0113.17 - mabu_af đang soát

7/3/16
0113.17 - mabu_af đang soát
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:
    CÁC ĐẮNG THỜ BÊN TRÁI,

    PHẢI Ở THÁI MIẾU (1)

    L. SOGNY

    Thanh tra binh lính bản xứ

    Thái Miếu ở góc phía dộng nam của Hoàng cung; cân đối đốí diện với Thế Mìếụ người ta còn gọi là Tâ Miếu hoặc Tả Tổ Miếu - vì nó ỡ hên trái so với ngai vua ngồi. Miếu này để thờ 9 vị chúa của Đàng: Trong gọi chúa Nguyễn và VỊ tiẽn đế Nguyên Kim, thụy hiệu là TriệuI Tổ Tịnh Hoàng đế. Cũng như ở Thế Miếu, cũng có hai hành lang bên trái và bên phầi Tã hữu Tùng Tự a đó có đặt các bài VỊ những người xứna đánt> đã dóné gốp vào việc dựng cd đồ miền Nạm chống lại Bắc Kỳ, Cao Miẽn và Tây Sơn, cớ 11 bài vị mà 4 phía bên trái thuộc Hoàne tộc và 7 phía bẽn phai là dân bách tánh.

    Các hành lang cũns sắp xếp như ở Thế Miếu; cùng C0 nhà, tường,

    Ị cửa và sân. Chỉ có một chỗ khác là đồi vọng cảnh ngày xưa phía Bắc của íữy thành nay khống còn nữa. Nó cũng gtổng như đồi vọng

    Bài đọc tại cuộc họp. naày 24-6-1914.

    cảnh của raỉếụ kia mà nay cĩủ CÒ11 vỉ trí thôitu . Mỗi bên của vỉ trí, cố hai cửa ngang Diên Hỉ Môn (cửa hạnh phức) đi qua nhà bẽn trái và Quang Hi Môn (cửa ánh sáng) đi qua rihà bên phải, Hai cửa. đều đội một vọng gác nhỏ treo một chiếc trống to bên này vằ một chuông đồng đẹp ở bên kia.

    ỹ''

    ộ gíữa của thành đổi diện là cống vào Miếu gọi là Thái Miếu Môn mà đứng ngoài nhìn vào thấy một bức hoành chữ vằng nền đỏ.

    Cúng.tể: Trong hài trước tôi chứa nói dán phần có ỉitn quan để té lễ trong các hành lang bên ti'ái và bên phải. Cũng chưa muộn, tôi đưạ vài chi tiết về vấn đề nàỵ để nói đến các dợt cúng tế giông nhạu ở Thái Míéu và Thế Miếu.

    Người ta bìéi rằng trong các hạnh lang ấy được sắp xép dể các người đặc hưởng đến tập hợp, ít nhất ỉà bằng những tấm bài vị trong tất cả các đợt cúng tế hoặc ky giô, đế ghi nhớ cổng lao của cáe linh hồn tiên đế đã băng hà, những bậc thầy ngày xưa của mình. Nhưng ngoài các đợt cúng tế trong miếu đế hệ có các bài vị ấy chứng kiến; các đựt ấy cũng có khì dành cho những cúng té khác thường tố chức như cảc miếu khác cùng ngày hoặc có khi khác ngày. Những ngày quan trọng như:

    Dây là lời kể của những người ở tại Dại Nội "Von 2 Cảnh ấy eợi là Tuy Thành Các'1 (lau tỉnh lặng). Ngôi nhà nay đẫ trồ thành hư hỏng đầu niên hiệụ Hàm Nghi (18.85) vù cỏ nguy cơ đổ sụp vì các cột gỗ bị mục và không còn gỗ lim cần thiết để sửa chữa, Mụốn tránh ui nạn, hai vị phụ ehắnh (Tôn Thất Thuyết-và Nguyễn Vạn Tường) ra lệnh tháo gô nhà và thế nên ngày nay chỉ có cái nền cao 2(íctn.

