0113.10 - mabu_af đang soát

7/3/16
0113.10 - mabu_af đang soát
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:

    đổi lên Quy Nhơn. Hiên Vương đến nãm 1651 đặt tên huyện ấy là Qui Ninh. Gia Long lại đạt tẽn tĩnh Bình Định .

    Các vị linh mục truýền đạo đều biết hai lòn gọi Quy Nhơn và Quy Ninh. Cha cố de Rhodes cổ nói vồ các sự kỉộn xảy ra vào năm 1618 vồ lĩnh Qui Ninh và khi cúc sự kiộn xảy ra 6 đó vào nầm 1640 thì ông lại viết Qui NhirtQui Nhena> . Tất ca các chữ ấy, kể cả chữ dâu do ìn ấn đã thanh Quv Nhơn, vã lụi trong cuổn lự điển, linh mục viết chữ nhỉ rỉ mà nay ta viết nhơn hay nhân và ông còn thường dùng chữ "cM thay chữ "â" trong các chữ khác. Nhưng sau này lại chữ Qui Ninh mới cớ: ông Chevreuil cổ nói đến từ năm ỉ 665 tỉnh Qui Ninh hay Paulo Camhy và vào năm 1700 dưới nìôn hiệu Minh vương, người ỉàm bia cổng có viết Qui NỉnK lần này thì chính ta điíng theo như các linh mục nới.

    Cú lẽ ỉà tỉnh Bình Định là nơi ỏng Nguyên Thiều đến trước. Nếu chúng la còn nghi ngơ thì rõ ràng là có một lổ chức sư Trung Hoa còn đến bây giơ đố là d'ên Amilahha K) tầng, ơ g'ân thành Bình Bịnh mà một trong đồng nghiệp chúng lôi có gữi cho chúng lôi lịch sử khá chí tiết.

    Các tư ỉiộu ấy nối qua về buổi ban đầu vồ đời cíia Nguyền Thíồu ở An-nam, Người ta cho biết ông xây dựng tháp' 10 Tâng và ông có "truyền đạo Phật"..

    Nhưng ồng cũng không ở lâu trong Nam, sau này chúng ta sẽ hiổu lỷ do vì sao. Người ta cứ nổi ông đôn Huế vù ở trên núi Phú Xuân. Phú Xuân là làng mà đã dựng Kinh thành Huê" trôn một phân diộn lích lớn. Cân lưu ý là thời gian ấy chứa Nguyễn chưa đóng đồ ỡ đấy.

    vào năm 1636 ơ làng cạnh Kim Long; chỉ đến 1687 vua Ngãi Vương mơi đến ở Phú xuân. Nhưng chắc là vùng lân cận vđi hoàng cung đã thu hút ông Nguyên Thiều.

    Chỗ đông dân CƯ nhất của làng Phú Xuân phía la ngạn sông Hương, con sông xứ Huế và các vùng quanh đều là làng mạc trù phú. Nguyên Thiều không hy vọng có thể ở được vùng đó; Nhưng phía hữu ngạn của con sông Phú Cam đất Phú Xuân còn cớ nhiêu đất chưa khai phá và ở vùng đó là nơi đến của địa hạt Thiên Chúa Phũ Cam. Chi có đâu cuối của làng, gần chân nứi Ngự Bình ử đoạn có đồi nên gọi là "Mí ỉ ¿foi của Phú Xuân'1 mà Nguy ôn Thiều đê n đặt nên cho đạo.

    * rr

    ồng dựng một chùa, mà các tin tức cho tói biết mà tôi cũng chưa kiổm tra được lại là lúc ịfâu vào giữa thế kỷ XVI11 có lên là chùa Vĩnh Ản (lừ ân huệ ỉãu dũi): Đó chính là chùa Quốc An (Ân huệ CỊUốc gia) ngày nay.

    Ngươi la không nối đôĩ) việc xây dựng chùa. Ngươi la có ghi là cạnh chìm Nguýên Thiêu cỏ xậy tháp gọi là Phổ K)ông Tháp là nơi theo các lừ điển cho biel là nơi đặt các thi hài cùa những kẻ không ai thtía nhận hay theo lời của thượng tọa Quốc An (l) .ìà tháp mà ngươi la cúng cho những cổ hồn không ai cúng lễ. Có thổ là cớ hai ý: tháp này là dùng dể cúng bái các vong linh không nơi nương tựa và cũng trong trương hợp đặt biệt là chôn xác những ngươi vô thừa nhận. Theo lơi vị thượng tọa thì tháp bị dập phá dưới thơi Tây Sơn cũng như các ngôi nhà cửa chùa khi trươc ơ phía trước của chùa hiện lại và phía góc Nam nơi có cây nhãn lơn.

    Vậy chùa Vĩnh Ân xúy dựng năm nào 7

    Nguyên Thiều'đến An-num 1677. Ong xav dựng chùa Anitahha tháp [0 Tâng tại Bình H>ịnh cũng mất hốt vài năm. Có nhiêu tài liệu chưa được kiểm tra mà tôi đã nối ơ trên, là cũng có vài miíng dất

    TẬP I

    cho ông Nguyên Thiều xung quanh chùa Quốc Ân, sự cho đất đ<5 đã được Lhừanhận vào niên hiệu 5 thời Chánh Hòa vằo năm 1684. Lúc đó trị vì 6 Hà Nội lầ Lô Hi Tốn trong khi đổ 6 Huế thì chứa Hiền vương có cấp tiên cho người sáng lập để xây dựng chùa. Chúng ta có thể thừa nhận là năm 1684 là năm xây dựng chùa Quốc Ấn hay trước đó vài-năm nghĩa là vào khoang 1683 hay 1682. Cũng không còn tà ỉ liệu nào nữa đổ được chính xác hơn.

    Thôi hãy gác chuyện Nguyên Thiều lại vằ vấn đề xây chùa của ông do chúng ta khhng cổ một tài liệu nào về thờỉ gian ấy.

