắng, không cho phục mệnh. Chánh hầu mệnh là Trịnh Hiến đi đường bị ốm đến sau. Vua lại quở rằng : “Trước kia ngươi theo vua Lê, trọng nghĩa không khuất, giữ tiết tháo sao mà bền bỉ thế ? Nay đến cửa quan lại dùng dằng kéo dài, sao lại trái nghịch như thế ?”. Hiến sợ hãi tạ tội. Vua tha cho. Kim Hoán cũng được miễn tội.

    Phục chức cho Nguyễn Đức Hội làm Tri bạ thành Gia Định. (Đức Hội trước làm Hiệp trấn Hà Tiên, mắc tội, bị cách chức).

    Phục chức cho Phan Tiến Hoàng làm Vệ uý quân Thần sách. Hoàng trước kia lấy chức Phó tướng đi trấn Quảng Ngãi, mắc tội giam ở ngục. Năm ấy gặp ân xá được miễn. Vua thương Hoàng có công lao cũ mới đặc ân cho bổng mỗi tháng 10 quan tiền và 10 phương gạo. Lê Văn Duyệt vào trấn Gia Định, sai đi theo, đến nay mới phục chức ấy.

    Đảng giặc Chân Lạp đã dẹp hết. Sai rút binh Gia Định về. Đầu là bọn Vệ uý Lê Kim Nhượng và Trần Văn Quế đuổi đánh dư đảng của sư Kế ở Lang Sóc (tên đất), phá luôn được, giặc tan tác hết. Bọn Tham Đích Tây, Kế Luyện Na Côn lần lượt về hàng. Lê Văn Duyệt tâu xin rút binh, nhưng để Nguyễn Văn Thuỵ với 700 quân sĩ lưu lại bảo hộ nước Chân Lạp, đợi khi nào nước ấy tạm yên sẽ trở về Châu Đốc, kiêm giữ Hà Tiên để bớt số thú binh. Vua y cho.

    Vua nước Chân Lạp thấy quan phiên là Chiêu Chùy Tôn La Ca Đồng Phù ngang nghịch vô đạo, gửi mật thư cho Gia Định. Chợt Đồng Phù có việc đến thành, Lê Văn Duyệt bắt lấy, đem việc tâu lên.

    Vua nói : “Hắn là quan phiên, nên để vua phiên xử trị”. Bèn sai đóng gông đưa giao Đồng Phù và bọn quan phản nghịch Tham Đích Tây. Dụ vua phiên rằng : “Pháp luật là chung của thiên hạ. Bọn Tham Đích Tây phản quốc theo giặc, Đồng Phù khi quân ngược dân, theo pháp luật đều phải giết. Vương nên cương quyết, xử theo nghĩa lớn, không nên nhu nhơ”. Vua phiên vâng mệnh giết hết, rồi xin sắm sửa sản vật địa phương sai sứ sang tạ. Vua nghĩ nước ấy mới yên nên miễn cho, chỉ khiến biểu tạ thì do sứ cống đệ luôn.

    Lê Văn Duyệt dâng sớ nói : “Gần đây nghe tin nước Xiêm La sửa soạn binh giáp và xin quân ở nước Hồng Mao, chưa hiểu cớ gì. Thần đã thao diễn các quân để dự phòng sự bất ngờ, và sai người đi đến Ô Đỗ của Hồng Mao để dò xét động tĩnh”. Vua khen phải, bảo từ nay dò được tình trạng gì thì làm biểu tâu lên ngay.

    Sai Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình chế cấp quần áo cho lính thú.

    Chuẩn định từ nay phàm lính mộ thiện tiện đào ngũ thì xoá tên ở binh tịch mà ghi vào hộ tịch, để không được lánh đến nơi khác và đầu quân vào vệ đội các nha.

    Sai bộ Lễ bàn lễ tiểu tường.