    Nhựng theo lời ke của mội ngưởi làm d đây từ năm 1885 chỉ có cái cớ duy nhất làm trồ ngai cho tu sủa ỉà chiến tranh, tức là “hữu sự" (có \ iệc) theo cắch nói của người Ail-nam» ở đây nên hiểu tá thời có “nhiều khò khăn".

    Le Ngũ hưởng: li 5 íần cúng đúng theo 5 ngày sau: 1. Mồng 8 tháng Giêng (xuân). 2. Mồng một tháng Tư (hạ). 3. Mồng một tháng 7 (thu). 4. Ngày mồng một thắng Mười (đông). 5. Ngày 22 thắng 12 hay hiệp hưởng, hưởng lễ chung.

    Lễ Nguyên đản: lễ ngày đầu nãm (tròng 3 ngày) và ỉễ "Đông chỉ" (mùa đông) mà người ta không định ngày trưốc nhưng luôn luôn trong tháng Chạp.

    Còn trong Thế Miếu, người ta cúng loại nhất thì ở các bài vị chỉ có quả phẩm và thức ãn loại ba. Cách thức làm cấc thức ăn loại nhất sẽ được nghiên cứu về các miếu đé hệ Thái Miếu và Thế Miếu, Tôi chl nêu lên loại thứ hai. Trên hai bàn ở trưổc mỗi chỗ thờ cỏ: 30 đĩa gồm có gia cầm, bánh, chả nem, cơm, thịt lợn, rượu, cau trầu, thuốc lá, vàng bạc m. Sau đó là "lề Tam nguyên" cóng trong ngày rằm tháng giêng, tháng 7 và tháng 10; cúng các ngày mồng 5 của tháng 5, ngày mồng 7 tháng 7 và ngày mồng 9 tháng 9. Các món ăn cúng trong các lễ trên là: 30 đĩa sau đây: xôi, chè, bánh và trà. Sau cùng là các lễ ngày mồngT và ngày rằm của từng'tháng ':'t người ta thắp hương mà không cúng thức ãn.

    Như vậy tất cả trong năm là 30 ngày cúng lễ.

    Lễ cúng tế: Khi cứng thì có vầi và lạy vào 6 giờ sáng sau phát súng đầu ngày. Cúng tế này do quan chức ãn mặc đại lễ (áo lê, mũ, ủng và đai) ngũ phẩm, và lục phẩm quan văn, thuộc hoàng tộc cho Tả Tùng Tự (hãnh lang bên trái) và tam phẩm, tứ phẩm quán võ, dân bách tánh, ở hành lang bẽn phải. Các vị quan này đều được chỉ định đích đanh và đứng theo số thứ tự trước bàn thò. Tên tuổi cùa các bài vị không được đọc trong các tế lễ. Cắc quan chớc cử hành tê đều đứng

    m Trong 4 vị vua trước, người ta còn đặt thêm nên bàn thờ 1 con lợn nguyên để tế. Lổi cúng này đã bớt đi từ thời Tự Đức để tiết kiệm. Một ông tù ỏ Thái Miếu đã kể cho tôi là được thấy cấc thần linh phẫn nộ vì sự việc này. fỉ' Những ngày trùng với các đợt cung tế thì không cúng nữa.



    *' - J TiMi-ịd« -J-hỉ-]1iÌM, - ì- rum.du dmim au

    , - ị 1 Jii.iall.fui: íl.d Hiù=. - / '!u:ii|d,: d.:,ii.; '¡r(,!\á,.ì,mi, ỊiiVm tiu ,S.;ÉSueni- du Siul. - J r.daii du lli.ii lí:,..

    l " r ‘"'S'““ •’* ‘■‘“•«S-Iit-Ii - 3 Nụ. - i:..iíriwuit(,Éi. ¡(„.Mu ruỊ.du, -

    1 ■ Sân và BiệnThế Miếu - 2. Sản và Điện Thả) Mếu * 3. Điện Thế Miếu - 3‘. Triệu Miếu