    Vua Hien vương vốn đã tiếp vị sư Trung Hoa này, là vị chúa mất • 1687. Con lên"nối ngôị là Ngãi vương. Chúa này gửi Nguyên Thiêu vồ Trung Hoa. Vào năm nào? Chúng ta cCing không rõ nhưng chắc chấn là vào ni.cn hiệu Ngãi Vương khoảng giữa 30-4-1687 đcn 7-2- 1691. Trohg các tài liệu cớ ghi là 27 tháng 5 năm thứ 10 thời Chánh Hòa (13-7-1689). Vua lộnh han không thu thuế đất chùa. Chúng ta cũng bici ỉà Nguycn Thiều rời chùa Quốc Ản sau khi ở Trung Hoa qua. chúng.ta cũng khồng thổ đi đến kết luận vì người ta không cho hiết lúc giăm thuế còn cổ Nguyôn Thicu đ Quốc Ân hay ông đã chuyển đến chùa Hà Trung rồi; như vậy la cũng không biết lúc có giảm thuế vào lúc trước hay sau cuộc đi Trung Hoa. Chúng ta chỉ cần-sự chỉ dấn đã cổ là trbng khoảng năm 1687 - 1690 là lúc Nguyên Thiêu được Ngãi Vương phái qua Trung Quốc.

    Vị sư này giao phó sứ mạng: lìm các vị sư và đưa họ qua An-nam. Và các tỉcu sử cũng 'c6 nhắc lại về Thạch Liêm đã nêu "Dại Đức ĩỉòd thượng Thạch Trường Thọ" đã qua An-nam sau Nguyên Thiều. Nhưng Nguyên Thĩồu không phai chĩ có việc dưa một vị đồng đạo uyOn hác và đạo hạnh mà chúng ta sẽ gặp lại trong những hài nghiên cứu ve Phật giáo. Ổng còn đem nhiều loại tượng và ưa cúng rỏ. Tô ì nói nhiều tượng nhưng ngày nay chỉ còn, lại nhưng hình ảnh thiêng liêng ấy một lượng hang, đá cẩm thạch ơ trong chùa Hà Trung. Báng lẽ Nguyên

    Thiêu nên đem về nhiêu tượng lớn và nhỏ về Phật Thích Ca hay Bô tát hằng gỗ, hằng sứ, bằng đồng giống như những thứ mà chúng ta thấy tron» các ch Lia mà đa Si) là gốc từ Trung Hoa.

    Cố một sự kiện làm cho chúng tôi ngạc nhicn và hình như không «liai thích đưựe Nguyên Thiều như đã ghi: "Di, vê hoàn thành sứ mệnh tối dẹp dược nhiêu khen thiêng", Nhưng khi lừ Quảng Đông trở qua. người ta không giao cho ông coi ngó chùa Quốc Ân mà ông thành lập. Vị sư phó tên ià Thạch Liêm mà ông đưa qua lại vào chùa Thiền Mụ. là một trong những chùa quan trụng nhất ở Huế và ông lại chuyển vồ Hà Trung. Mặc d'au là trụ trì nhưng cách đặt như thế này như một giang chức vì Hù Trung thật ra là một làng mất hút đầu phá của Huế trên một vùng đất cát phải đi nữa ngày đường mới đến, phía Nam của Kinh đô Huế. COng chính trong chùa ấy, đặt tượng quan trọng nhất mà ông chuyển lừ Trung Hoa về.

    Tác gìạ cua mộ chí đọc cho Nguyên Thícu ẩèu ca ngựi cuộc đờì tu hành của ông tại Hà Trung.

    Do lính sáng từ trong ngưởì phấn chiểu tràn ngập hào quang. Ngải phân tích các ỉuậtchĩa các diều khoăn.

    Trong khi mạn dàm Ngái nói dến những vấn dê thần linh vồ tình tể.

    Ngài ghi chép tất cầ lời dạy cua SƯ phụ.

    Ngài hỉtì ỉrìỉcác t hü thuyết sai lãm và theo gưing (‘ác dạo lý dúng dem.

    Ngài /íỉ người cua thời dại dã sinh ra sáng tạo mil mọi người trong tương lai phải noi theo.

    Ngài lo lắng dào tạo hoàn chình một lớp dd dự trong bốn giai cấp cita dân chúng.




    Đấy là những cóng việc và hổn phận của một người mộ đạo của vị sư tài giỏi, một sư phụ của tập thể; lự tu, hành đạo, chăm sóc nhà chùa. Tôi cũí g mong trên đây là lời ca tụng cho cuộc đời của Nguyên Thiều xứng đáng đưỢc hưởng.

    Ong ở 40 năm tại Hà Trung. Cũng nơi ấy ông mất và cái tên chùa ấy đã theo ông xuống mồ, nên chi bia đá đã ghi đâu câu: "Bia tưởng niệm được sắc phong của Tháp Hoàn hích Thiền Sư, chùa Hà Trung".

    Vào năm Mậu Thân ngày 19 tháng 10 (20-11-1728), ông lâm bệnh. "Ông kêu các (fô đệ đến và trao đổi với họ nhiều vấn đê sâu sắc và hí quyết như những lời trăn trối cuối cùng. Ông muốn nhắc lại họ trong vài câu. Khi đã thấy không qua nổi ỏng câm bút lông và viết câu đối sau: "Binh tâm, bĩnh tâm ỊĨI gương trong trẻo" (như theo ý trong hài Dịa lý Duy Tân nói rằng gương không hao giờ giữ hụi hăm).

    Sáng ngời, sáng ngời một viên ngọc quý chưa đũa mồi,

    H

    Dẹp và trong sáng một sinh linh mà không cấu tạo như sinh vật.

    Thật iíì vô biên; sâu thẩm, hư vô mà chẳng hưvôfl> ỉ

    Vừa viết xong là ông ngủ giấc ngàn thu.