    Vua hỏi Phạm Đăng Hưng ngày hôm trước lễ tiểu tường có làm lễ cáo không. Hưng đáp : “Ngày giỗ thì có lễ cáo, ngày tiểu tường thì không. Trước kia Tiên đế cư tang Hiếu Khang hoàng hậu cũng vậy”.

    Vua nói : “Tiên đế chế lễ, trẫm không dám trái. Nhưng không cáo mà tế thì chưa được yên tâm. Vậy đến kỳ lễ trẫm đem con em cáo trước, miễn cho các quan theo lạy là được”. Lại bảo thị thần rằng : “Trẫm xem việc cũ chép lại, thì Hiếu Nghĩa hoàng đế triều ta kính thờ Nễ miếu, mỗi lần cúng tế có đủ các thứ chim muông quý báu, lòng hiếu thờ thân rất mực. Trẫm nay tìm tòi các thứ ấy ở bốn phương, sức cũng có thể làm được, nhưng nghĩ lại làm nhọc sức người, không phải ý định của Tiên đế ta, cho nên ta không nỡ làm. Vả lại Tiên đế từng nói : Lễ tang tế của trẫm, nên tiết kiệm không nên xa xỉ, nên thương xót không nên bày vẽ. Lời nói đức ấy như ở bên tai, trẫm sao dám trái vượt ?”.

    Ngày Tân sửu, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiểu tường. Vua mặc tang phục tiểu tường, các hoàng tử, hoàng thân, cho đến các quan văn võ chịu tang ba năm đều mặc tang phục tiểu tường ; ai tang một năm thì trừ phục.

    Lấy Ký lục Bình Thuận là Trần Thiên Tải làm Hiệp trấn Sơn Tây, Thiên Tải bệ từ. Vua dụ rằng : “Trên thể tất đức ý của vua, dưới làm cho dân khỏi đau khổ, ấy là chức trách thú mục. Nếu đem việc quan khinh suất, uỷ thác cho nha lại, để họ thẳng tay làm gian bậy thì hại dân không thể nói xiết”.

    Ban bạc cho bọn con cháu nhà Lê là Lê Duy Cáo và con cháu nhà Trịnh là Trịnh Hiệu, theo thứ bậc khác nhau. Lại cho Duy Cáo triều phục Chánh tam phẩm, rồi đều cho về.

    Định lệ lễ ở điện Minh Thành. Hằng năm gặp ngày sinh ngày kỵ cùng các tiết Trừ tịch, Nguyên đán, Đoan dương, đều tiến dâng cỗ bàn, lễ phẩm, sai viên Tôn thất hộ lăng làm lễ

    Định rõ lại điều cấm về bưu chính. Vua dụ bộ Binh rằng : “Đặt ra bưu chính là để truyền đệ việc công. Điều cấm đã định, nhưng gần đây, các nha hoặc lạm sai lại dịch, uỷ riêng thân quyến ; người coi trạm thì hoặc có việc riêng đi vắng, đến khi có việc vội thì thúc giục chạy mau, hoặc việc không khẩn cấp mà bắt phu trạm chạy, còn thêm đánh đập ; lại có người giả mạo danh hiệu chức sắc, chẳng có bằng trát gì mà doạ nạt ; cùng cai trạm thứ trạm là đặt riêng hai ba chức dịch, bắt thu trạm phải lệ thuộc, miễn trừ con em mình không phải làm phu trạm ; phàm các việc như thế, không thể không định rõ điều cấm để ngăn tệ đi. Vậy ra lệnh truyền dụ nghiêm cấm”.

    Chánh sứ sang nhà Thanh là Ngô Vị chết ở phủ Nam Ninh (vua Thanh hậu ban bạc lụa, đợi khi Phó sứ Trần Bá Kiên trở về sẽ cho quân hộ tống).