    ì" 5ifn 4‘- Đ5n_thở Nsụyển Kim thân phụ chúa Nguyễn Hoảng - 5. biện Thái Hồa

    6. Điện Can Chánh - 7. Điện Lão Phụng Tìẽn {bảò tảng) - e. Nội WJ - 9. Trại lỉnh Đại Nội -10. Vuởn

    (uoqisl U9ỊH *'iJI,d.











































    .. ữ I I . |( từng người một trưốc bàn ửify họ lạy bốn đợt bốn lạy trưỡc một bàn thờ như vậy cả bốn đợt là lố lạy:] 3 đợt trong khi dâng rượu, và đợt sau ỉầ khi cúng trà. Chỉ lạy Ưong nhữn^ kỳ cúng mà chỉ thắp hương.

    Và đây là tiểu sử cùa các người tôi trang mà cấc bài vị được đặt trong nhà bẽn trái và bên phải của Thái Miếu.

    TẢ TÙNG Tựfl)

    (4 bàn thờ, 4 bài vị: như vậy là mỗi bàn thờ 1 bài vị)

    1, Tôn Thất Khê '2' Con thứ 10 của vua Tháỉ Tổ (Í1 em của Hỉ Tôn Mt một người giàu có, có nhiều sách lược mà ông sử đụng thành công lớn' lúc đầu ồng là Chưởng Cơ 151 vai tước Công hầu Tướng Quang. Mùa xuấn năm Bính Dần, niên hiệu 12 đdi Hi Tôn (1624) ông được phong lầm Tổng đổe VỘỊ chức tưốe Quận cồng hạng 3 161 và đã được vụa giao quyền chỉ huy mọi việc văn, vổ trong nưềe. Vữa lúc mới lẽn ngôi cứa Thần Tổn l7\ vị quan caí trị Quãng Nam

    m Hành lang dành chó TÔĨ1 nhãn phủ.

    Các tiểu sử đều lấy ở "Đại Nam chánh biên liệt truyện”. lỉl Theo Ngọc Điệp Cấc tin tức của R. Grband, Khê sinh ngày mồng 5 thấng Giêng, năm Kỷ sôu, niên hiệu 12 Lê Quang Hưng (19-24589). Chức tước: Tổng trấn quận công, chểt ngầy 12 thảng 7 năm Bính Tuất, niên hiệu 4 Lê Phúc Thái (22- 8-1646). Thụy hiệu: Khai Quốc tôn thần Tôn nhơn phụ, Tôn nhợn lịnh, Mộ: làng Hiền Sĩ, huyện Phong Điền (Thừạ Thiên) có 29 đứa con (13 con trai và 16 con gái).

    Nguyễn Hoàng, chúa đầu tiên Dàng Trong (1558 - 1613) sinh ở Bắc Ky, ngày 26-9-1525, mất tai Huế ngày 21-5-1613. Thụy hiệu Thái tổ Gia [>ũ Hoàng đế.

    Nguyễn Phúc Nguyên, tên gọi Sãi Vượng, chua tliứ hai ở Đàng Trong (1613 - 1635), thụy hiệu HỊ Tôn Hiếu Ván Hoàng đé Chức vụ quân sự: Xem Tập san năm 1914 số 2.

    Tong trân Tướng quận công.