    Theo lất cả tài liệu đều ghi ông sống 81 tuổi tính theo kiểu cua Đông Phương.

    Hình ảnh Nguyôn Thiều đƯỢc phác họa môt vài nót đơn sơ để giáo dục các đô dệ, nhưng không thiếu vẻ đẹp. Người muốn, trong một thời gian, sống cuộc dơi thanh bạch hay gương trong sáng, sạch hụi dơi và dưỢc lung linh như ánh sáng cua hầu trơi vũ trụ hao la một khoái lạc vộ tư của sự bí ẩn kéo dài bất lận. Nhưng cái gì cũng cổ tính trước, những

    'h Ở dây chừ Pháp lọ{> là những nám chùa tu hành mà cũng là tuổi cùa tron đíFi.

    mơ ước Niếl hàn không phải là kết quả của sự chán nan hay sự lười nhấc chết ngươi. Con ngươi sình ra hay tồn tại là để hoạt động và hưởng thụ đây đu kết quả hành đông của mình.

    Chúng ta phải khâm phục sự khắc kỷ im lặng cùa nhà SƯ sáng lập chùa Quốc Ân. củ đời người ông chăm gột Ki ham muôn, hương Ihụ và đau khổ, ít nhát là theo lý thuyết cho phù hựp với luật đạo: suốt đơi ông muốn tiến tới một chữ nhưng không phải là rổ. Tôi nghĩ sự mơ ước của ông chứ không phải sự mong muốn và ồng không ham mê gì cả vì cái gì đôi với ông đều huýen hão. Nguyên ươc cua ông sắp thực hiện khi mà ta nới đến thực íế của những trạng thái không chính xác. Ong chỉ ngắm, không phăi là cuộc sống có thể như tình trạng theo tôi nghĩ, mà đã dành cho ông sự hình tâm, thoát khỏi tất ca, làm chủ lất câ và đi đến một sự yên tĩnh thật sự sau khi đã chỉ rỗ cho các do đệ ông con đường nên theo và mục đích đạt đến. Đúng vậy, những giây phút cuối cùng của ông Nguyên Thiều thật cố phần vĩ đại!.

    Xác ông hỏa thiêu và hài cốt đặt trong một tẩm do các đô độ xây nên trong khu vực và đặt tên ".Cửa Hỗa”'h .

    Chỗ đỏ ngùy nay ngươi ta còn thấy mộ của Nguyền Thieti each góc phía Nam của Bàn Nam Giao độ một cây số rươi ngoài bìa có chl tứ tây trên han đô địa lý 1/25.(XX), đối diện với vùng đồi có thông phiì.

    Trong các cuốn tiổu sử cỏ ghi "-VÂY mộ! tầm ciỉíi cửa Hóa", trong "Dật lý Duy Tân" ghi ",vậv một tầm rita Cửa Hóa”, Trong bia ghì rò htín: "jrậv một tầm ở khu vực cửa i An mam): cứa rua Hóa”, Trong "Cuốn lieu sử" và "Dịa lý Duy 'lan" có them ghi "cỏ lầm thêm xứ Ị i”. (-hữ xá ỉị là phiên ânt chữ Sannt de chỉ hài cốt còn lại Sịiu khí hõa thiêu mà người ta dặt trong film như một vật quý lưu lại, Nhơ cáu â>' mà tôi có thể kct ỉuận ỉà thi the của Nguyên 'lltiêu được hỏa thiêu. Nhưng trêu hi a không thấy ghi vì chư .vớ lị là vô nghĩa nên ngươi ta không hit’ll den iương tận cội gôc cùa nó. Nên chi Cling có the là Nguyên Thiêu không bị hòa táng.

    Cái tẩm, đáng lý !à hình chóp, Jại cao lên như một trụ có 8 cạnh và 4 trụ ây, có đặt một hoa sen. ITALIC1ỔITALIC2 dưđi có một bia đề: Tháp ciía hòa thượng thuỵ danh Hoàn Đoan p)ại ỉão Trường Thọ, hí danh là Nguyên Thiều trụ trì chùa Quốc An, đưực sắc phong, nựng bia năm Nhâm Tý tháng chạp ngày lành. Năm Nhâm Tý là năm nào? 1732, 4 năm sau khi Nguyên Thiều mấl chăng? Hay là I792, huy J 852, tôi cũng không biết nữa.

    Ngày đầu cố lý, mặc dầu không có ghi các chữ đã hư trên bia mộ, bang vôi. Nhưng ngày cuối cùng cũng có thể chấp nhận vì trong thời gian ây chùa Quôc Ân lụi có trụ trì tên là Từ Hòa là người xây dựng.

    Cái tẩm có bao quanh một vòng tường hát giác, trước mỏ và trong lại một đường vuông cao hơn, tường trong dày hơn và ở bốn góc cổ hoa sen, ớ phía sau là hậu á au: phía trước có một cổng mái cong cổ trang điểm vài dòng chữ Vạn và Hán tự đã bị phai mơ.

    Hhía ngoài, đôi diện vơi cổng là một binh phong. Trong tường thứ hai và dựa vào tường ngoài bên phải và hên trái cổ hai bàn thờ cỏ thổ là thờ óng Bịa. Cũng trong vòng tường ây giữa cổng ngoài và chỗ vào trong tương rào thứ nhất, en một bình phong nữa trong dó cỏ bia mộ ngươi tạo lập chùa Quốc An.

    Hiu cỏ ghi ngày lìf thơi Hao Thái theo vua ơ Hà Nội đó là công trình cua chúa ơ Huê lù Minh vương. Chính ông này luôn phát ngôn ơ ngôi thứ nhít. Hàng đâu cỏ mang 4 chữ dại tự chức tước ciía vua Nguyễn lự xưng: "Bại Việt Quôc Vương" (Chúa cua Bại Việt). Thơi kỳ ấy ơ Hác kỳ, Trịnh cương co chức tươc An Bô Vương. Ngươi tu cũng hict chức tươc ây Vương dành cho Trịnh từ năm I399 vù chúa Nguyễn khòng đươc dùng, chươc tước mà họ rât tị nạnh và cuối cùng ho tự phong lây.