    Vua nghe tin nói : “Vị chết vì việc nhà vua, trước dẫu có lỗi, nhưng cũng là để làm việc công, cũng nên thương xót”. Sai cấp cho gia đình 30 lạng bạc. Đến khi đưa tang về, sai quan dụ tế, lại cho thêm 100 lạng bạc.

    Đặt thêm chức Miếu lang (trật Tòng ngũ phẩm), Miếu thừa (trật Tòng thất phẩm). Vua bảo bộ Lễ rằng : “Vương giả kính thờ Tôn Miếu, chức quan coi việc thờ cúng không thể không đặt đủ. Vậy đặt thêm 2 miếu lang và 4 miếu thừa, lấy người tôn thất để bổ”.

    Sai Tôn Thất Dịch chọn con em trong tôn thất từ ba đời trở xuống, người nào thông minh cho vào nhà Thái học.

    Định lệ thuế nạp trầm hương (mỗi người hằng năm nộp 1 cân trầm hương) cho thôn Chi Quan (thuộc huyện Kỳ Hoa) và hai đội Phan Long, Quần Cát (thuộc huyện Thạch Hà) trấn Nghệ An.

    Đắp ba đoạn đê mới ở Sơn Nam hạ thuộc Bắc Thành, (một đoạn tại hai xã Kim Lũ và Tiên Liệt huyện Mỹ Lộc, một đoạn tại hai xã Trà Lý và Lương Phú huyện Chân Định, một đoạn tại xã Sơ Lâm và Hàn Lâm huyện Thượng Nguyên).

    Gọi binh hai vệ Thần uy, Chấn uy ở các dinh trấn Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, đều đến mùa xuân sang năm họp tất đội ngũ ở Kinh.

    Nạn dịch ở Bắc Thành đã lui, thành thần tâu lên. Vua mừng phê rằng : “Hạt ngươi bị nạn dịch ở sau các cõi trong nước, nay dịch lui, thế là toàn hảo”.

    Năm nay bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên, sau rốt đến Bắc Thành. Số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, khôngkể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp tổng kê hơn 73 vạn quan tiền.

    Sai Thống chế Nguyễn Viết Bảo, Thượng thư Trịnh Hoài Đức, thự Tham tri Nguyễn Văn Hưng, Thừa chỉ Trần Công Tuân sung làm công việc đóng hòm ấn cuối năm.

    Cho dòng dõi công thần quốc sơ là Nguyễn Phúc Kiều làm họ Nguyễn Cửu.

    Hiệp trấn Thái Nguyên là Nguyễn Kim Phương chết.

    Bàn lễ Nguyên đán. Bầy tôi dâng sớ nói : “Từ Càn Học nhà Thanh dẫn lời Trình tử((1) Trình tử : tức Trình Y Xuyên, danh nho đời Tống ở Trung Quốc.1) nói rằng : “Cổ nhân để tang, trăm việc đều theo đúng lễ, dù bỏ tế cũng có thể được ; nhưng người đời nay trăm việc như thường thì sao lại chỉ bỏ tế ?”. Lời nói ấy phải làm sao ! Nhưng theo phong tục mà trái với cổ nhân thì lòng người cũng không yên. Trương tử((2) Trương tử : tức Trương Hoành Cừ, danh nho đời Tống.2) có nói : “Tang ba năm thì một năm có thể tế được ; tang một năm thì khi đã táng rồi có thể tế được ; tang ba tháng, năm tháng hay chín tháng, thì qua một tháng có thể tế được”. Đó là chiếu theo tình mà so với lễ, thế mới vừa phải. Cúi thấy Hoàng thượng cư tang nay đã lễ tiểu tường rồi thì có thể tế được. Trộm nghĩ Nguyên đán là một trong ba tết lớn, theo điển lễ quốc triều ngày tết ấy có lễ chầu các miếu, thật là hết ý tôn kính tổ tông, các đời giữ phép sẵn ấy đến 300 năm. Bọn thần trộm nghĩ ngày Chính đán sang năm, rước Hoàng thượng thân yết Thái miếu, các quan bồi tế như nghi. Lễ xong, Hoàng thượng ngự điện Cần Chính, đổi mặc áo thường, các quan vẫn mặc triều phục, kính cẩn đợi ở sân điện Thái Hoà. Do quan bộ Lễ tâu xin, vâng chỉ miễn triều phục, gọi vào triều kiến. Sau đó thì ngày thường Hoàng thượng mặc áo trắng ngự ở Tiện điện mà thính chính để trọn số tháng cư tang. Như thế ngõ hầu cổ điển và quốc lễ châm chước nhau được thích nghi, đạo làm con, lòng làm tôi, trên dưới đều được thoả cả”. Vua y theo.