    01 Nguyền Phúc Lan, con thứ 2 của Nguyễn Phúc Nguyên, Vị chúa thủ 3 ớ Dàng Trong cởn được gọi lạ Công Thượng Vương (1633 - 1648), thu ý hi ọ ú Thần Tôn Hiéu Chiêu Hoàng đế.

    tên Anh ‘n dấy binh nổi loạn, Tôn Thất Khê cầm quân bắt sống Anh và chém đầu. Để khen thưởng, vua ra lệnh ban cho ấn đồng và vạt giường sơn đen, ông mát vào mùa thu năm Bính Tuất (1646) niên hiệu 11 Thần Tôn, thọ 58 tuổi, vua rất tiếc. Thụy hiệu: Trung thằn, bà con vua, được nâng đặc biệt lẽn làm Quổe trụ, đảm nhiệm quyền kiểm sát lãnh đạo quốc gia, Tổng đóc với Tước quận công hạng ba. Chức li: Cổ vấn trung thành llf. Cổ đền thờ d làng Nam Phổ Đến niên hiệu 4 Gia Long (1805) ngườỉ ta đánh giá ỗng là ngườỉ trung quân bậc nhát trong Thái Miếu. Vào niên hiệu 12 Minh Mạng (1831), thụy hiệu được nâng lên: Thần dựng nước, đứng đầu Phủ Tôn Nhơn. Chức lê: Dững cảm và trung thành, Hoàng Nghĩa Hưng H).

    2. Tôn Thất Hiệp (Í1 con thứ 4 của Thái Tôn í6' em của Thể Ton (7’ lúc đầu làm Chưởng cơ. rất nhanh nhẹn và thông minh, ông chỉ hụy

    cả những quan võ cao cấp nhất nhờ tài trí đặc sắc của ông và làm cho họ tuân thủ phục tùng.

    Mùa hè năm Nhâm Tý (1672) chúa Trịnh ở Bắc vào Bo Chánh với một lực lượng 180.000 người, Người tổng đốc của tĩnh Nguyễn Triều Tín báo cáo lại với triều đình. Vua cho Tôn Thất Hiệp ra ứng phó tức thì với cương vị Tướng, ông mới 20 tuôi. Khi đến phủ Toàn Thắng, tỉnh Quảng Bình ông chia quân thành các trạm và trại, ông cố những sĩ quan giỏi có tiếng như Nguyễn Hữu Dật; mặc dầu ông còn ít tuổi nhưng mọi người đều phục tùng ồng. Các đội quân phía Bắc ỷ lại về só lượng đông nên tiến nhanh đến Linh Giang. Chúa cho đắp cao các cột cờ trên lũy thành Trấn Ninh để dặt trọng pháo và tuyển mộ người địa phương vào quân đội mới. Các toán quân này dựng trạm quân để giữ các đường vào và các con đường khống có phòng thủ ở vùng núi. Ông ra lệnh tấn cỡng và tiến lẽn trước với tất cả các sĩ quan. Vị tổng chỉ huy quán lính phía Bắc tên là Lê Thị Hiến không đánh nô'i, bỏ chạy. Ông đuổi quân phía bắc đến tận núi Lệ Đe Sơn rồi trở lại Huế. Từ đó chấm dứt cụộc chiền giữa Đắc - Nam (1672 - 1673); cả hai miền lo công việc nội trị về hòa bình và kíển thiết.

    Từ ngày ông nhận sứ mạng cao cả ra đánh đuổỉ quân Trịnh, ông hoàng đã tỏ cho tất cả quan võ và lính tráng sự thông cảm, sự thương yêu của ông đối với họ, ông đã có một cuộc đờỉ gương mẫu. Khí hòa bình lập lại, ông cho xãy một ngôi chùa nhỏ ở Kinh đô để an tịnh vá kinh kệ. Đó là nơí tìm nguồn vui và hạnh phúc của ông. Không bao

    ‘6> Thái Tôn hay Nguyễn Phủc Tần còn có tên ỉà Híèn Vươns vị chúa thứ 4 ỡ Đàng Trong (1648 - 1687), thụy hiệu; Thái Tôn Hiểu Triết Hoàniĩ đé.

    a> Thế Tôn liay Nguyễn Phức Khoát, còn có tên là Võ Vương vị chúa thứ 8 <í Đàng Trong, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1714; trị vì ỉừ năm 1738 đến 1765. cỏ thể viết sai và Tôn Thất Hiệp là em không phải của Thế Tôn mà của Nguyền Phúc Trăn, tên Ngãi Vương, vị chúa thứ 5 Đàn-a Tromi (1687 - 1691).Thụy hiệu Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế.

    giờ ông đam mê và sống tự do phóng đạng, bị sa đọa hay ìàm mất trật rư xã hội. ông xứng được tôn lên vị thánh.