    Phía trên hi a, vòng ngoài cổ hai chữ Hán to: "phong sắc vua" hao quanh triện VL1U có 6 chữ "Dại Việt Quốc vương chị ấn" (ẩn cita vua Dai Việt), "Tất cá các đồ độ ciia của Nguy ôn Thiêu, vua Minh vương nổi, đồu quỳ xin la để khắc bia. Ta phong thụy danh "ỉlạnh (ban thiên sư" ịvị sưdức dọ).

    Hơn nữa. mong ươc trong vạn thố hộ sau. người người sè nhìn dim đạo lý và tin lifting và sẽ tôn thờ Tathagata. Người sẽ đến như các lion sơ là một phần thưởng mà trcn hết ià khoái lạc của hòa bình tnuỗn thuơ và với lỵ do dổ la cho phếp được khắc vào hiu".

    Khắc chạm, nỏi cho dung ra chỉ vài câu tho' cuôi bia. Nhưng phân thi dó là sau một đầu đồ lịch sử, dài dòng mà vua Minh vương kể vô con ngươi đầu tien và cũng là sự nghi ộp của vị uy.

    Chúa hắt đầu nới về ngài, và các liên dê đã làm cho dạo Phật,

    "Mặc dầu có lệnh trời và la cảm thấy chưa xứng đe cai trị muôn gia dinh, khi gà gáy sáng la đã dậy và cần mẫn ta không quên tuyên truyền lan rộng để cho mọi ngươi hiổu dạo đổ làm việc tôt.

    Từ khi lập quốc dốn ngày nay người ta xây nhiêu ch LÌ a và dựng các giang đường, người la dưa vị Thượng Thư lìộ Hỗ. và lỗ cúng bái Thích Ca, ngươi la đã hoạt dộng rộng rãi vì quyen lợl CÜU dân chúng, ngươi la muốn cho dân chúng thịnh vượng và ngươi ta muốn họ tự sửa chữa, câu mong, rửa sạch và tư sửa mình và nguyện cáu cho ươc mơ dut te thực hiện! rất cá dồu sống yên ổn. chết trong canh hòa lùnh và liến dần đến bơ cõí cua vùng biên hóa".

    Sau dó Minh V ng mới ke đến dơi của Nguyên 'Thiêu noi vê thơi gian hoạt dộng o' An-num. sau dó là những chi liốt vê ngày ra dơi va ngày mất ciía ông. T)ó ià những de tài nghiên í. líu cua chúng tôi trong hài này.

    TẬPJ

    Sau cùng câu thơ ca ngtỉi:

    "ttộng Idn thay sự hoàn chỉnh cua trị tuệ 1YÌ y chí ííể ỉên cỉưực Niết hãn ỉ.

    Dẹp cỉẽ vồ tuyệt diệu chốn (ỉ cua Phật.

    Ong dã rũ hơ dược mọ í thứ, lồng dạ kiên cường"

    Như dưới ánh trăng dịu, hay hèn dòng sttấi mát trong V(ì sau cùng là cuộc dời sung sướng.

    Khuyên hão, lành dạo, người hun dung cdtn.

    Người hì siêu phàm, ai cũng phui công nhận.

    Khi nghĩ dêh hdn thán, người cho mình ià hư vó.

    Người dã dạy dồ khắp rhôn 1YÌ dữ lòm việc tốt cho người.

    Người di qua, di lại như mật dám mâ\' iành.

    l'r/ hằng ánh hào quang khắp nơi, người như mặt trời xuyên.

    Ai nhìn người tãing mến phục.

    Người cao lên tựa núi Thải S(fn.

    Sau nhưng lời ngơi ca đến nhưthc này, chúng tu phải im lặng.














    CHUYỆN THÁNH MAU Y - A - NAUI

    DÀO THÁI HANH

    Thư ký ỉiộị iíóiĩịị nhiếp chính

    Các lăng mà ngưò'i ta thay uy nghi đứng hên sưcírt Cù Lan ty tỉnh Khánh Hòa là những tháp xây thời Chùm, đổ thờ Nữ thân Thiên Y - A - Na và gia đình hà.

    (lí Mài dọc tại cuộc họp 17-4-1914, Cúc nrti kháo cứu lài liộu về nữ than là "Ị)ịti (ý ỉ .ịch sứ Án-nam ", "Dại Ncttn nhất thấiìiị chí" Vi! ciiôn sách "Hih li iliâti

    Írityr/I" của Bộ I ,ề doạn nói vô Tháp (cThi/tỊ v.Nữllìân Thiên Y -A -Ni! lù nừ than Chàm thíỉ trong dê 11 Ponggar d Nha Trang. ông Pa rm eu tier (B.KY.B.O II ! 902 các trang 17 và tiếp) có nìt day dù lài liộu ve lai lịch láng này và các vị thân linh dang thd đ dỏ. Nữ thần Yana có hài vị thở trong miêu chính, Nií lhfm này có de lại dấu vết họ llùí cúng và tô 11 tu ôi d lluũ mà ngưdi An-nam gọi là A/iịít ttỉít. Tên Ann hoặc Thiên YitfUi. vì vậv khó mà giái thích.

    Trong nghiên ctVn này ỏng Parmcnúer các trang 50. 55 kê lại 2 mấu chu vện VC N lĩ than Thí ôn Yana. ('âu chuyện ãy cùng giồng 11 tin' chuyện ke dây nhưng cùng có nhiêu diem khác.