    Bộ Hộ tâu dâng sách hội kê đinh điền tiền gạo vàng bạc năm nay : số đinh hơn 620.240 người ; ruộng 3.076.300 mẫu, và hơn 26.750 khoảnh ; tiền hơn 1.925.920 quan ; thóc hơn 2.266.650 hộc ; vàng hơn 580 lạng ; bạc hơn 12.040 lạng.

    Bộ Binh tâu dâng nhân số năm nay về binh ngạch, quan lại trong ngoài, các sắc binh tượng cùng các hạng binh tính, biệt nạp, tạp lưu, gồm hơn 204.220 người có lẻ.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN VII

    THỰ LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821] (Thanh Đạo Quang năm thứ 1), mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý sửu mồng 1.Vua mới đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, tế Thái miếu. Miễn lễ triều hạ cho các quan. (Biểu mừng do Văn thư phòng dâng lên. Hai tết Vạn thọ và Đoan dương cũng thế). Rồi đổi áo thường, ngự điện Cần Chính, các quan chiêm bái. Ban cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau.

    Ngày Giáp dần, dâng lễ lớn ở điện Hoàng Nhân.

    Làm vườn ngự (ở phía đông trong kinh thành). Có kẻ làm thư nặc danh nói gièm pha. Vua bảo thị thần rằng : “Làm vườn ngự là nhân cũ sửa lại cho mới chứ không phải dựng mới”. Bèn bãi việc cung dịch cho các quân, chỉ lưu lại quân các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực để hoàn thành. Lại dựng hai đền Thành hoàng và Thổ kỳ trong vườn ngự, ban tặng cho. Sắc rằng hằng năm tế vào hai tháng cuối xuân thu.

    Định lệ treo đèn và răn cấm trong khi khánh tiết. Hằng năm ngày 15 tháng giêng là tiết Thiên thụ, ngày 27 tháng 11 là tiết Thánh thọ. Những đêm ấy ở kinh thành và ở lỵ sở các thành trấn, nhà các quan và nhân dân đều treo đèn ở trên cổng ngõ. Ngày hôm trước và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ngày 23 tháng 4 là tết Vạn thọ. Trước 3 ngày và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ban đêm đều phải treo đèn.

    Gọi hơn 3.300 biền binh ở các hạt Bắc Thành, Thanh, Nghệ và Thanh Bình về Kinh.