    Đên hè cua nằm Ất Mão (1675) ông bị mắc bệnh đậu mùa và mất năm 23 tuổi. Cái chết của ông là một tổn thắt vô cùng đớn đau đối vổi vua nền ngài đã than thỏ: "Nhờ con của trim mà đất nước mới cổ hòa bình và thị nỉ vượng; những công lao này đổi với xã tắc í à không sạo kể xiết. Tại sao trời đành tước đi của trầm sớm vậy!"

    Thụy hiệu: Trung thần đã hoằn, thành xuất sắc nghĩa vụ và đã cố cống xây dựng nước. Tưởng, tham mưu trưởng các trung đoàn cẩm y vệ; Thỉlu úy danh nghĩa Quận hạng ba Hiệp. Chức lễ: "Trong sạch, tiết trinh”, có dựng một miếu thờ ờ làng Vân Thê.

    Đen niẽụ hiệu Gia Long thứ 4 (1805) ông được đưa lên hàng Trung thin có tham gia xây dựng nước lớn, phồn vinh và bài ví cúa ông được dặt vào một ừong hai nhà thờ ở Thái Miếu. Đến Minh Mạng năm thứ 12 (1831) thụy hiệu được đôi thành: Trung thần, bà con vua, có kiến thiết đất nước chữ sự phủ Tốn Nhơn và nâng lên đặc biệt hạng Dũng tướng, Tổng tham mưu trưởng của Trung quân. Chức lễ: vô đích, phong Quận cổng hạng ba. Oai

    3, Tòn Thất Hạo con trai cùa Hưng Tô <2> lúc đầu chỉ Cai Cơ.

    Trong cuộc chạm trấn rnầ ông tấn công, ông bị giết trên chiến trưởng.

    Năm 1805, Gia Lotìg năm thứ 4, ông được truy tặng chức cố vấn quốc gia, quận công hạng nhì chức lễ: Trung thần. Bài vị đặt tại

    u> Khai quốc Tồn mần Tôn nhơn phủ Tă tồn chánh Đặc tấn tráng võ. Dại tướng quân trung quân đô thông phủ chưởng phu sự, thụy Hiếu nghi phong Oai quốc công.

    m Hưng To, thụy hiệu ehọ cha vua Gia Long.

    Thái Phó quốc công.

    Thái Miếu. Miíih Mạng năm thứ 12 (1831) ống được thăng chức Thần Trung Thành, bà cọn vua có tham gia phục quốc, Phó phu Tốn nhơn. Chức lễ: Kính trọng và hòa nhã, chức Hoàng của Tương Đương111.

    4. Tôn Thất Đồng: Con thứ hai của Hưng Tỏ, lúc đầu ià qu4p thủy quân '1|. Mùa hè năm Ất Vị (1775) ông đi theo Duệ Tôn 151 vằo Nam kỳ và tham gia ohỉến đấu chổng phiến loạn. Ong bị giết khi Long Xuyên bỊ quân Tây Sơn chiếm vào mùa thu năm Đinh Dậu (1777),

    Đen Gia Long năm thứ 4 (1805) ồng được tặng thụy hiệu: Trung thần, bà con vua, đã họàn thành tốt đẹp nhiệm vụ tham gia phục quốc và được nâng lên đặc biệt hàm phụ chánh: Tướng, cố vấn với chức sắc Quận cộng hạng nhì, chức ll: Tận tụy, trang thành í4) Bài vị thờ ở Thái Miếu,

    Dấn Minh Mạng năm thứ 12 (1831) được phong cấc thụy hiệu: Trung thần, bà còn vua, tham gia phục quốc; Phó phủ Tdn nhơn, chức lễ: Tôn kính vằ Đạo đức - Chức sắc Hoàng thân Hải Dông.151

    HỪƯTÙNG Tự

    Gồm 7 bài vị sắp xếp trên 4 bàn thờ ll>,

    1. Nguyễn Lf Kỷ quê quạn tỉnh Hải Dương, sau đến ở Thanh Hóa, con ông Nguyễn Minh Biện, cọ chức Său: Phong chức đặc biệt phụ chánh. Tướng Thự Vệ Sứí,; trong triều Lế.