    Chúng tòi có ke lại lịch sữ cùa vị lilt" than nãy M chúng ta sè thây trong danh sách cứa chùa Và am cúng d line LÓ nhiêu mien, ve la ngạn sông Dông Ba. thờ Nữ thổn Thiên Yana. Cố the ngàv Irưđc (ĩ vùng này người Chììm có miêu thd nữ than c Mã - VỊ nữ than này cũng có dân vêl cứng thờ d Dông Bấc xứ 11 uế. Cố the chỗ thờ uày mà có rniêng hia Viì tìm dược trong vùng lân cận txem B.li.t-.H.O 1905 trang 194 và XI 191 1 trang 259) (ghi chú cua tòa soạn).

    Sử kể lại rằng ngày xưa ở núi Đại Điên cổ một ông già nhà quê và bà vợ cùng chung sống bằng nghê trồng dưa. Nhưng lần nàơ dựạ sạp chín thì cỏ người đến đánh cắp hết. Bực mình ông già nấp để canh dựa mong bắl được kỏ trộm.

    Một dem ấm áp, ông thấy bén bụi cây, một cô thỉếu nữ tuổi độ 13.14 dựa tay xinh đep hái dưa, vừa ngắm nghía vừa khen ngựi, vuốt ve và ăn ngon lành dựơi änh trâng. Ồng già bắt lếy. hỏi cô và biết được cô là kẻ đánh cấp thường xuyên mùa dưa của ông. Ổng rất ngạc nhiên vô cách'đi đứng khoan thai và mỹ miều của cô gái và ông quyết định đưa vê chòi để nuoỉ nấng như con nuôi.

    Suốt thời gian ấy cô (ì nhà ông nông dân; sác đẹp huyên diệu, sự trong trắng và lình vêu cảnh yên tĩnh iàmcho cha mọ nuôi cô rất mến và xcm như con trời cho vậy.

    Có một hôm. thình lình vùng ấy bị trận lụt ỉớn, Thiên Y tự nhiên buồn bã có ve nhớ quê hương, đem lượm đá và chất lôn như một hòn núi nhỏ và trông hoa xung quanh để dưng lại cảnh đẹp của quê hương cồ là "Dao tam thìuì " xứ hoan lạc vĩnh cửu. Người cha nuôi thấy cách chơi .này không vừa ý mình nên mắng quơ cô làm cỗ mũi lòng và buồn nản.

    Trong lúc-đó thì trôi qua một cây cổ thụ Đà Nam. gỗ rất thơm, bị trốc gốc, nước cuốn trôi giữa dòng. Thicn Y hám lầy thân câv và đổ trối theo ra bien theo làn sóng.

    Cái xác cay bị cuốn ra Bắc và dạt vào bờ. Dũn chúng ơ miên đổ r^t ngạc nhicn thây cây go và xtìm lại đổ loi vào hờ. Nhưng mất cỢng vo ích, cây gỗ quá nặng mặc dầu số lượng người hat) nhiêu cũng không sao dẩy cây gỗ được.

    .Tin này chẳng bao lâu dược truycn đi khẩp nước. VỊ hoàng tử sắp len thái tử, thấy việc lạ, đến tò mò xem vào cuộc câu bit lạ lùng này. Vị thái tử cũng xuống nước và bỗng một tay nhấc nổi cây gỗ kCn vào bơ, và iruỵẽn cho đem vào vươn trong hoàng cung.

    Vị Thái Tử này đã đốn tuổi nhưng chưa có vơ. Có một đêm vừa đi qua lại gần cây gỗ để nghi đến tương !ai mình, thình lình dươi ánh trăng mờ ảo, ông thấy một bống người hiện ra trong sương mơ thơm ngát và đang đi đến. Thây vậy ông rất rung động.

    ì’

    H)ôm sau, khỉ ồng đang tram ngâm trong cảnh hoang vắng thì lại (hây hóng ây xuất hiện lại. Lần này ông đuổi theo thì điều kỳ lạ, từ hong ấy ông thây xuất hiện một thicu*nữ xinh đụp. Ngươi thiếu nữ này lúng túng định trốn nhưng không kịp nữa, ông hoàng đã ôm chặt trong vòng lay mà nàng không thoát nổi.

    KHíỢc hoi tơi. Thiên Y đã ke lại hết những sự kiện đã xàv ra trong dơi nàng, trươc khi bị trôi đến vCing này, Ổng hoàng rất mê say và tâu lại vua cha về cuộc phiêu lift) lình cam này. Vua sai các vị thien văn xem lử vi. Họ đeu đồng lình và lỗ ctíơi được ui chức cho Thủi Tử và Thiên Y theo phong tục trong nước.

    Sau cuộc tình duyên đẹp đẽ này nàng sinh ra luôn hai đứa con. Dứa trai lốn là Tri và đứa gái lên là Quý.

    Khi nào cũng hị lôi cuốn trong nồi buồn hí ẩn. một ngày kia công chúa Thiên Y đưa hai con ra bơ biển, trốn chồng, nàng đưa hai con lên cây gỗ h)à Nam và đi vào hương Nam.

    Khi trơ lại cảng Cù Huân nàng hòn đi lìm lại cha mẹ nuôi Irươe. Mái nhà tranh cũ chẳng thấy nữa. lão nông dân và vợ đã chốt từ lâu. Nàng xâv mót đền thơ hai vỉ.

    rhơì kỳ ấỵ, dân ơ Nha Trang đang còn -Sựng lối hoang dã, chưa cổ phương tiện d: sống và để chông lại thiên lai. Thi ôn Y dể thơi giơ giáo dục họ. nhìTng ngươi xung quanh nàng phái tuân thủ luật pháp và phai tiết kiệm đc giàu có.