    Ngày Kỷ mùi, khai ấn. Xuống chiếu dụ quan dân trong ngoài rằng : “Trẫm nghe sách Chu Lễ nói tháng giêng ban bố pháp lệnh ở lúc bắt đầu hoà ấm. Theo quẻ Tốn [Kinh Dịch] thì trước ngày Canh ra mệnh lệnh để làm việc. Vì đạo trời sinh hoá mãi không ngừng, Trinh hết vận rồi trở lại Nguyên. Kẻ làm vua gắng gỏi không quên, cẩn thận lúc cuối cùng, mưu toan từ khởi thuỷ. Cho nên thiên “Đế mô” ((1) Đế mô : thiên trong Kinh Thư, tức là “Đại Vũ mô”.1) thuật ý răn dạy của trời, từ việc chớm phát đến việc đã thành, mà thiên “Cơ phạm”((1) Cơ phạm : tức thiên Hồng phạm của Cơ tử.1) tỏ bày lời nói trị đời, đều là phép thường, đều là giáo huấn. Lớn lao thay đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta ! Gây dựng nghiệp lớn, để lại đời sau. Chính lệnh ra là thi hành, lời nói là phép là tắc ; giáo hoá thành lâu từ trước, dân cho là phải mà theo. Trẫm nối cơ nghiệp lớn này, xem hiến chương đã sẵn. Sớm hôm lo lắng, một lòng kính cẩn từ lúc đầu ; giường mối mở mang, trăm việc làm cho đến chốn. Nhìn cảnh tượng hanh thông của trời đất ; chính là lúc nhàn hạ của nhà nước. Vua là chủ, tôi thì làm, gian lao cho mọi việc đều tốt ; dân đồng bào, vật cùng sống, trời đất che chở không sót đâu. Nghĩ sao đến được công hiệu trung hòa vị dục ; giữ đúng được chuẩn đích chính trực thẳng bình. Nối chí theo việc là hiếu, đương thận trọng chọn ngày mưu đồ ; bố đức ban lệnh mùa xuân, nên bày lời để làm giáo huấn. Đại thần thân huân, danh vọng ở bậc di phụ((2) Di phụ : do tiên đế để lại để giúp đỡ vua.2), mong cùng nhau một lòng tu đức để cùng hưởng tôn vinh ; trong ngoài trăm quan, xét công tự có thường quy, nên cố gắng thận trọng chức ty để cùng vui công trạng kinh dinh trăm trận, các quân vốn đã huấn luyện, thuật tất phải tinh ; sức tất phải mạnh, uy thanh vang như sấm sét, rộng như Hán Giang ; nuôi dạy lâu năm, kẻ sĩ đều đã thành công, hạnh tất càng gắng, học tất càng chăm, thực dụng vững như rui xà, chắc như rường cột. Xa gần cùng lối, đạo lý một mà phong tục như nhau, cày ruộng chăn tằm, trồng cây nuôi súc, đều muốn cho được thoả đời, đất không bỏ hoang, dân không du đãng, đều xu về đức hoá vui sống thuận hoà ; phú dữ tính thường, chẳng cần nhủ từng nhà bảo từng hộ, lớn nhỏ trai gái, bạn bè cha con, đều muốn cho được đúng đạo, không trò dâm dật, không thói a dua, đều vui theo phong tục lễ nhượng liêm sỉ. Như thế là để tỏ công bình định hai chục năm, để lên cõi thái hoà thiên vạn thế ... Ôi ! Thể theo trời đất đủ bốn mùa bốn đức, khéo hợp với then máy mở đóng cửa càn khôn ; làm cho thiên hạ thành một nhà một người, mong được thấy đức hoá lan khắp như sấm gió. Các tước công, đại thần cùng quan quân sĩ dân đều lo cố gắng, để đón lấy phúc lớn, cùng nhau chung hưởng thanh bình”.

    Ngày Canh thân, tế Xuân hưởng. Vua đến Thái miếu hành lễ. Từ đấy lễ miếu hưởng vua đều thân làm.

    Tham tri Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông và Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền bệ từ để trở về lỵ sở. Vua vời hỏi Thông rằng : “Việc ở Bắc Thành chỉ có Phó tổng trấn và bọn ngươi xét đoán giải quyết hay là có cả Hiệp trấn và Tham hiệp dự bàn ?” Thông đáp : “Việc nhỏ thì Phó tổng trấn và bọn thần bàn bạc, còn như việc lớn thì võ từ Thống quản thập cơ, văn từ Thiêm sự trở lên, cùng các Hiệp trấn, Tham hiệp mà có việc ở thành đều hội bàn cả”.
  • Chia sẻ trang này