    Ong là ánh câ của hoàng hậu Triệu Tổ <Jl và có tước hiệu: cố ván quốc gia, Quận công oai hạng nỉủ (Sj.

    Nãm Bính Tuất (1526) Mạc chiếm ngôi của Triệu Tô. ông trốn đi sang Ải Lào để tuyển mộ lính chổng lại Mạc và phục hồi nhà Lê, Trong lúc đó Thái Tổ í6’ chỉ mới lên 2 tuổi, việc nuôi dạy gỉao chọ Nguyễn Ư Kỷ, ông đã xem ống hoàng như con đẻ của chính mình. Khi ông này lẽn 17, 18 tuổi ông cổ gắng dạy cho ông hoàng lòng yêu nưởc và biết nghĩa vụ.

    Khi mà Thái Tổ được ch: định vào Tổng trấn Thuận Hóa í7), Kỹ đi theo cùng đem iheo cà gia đình và tất cặ tôi tớ, Nhờ sự chỉ vẽ sáng

    (1' Đê đành chữ. những công thần bách tánh,

    í2> Bàn thờ thứ nhái: Nguyền t r Kỷ; Bàn thứ 2: Đào Dưy Từ và Nguyên Hữu Tân; bàn thờ thứ 3; Nguyên Hữu Dật và con ông là Nguyễn Hữu Canh; bàn tliứ 4: Nguyễn Cưu Dật và Nguyễn Cư Trinh,

    [1' Dặc Tấn Phụ quốc 'lìiượng tưởng qụãn sự vệ sứ.

    Ml Vợ của Nguyễn Kim, cha cửa chúa Nguyễn Dàng Trong đầu tiên vào Nam - Nguyễn Kim mẩí ở Bắc kỳ ngày 25-5-1545, không làm vua, thọ 78 tuểi. T|ụy hiệu Triệu Tổ Tĩnh Hoàn tỉ đế.

    ‘5Ì Thái phó Oai quéc công.

    ífi' Nguyên Hoàng, vị chúa đàu của Đàn-S Trong. Con của Nguyễn Kim như đã nói ở trên.

    171 Phần đất gồm tóc địa phận dài từ Quảng Bình cho đẹn cả phủ Diên Bàn tỉ (Quảng Nam). Nguyễn Hoàng, Uiụy hiệu Thái To đì nãin "i 558 và đặt dinh cơ tại Ai Tử, tĩnh Quảng Trị.

    suốt do dày kỉnh nghiệm và nhờ mứu lược cua ống mà vua có thể làm việc trong y&n tĩnh, thịnh vượng của triều đại chúa Nguyễn Đàng. Trong. Người ta khẳng định ông Nguyễn Ư Kỷ là vị công thần có công nhất đóng góp trong dựng nước. Bàn thồ ông đặt trong miéu cổ ở Quí Hương 'l! cho đến Gia Long nãm thứ 2 (1803) triều (tình quyật đính, do có sự cải tổ trong thỡ cúng ở miếu cấc tiên đế, là khôn| cúng ông Kỷ vì ông là bà con bên hoàng hậu Triệu Tố chứ khồng phãi là hoàng gỉa.