    Nàng khấc hình mình trên tảng đá đẽo ỡ núi Cù Lan. làm xong cả nang vả con bien mất gitfa ban ngày. Ổng thái lử. biốl sự viộc, đem ca

    một hum thuycn đi theo tìm. Khi họ đến CCi Lao, hạn man rợ trên đoàn thuyền của Thái Tử chém giết dân làng ở đó và đem bôi nhọ các hình chạm trên đá của công chúa, Để xữ phạì bọn này, một trận bão lơn, gió xoáy làm trôi các thuyền bè, các mảnh đá vỡ biến thành tăng đá.

    Từ ngạỵ ấy trở đị, vị Nữ thần ban bố nhiều phép lạ liên tiếp nha ụ.

    Cổ nhiều khĩ người ta thấy công chứa cỡi trên con voi trắng đí dạo quanh trôn đỉnh núi, và mỗi lần. ra đi chơi đồụ cớ nổ ha liếng'âm vang như ỉệnh đại bác. Cố nhiêu lần nàng xuất hiộn dưđi dạng tâm lụa bay vun vút trên trời,'huy nhiều khi nàng cưỡi đầu con cá sấu và đi lượn quanh họn cù lao và các đảo lân cân,

    Dân làng tôn thờ nàng như vị nữ thân và nhờ nàng ban ơn cho họ hương bao nhiêu đi cu mong ươc câu nguyện.

    Trên nui có hai cái tháp, bên trái Ịà dành cho nữ thần, bên phải*là đổ thờ nàng và thấi tử chồng nàng. Sau các tháp ấy là một iỊgõi chùa thờ chạ fnẹ nuôi của nàng.

    Cổ một hia mộ trước các tháp ấy chư tneo lôi văn lự mà dân bân xứ chẳng hiểu gì ý nahĩạ ca. Giơ đây, trong vươn inà các tháp ấy và chùa được dựng lên. nhiêu khách đến tham quan hái quả trong vươn de ăn tại chỗ nhưng níu đem đi thì sê bị thần phạt.

    Cơ một ngày trong năm. nhiêu thú rừng và cá biển đến châu yên lặng í rước den của nữ than như là ngày kỵ giỗ theo kiểu cita chúng.

    Ten của Nữ thần là A-na Diễu - hà chúa Ngọc Thành Phi. đay là tôn người Chàm đạt ra. Trong niên hiệu dâu ( 1801 ) vua Gia Long han cho Nữ thần chức tước "Tlìân toi rao IYÍ (ĩỉỉ cỉứr vô biên, ban phước ìành cho mọi nơi một räch linh thiêng" và dật ba ông lừ giữ đền chon trong số ngươi tình nguyện ơ CCi Lạọ. Đến niên hiệu 3 Duv Tận ( 1900). Nữ thần dược phong là Thiên - Y-A-nụ Dieu Ngọc Phi. thần lọi cao.

    THÁNH MẪU LIỄU HẠNH(I)

    ĐÀO THÁI HẠNH

    Thư ký Hội đ'ônẹ nhiếp chính

    Hai làng An Thái và Vân Cát của huyện Thiên Bổn trong tỉnh Jam R>Ịnh là miên đồng băng có con sông trong vắt chảy qua cây ốì xum xuê và tuyệt đẹp, dân làng mộc mạc và trung hậu.

    Ở đấy, ngày xưa vị Lê Thái Công đã sống, con người hiếu thảo à có lòng từ thiện, sự mộ đạo đến mức dù bận việc ban ngày, không ao giờ quên cầu nguyện thượng đế ỉ à đấng cao mà ông dốc lòng thờ ính. Từ thiện đôi với người vừa là bổn phận vừa là niềm vui.

    DỈI đã ngoài 40 mà chỉ có duy nhất đứa con còn nhỏ tuổi.

    Đến năm Thiên hựu thời Hậu Lê (1557), bà vỢ lại thấv có thai, i đến gần ngày sinh đc lại mắc bệnh phải nằm dương nhiêu tháng.

    Không thuốc nào chữa được bệnh và bù chỉ thích hương hoa. Những người xung quanh cứ nghi là bà bị ma quỷ bắt, nên họ mời các thầy phù thuy trong nước để chữa chạy bằng các cúng lễ các ma quỷ' Tất cả đám thầy đã làm hết phép nhưng đều vô hy vọng. Người bệnh cứ đau nặng da n.

    Lúc ấy vào tiết trung thu, trời thanh, trăng sáng. Một đêm cố tiếng đập cửa nhà Lê Thái Công, một ngươi đầu đội nổn thô và mình bẩn thỉu yêu cầu được đến gần người ốm để chữa bệnh.

    Ngươi gác cổng từ chối không cho vào nhưng ngươi ấy ciíơi lo lên và nói: 'Ta là ngtíời dữ phép mau nhiệm, ta lượn trên trời xanh và xuống tận âm ty. Thấx ông ià vé dạo dức hỉên hậu, ta dến giúp sao ngươi lại hất hủi ta".

    Khi nghe có tiếng ồn ào phía ngoài. Lè Thái Công chạy ra cửa xin lỗi người khách đến ban đêm và mơi vào nhà. Ngươi này đi theo ông. Ổng nhìn xem thì thây khách khỏng có thuốc bùa cũng không có đũa thần nhưng lại để ý đến chiếc rìu bằng đá đang dấu trong áo choàng.

    Sau khi Xòa lóc ra hai bên đâu, người phù thủy hẩl đâu cúng hằng cách lẩm bẩm thần chú để kôu các thần thánh, Sau đó ông ném btìa vào bàn thờ. Tức thì Lẽ Thái Còng lăn đùng ra bấl tỉnh và ngủ mc.

    *

    * *

    Trong giấc ngủ, Lê Thái Công cam thây hồn lìa khổi xác và bay lến không gian có ba ngươi kòm theo. Xung quanh ông lù ánh màu xanh như ánh trăng tà. Ống thả bổng hồn ông như bóng ma ấy.

    Họ đến cổng cũa mộl kinh đô lớn. Ba bổng ma cùng Lê Thái Công vào trong và thay trang phục. Sau đổ lai liếp lục ơi đốn chín tầng mây.

    Ở giữa một cung điện nguy nga được trang trí đẹp nhất trong thế giơi thần liên, ngồi trong ánh hào quang và giữa ngai vàng là vị Thiên vương phục sức triều ỉỗ xung quanh có các vị hành tinh, các thiên thần các thần linh đứng hai hôn trái và bên phải. Tất cả đầu y phục đắt tiền có trang trí hằng ngọc và các ỉoại đá quỷ.

    Trên các mâm hằng thủy tinh có đặt loại đào tiên hái ở vườn Thượng Uvển. Ăn loại trái nay thì tro mãi không già. Trong một chum hổ phách đựng nước trường thọ ciía các thần uống theo công thức Lão Tử, Cố nhiều cây san hô lớn, quà dâng củ 1 Diêm vượng và mội số ngọc và kim cương cỡ lớn cua vuầ Thủv Te tặng nhân lễ khánh đản của Thiên vương.

    Một dàn hòa nhạc chơi hùi Quăn Thicu và một số liên nữ nhảy khúc Nghê Thường. Thái Công và ha ngươi đi kèm theo nhìn qua khe cửa sổ thấy quang canh ấy.

    Thình lình, giữa hài ca. điệu múa, một thiếu nữ hận toàn hồng di ra khỏi hàng, dâng vua một ly ngọc, nhưng không may, ly rơi khoi lay và vỡ tan trên mặt nen.

    Tiêng vỡ làm mọi người trong bữa tiệc quay lại nhìn người thiêu nữ, đang dứng thừ ngươi ra. sỢ sệt. Bên trái, một vị thần bựơc ra dến trước ngai quỳ xuồng và dọc một câu độ mươi hai chữ trong cu un sách vàng cầm tay. cả phòng đeu hoảng sự.

    Từ sau hoàng cung một tiếng thót vang xé ca hau im lặng: "Những ngày ỉ rén trời khống cần nữa!”, ttĩc thì hai vị thân và một đoàn thiêu nữ hàng danh dự hao quanh ngươi thiếu nữ áo hồng, dưa cô ấy ra cổng phía Bắc'.

    Doàn cố đưa biểu ngữ'hằng chữ vàng phía tníơc va có thần linh cam. Đứng từ xa nôn 1,6 Thái Công chỉ đọc được cổ hai chữ "Stic giáng'' {lệnh giáng í ran) vì U xa nên khỏng thây được các chữ khác.

    "Vậy có việc gì xây ra ?". Ổng hỏi ba người kìa.

    "Vĩ, những người ấy trã lời rằng - Quỳnh Nưimg Công chúa nữ thần' hăng đảu của Trời, nàng bị phạt đuổi ra khỏi Thiên Cung một ỉ hời gian vì đã ihm võ ly ngọc cua Chúa".

    Khi Lê Thái Gông đang trao đổi chuyên thì thầm thì một vị thần lừ trong nhà kho hên kia đi ra la lổn ỉên rằng: "Các người là ai. ?" Cạc người dám nhỏ to gì đây?"

    câ ba vị tră lời: "Chứng tồi là lính cua thân sâm, chúng tôi chở lệnh cita trồi". Và không phăỉ nói thôm gì nữa, họ kéơ Lê Thái Công bay vào không gian.

    Giữa đêm hôm ấy, sau khi đã hết cơn ngâl Lê Thái Công rất vui mừng thấy vợ đã ỉành bệnh một cách kỳ lạ sau thời gian dài đau ốm. Một mùi hương của trời đã tòa khắp, một ánh sáng rực rỡ chiếu qua khung cửa sổ và xuyên vào phòng. Thái bà hôm đố đã sinh ra một con gái rất xinh đẹp.

    Trong khi mọi người đang bận rộn chăm sóc cho người mẹ mới sinh thì vị phù thủy đã biến mất vổi chiếc rìu cua ông. Nhớ lại luồng ạnh sáng kỳ diệu ấy. Lê Thái Công không tìm thấy người ân nhân đổ hậu lạ vì ông đã biến đi mất.

    Le Thái Tồng hồi tưỏng lại những canh đã thấy một cách tỉ mỉ và tự nghĩ cổ le có những điều bí ấ’n thần linh mà cáỉ hồn vĩnh cửu trong bộ áo'quần màu hồng đã nhập vào thể xấc đứa con gái của ông. Ồng đặt tên cho con gái là Giáng Tiên (tiên bị xuẩn g trần) những chữ mà ống nhìn thấy trôn trời đ bần án.

    Khi Giáng Tiên đến thơi kỳ dậy thì, dáng hình thon thon và uyổn chuyền, màu da bạch tuyết, tổc ổng lượn phan chiếu ánh mặi trơi,

    mày cong vòng cưng, mắt trong như thu thủy. Nói chựng có một vẻ đẹp tuyệt trần mà không cổ bứt nghiên nào lả xiết.

    Sống riông trong phòng nàng chỉ nghiên cứu văn học và sử sách. Nàng thích thổi sáo và đàn tranh vì âm nhạc nống rất thành thạo. Nếu cố giờ phút nấó rãnh la nàng làm thơ để ca igỢỈ cảnh đẹp hấp dẫn và phong phú của thiên nhiên. Các bà ỉ thơ' về tứ thời cua nàng được lưu trự đến nay và được xem như tuyệt tác về loại thờ trữ tình.

    Một hôm Thái Công đí ngang qua cửa nghe tiếng hát du dương theo nhịp nhạc kỳ diệu. VI tò mò nôn cm g dừng chân iại và nghe hòa nhạc, ông đã biết đó là giọng của Giáng Tiên. Đáng lý ỉ à ông xem như một cuộc giải trí vô tư và ông sẽ đến để khen thương, khuyến khích nàng như cương vị của tat cả người cha, thì 5ng íại bị xâm chiếm trong lòng bơi mội nỗi buồn và đau khổ.