    Đắn niên hiệu 5 Thiệu Trị (1845), vị thân thần (Trụ thớ 4 của triều đình) Võ Xuân cẩn t2’ xin nghiên cứu lại tước vị cúa Nguyễn Ư Kỷ và công trạng của ông quan này.13'

    Vua ra lệnh cho Bộ Lễ phải sưu tầm và tâu lên vua hay, sau khỉ đọc các hồ sơ dâng lên cho vua, ngài phong thụy hiệu: Trung thần có tham dự phục quốc được nâng lền đặc biệt hàm Dũng ưáng Tướng, Tham mưu trưởng Trung quân, cố vấn thứ nhất. Chức ỉễ: Thanh khiết và trung thành, .với tước Quận công Gai hạng nhìi4>. Bài vị đặt thờ Thái Miếu, hàng đầu hành lang bẽn phải.

    2. Đầo Duy Từ con cùa một diễn viên hài kịch Đào Tá Hán có một diện mạo phản ánh sự thông minh và thiên tài rất đặc biệt. Ông

    TẬP ì

    thấu suốt các sách cổ điển và rạt có khiếu tròng vãn học. Cũng rất tài trong khoa học huyền bí và bói toán ngoài ra ông có nhiều tư chất về cai tậ và quân sự. Tiếng tăm của Thái Tể, tỉnh cảm mà ví vua này mưa móc xuống nhân dân, sự quan tâm đến các sĩ tử, cách lãnh đạo có uy tín đối với quý tộc và người cố quyên oai trong nước đã quyết định cho ông tiến vào Nam. Khí đi đến huyện Võ Xương m ông được biết vị Tông đốc Quy Nhơn Trằn Đức Hòa ỉ à một vi quan được vua chuộng. Ồng đến ngay Quy Nhon và xin đến ở giữ hâu cho một bá hộ ở lạng Tùng Châu, ông Trằn Đức Hòá khi gặp ông một ngày nọ, rất dội ngạc nhiên và có câm tình thắm thiết với ông ngay và chọ cưdi luôn con gái của Tổng đốc. Đào Duy Từ thường hay ngâm các ' đoạn thơ Ngọa Long Cương, tự cho mình như Gia Cất Lượng tĩJ nên Trần Đức Hòa đã nhặn xét về ông như sau: "Duy Tữ phải chăng ỉà mội Ngọa Long cụ a thời đại chúng ta?", ông giới thiệu với vua Hi

    Tỉnh Quảng Trị.

    Đây là một vài ghi chép về vấn đề này do ông Hồ Phú Viên thám biện tòa Khâm sứ Huế: Gia Cát Lượng hiệu Khổng Minh thường gội như thế, sống ẩn dật trên đồi Ngọá Long dong thời Tam quốc như m¿t triết gia dã chán nản cuộc đờì và các đấu tranh chính trị giöa ba vị chua giành nhau ngôi báu, các chủ tưống ấy ỉà Tào, Ngô, Lưu BỊ

    Lưu Bị, một vị hẳo hảọ, tự çho là con chầu các vị vua chúa nhưng chiến đấu uể oải chổng lại hai lực lượng láng giềng, saụ nhiều thất bại, sự mong ưốc ấy dã tắt đẳn. NhỢ có những íờỉ khuyên, Lưu Bị ùm đến Ngọa Long câu khẩn nhiều lần mới đưực yết kiến Kliổng Minh. Đến lần thứ bá, vị này mởĩ rồi khỏi flctí ẩn dẩỊ và mỏi chịu nhận dọng dạéh làm. Thái sư, Trí thổng minh tuyệt trằn của vị thượng thư này kèm theo tàỉ ngoại giao sáng suốt đã làm thay đổi bộ mặt cùa thời cuộc thuận lợi cho vua Lưu Bị. Các biên giới lan rộng đần lấn cả lãnh thổ Tào và Ngô; đất nước đã trở tyi phồn thịnh. Nhưng không may là đất nước Ltru Bị mới vừa được mở mang thì một sự cố ập đến là cái chết đột ngột của Khổng Minh. Sau đó là sự tan rã vởi vị kế thừa Lưu Bị và đất nựớc lại sa vào Uty Tào.