    Một người bạn của Lê Thái Cống, Trần Cồng, con cháu bà con xa của họ Trần cùng đến ơ trong làng đó - nguyên quán của mẹ ông, nôn Lê Thái Công đem cho người bạn nàng Giấng Tien de làm con nuôi và cho xây một lâu dai trong vươn hoa cua Trân Công de nàng ờ.

    *

    * *

    Trong làng :ó một vị quan ve hưu. nhà có hàng rào ơ cạnh nhà vươn của Trân Cộng, cố ch nha Li có bức iươna. VỊ quan này không cơ con Irai, Cạch dây hai mươi năm khi dạo chơi tròng vươn, ỏng thấv rnột thằng bơ bị bó rơi bên góc cây dào. Ong đem bé vồ Ịàin con nuôi và dặ( tên chu nó là Dần Lang í cây dao).

    Vào ilk xay ra câu chuyçn Clia Giáng Tiên, Đào Lang đã thành niên. Vị quan láng g lơn g của Tran (.’ông thấy Unh dịu hiền và đứng dán của Giáng Tién nhài là sắc đẹp hiêm có của nàng, ông quyết dịnh xin cưới nang cho con minh. Yêu cầu này được nhạn lơi mói

    TẬP I

    cách vui lòng của Lê Thái Cổng và Trần Cổng rất sung sướng được gả con gái cho một người cùng làng.

    Sau đám cưới, Giáng Tiên và chồng nàng sông rất đẹp lòng nhau, cha mọ của họ dều ca ngựi sự trùng phừng và hiếu thảo của con cái. Hạnh phúc của đói vợ chồng mới cưới đã làm cho mọi người phải mong ưđc.

    Vào năm sau, Giáng Tiên sinh đứa con trai. Thời gian trôi nhanh quá: ngày nối ngày, tháng nôi tháng, năm nồi năm và như thê là đã ba năm qua Giáng Tien được sông dưới mái nhà ôm âm của lứa đỏi.

    Vào ngày mồng ha tháng ha, Giáng Tien bị chốt đột ngột d tuổi hai mươi mốt của nàng, giữa lức tươi đẹp cua đời. Nàng đi, để lại một lỗ trông cho những người thân yôu. Đám lang nàng được cử hành hết sức trọng thể.

    *

    * *

    Thố là nàng mãn hạn, Giáng Tiên được gọi vồ Thiên Cung. Mặc dầu hồn đã trơ lại trơi nhưng nùng còn giữ lại một kỷ niệm không thổ quên dược của những ngày ơ trán íhO. Khuôn mặt buồn bã, trán nhăn, mày nheo, đau khổ làm nàng tàn tạ. Nươc mắt luôn chầy trên hai gò má tráng nhợt của nàng.

    Cam kích nỗi đau khổ ciía Giáng Tiên, các thiên thần và hạn hữu đã tâu lại vơi Ngọc Hoàng, và vua dã han cho chức Cóng chúa I jeu Hạnh và cho nàng vệ thăm hạ thố. .

    TiOn Chúa theo lệnh Ngọc Hoàng trở lại mặt dấl vào năm đã hôi lang nàng.

    Từ khi Giáng Tiên mất, Thái lia luôn luôn nghĩ đến ngươi cun gái yêu quị? cua ba. Một buổi chi eu và ọ ihãin buồng CLÌU nàng ơ ngày



    trước, bà thấy các dụng cụ âm nhạc nhện đã giăng đay, các sáo đã mốc đi; các bài Ihơ cua nàng dán trên tường đã hoen ố và xám khói; các đồ trang sức để trôn ghế tựa là ố của chuột phầ phách, Quang cảnh này làm cho hà quá xúc động, bà khóc ỉên và ngất đi,

    "Mẹ ơi ỉ Tiên Chứa hãng qua cửa, tnẹ dừng xúc cam nữa. Con num g mẹ. Con re với mẹ dãy ỉ".

    Bà giật mình khi nghe Liếng nói thình lình, Thái Bà xoay nhanh lại:

    "Con dâu trở rể vậy. Con không chết hay sao v\

    Không trả lời, Tiên Chúa nhìn mẹ và khóc to.

    Cô Thái Công, Trần Cống vạ anh của Tiên Chúa nghé nói đến sự xuất hỉện thần thánh này,.bất ngờ đâm ra vừa buồn vừa vui.

    Tiên Chúa qựỳ xuống trước cha mẹ và bùi ngùi nói: "Con cá iỗi với cha mẹcon không cố hiểu rd con Ị ờ nài huân khổ cữa cha mẹ' không phai vì con khổng muốn sống với người mà cọn dược chầm sóc thương xêu mồ vì trong thế gian nay không ai thoát khỏi định mệnh, Cha mợ dìm g cỏ nghĩ dến con nừa và dừng buồn

    Vừa nói xong mấy câu cho anh cả nàng lo chãm sóc cho cha mẹ trong tuổi già, nàng dứng dậy và rạ cửa,

    Cha nàng là Tran Cóng đưa tay giữ nàng lại: "Chúng la đau khổ rỉ cái chết dà dưa con dì. Nay con í rợ rề con nẽn 0 Ịạị sao ỉạỉ từ ho chúng ta thế

    "Cha ơi ! con khống dấu gì cha ri xưa kia con ỉà Nữ thần hừng dầu trên Thiên Cung. Vì hi lỗi íâm nên phẫi di đày. Nay đã mãn hạn, con dược trà lại trời. Con vè thãin lại cha mẹ huội V(ï cha mẹ dẻ vì cơn còn giữ lạt trong tâm (rí những ngày sổng dưới mái nhà yếu quý, nay chỉ có hon mà khàng có xác nên con khâng (ỉ dược trân gịan nữa. Càn chá mẹ lã người dã cá ỉ ảm nhiêu việc thiện SUÔI dời nên con
  • Chia sẻ trang này