    Tôn, mà chỉ một lần tiếp xúc thôi đã phong Đàơ Duy Từ lẽn ngay chức quan võ tam phẩm, phụ trách tham mưu với tước danh Nam tước Lộc Khẽ m chỉ huy quân đội và sự nghiệp hành chính chính trị đất nước.

    Đào Đuy Từ vạch ra nhiều chiến thuật và mưu mô chiến‘đắi chống chúa Trịnh và cho xây nhiều lũy thành phòng thủ ỏ biên gíớỉlĩt. Ông mong vua cải tổ cách tuyển binh, dạy quân sự cho lính, cùng chọn lấy người khỏe mạnh và phải đi duyệt, kiểm tra, tổ chức cuộc thỉ để chọn những người tài giỏi và có học thức. Thượng thư đầu triều trong 8 năm liền, ông lãnh đạo các công việc nước một cách hoàn chỉnh đày khả nâng và đã có nhiều thành tích chói lọi. Ông được xem như một vị trúng thần lỗi lạc đã có nhiều công lao xây dựng đất nước mới.

    Ông mất vì bệnh vào mùa đông năm Gỉâp Tuất (1646) thọ 63 tuôi. Cái chét của ông là một mất mát lớn trong lòng vị chúa không bao giờ nguôi. Thụy hiệu: Nhà chiên lược, trung thần vào bậc các Đông đức, đưa lên đặc biệt hàng Trụ quốc với băng vàng tím có ghi chức lễ Vinh lộc Đại phu, quan đầu triều Thái thường với tước .Công hầu Lộc Khê chức lễ: Trung thành và độ lượng.

    Ông được chôn cất à làng Tùng Châu và vua ra lệnh xây đền thờ ông.

    Đên Gia Long nãm thứ 4 (1805) cuộc xét Iạí tình trạng công lao jủa ông đã nâng ổng lên .ngoại hạng trung thần dày công xây đựng nước mới và bàỉ v| của ồníĩ được đưa vào hành lang bên phải của

    “* Vệ úy Nội tán Lộc Khê hầu

    ứ' Lũy thành Trườn« Dục, xây năm 1630 và liỉy Dồng Hới năm 1631.

    Hiệp mưu đòng đức Công thần dặc tấn trụ Quốc kim tử Vinh Lộc đại phu ¡hái Ihưíỉng tự khanh Lộc Khê Hầu, chức Thái sư của triều đình có ở Trung loa từ xưa.

    Thái Miếu. Đến Minh Mạng năm thứ 12 (1831) thụy hiệu được nâng thành Trung quân đóng góp vào dựng nước mới, nâng lên bậc Vinh Lộc Đại phu (i) Trụ thớ tư, cố vấn quốc gia, chức lễ: Quận công bậc hai Hoàng.

    3. Nguyễn Hữu Tấn: quê ở làng Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau vào định cư ô Bình Định, mạo diện khôi ngô, cường ưáiịg lại có một ý chí sắt đá.

    Hi Tôn năm thứ 18 (1629), ông Hội tán Đào Duy Từ nằm mơ thấy một con hổ đen từ phía Nam vào nhà ông. Một lúc sau hoàn hồn, ông thấy Nguyễn Hữu Tấn đến, ăn mặc đồ đen. ông hỏi tuổi và biết Tấn sinh năm Nhâm Dần (năm con hể) ông thấy có một sự trùng hợp trong biến cố siêu nhiên này nên ông giữ Nguyễn Hữu Tấn lại. Sau khi chuyện trò với Tấn, ông Đào nhận thấy đây là một bậc tàỉ ba và gả con gái cho. Hi Tôn biết mặt Tấn, Ịập tức phong cho Tấn làm "Người càm cờ của vua" (1). Tấn đã bỉết cách lấy lòng tin yêu của cấc người chỉ huy, sự kính nể của những người hạ cấp và ông được thăng liên tục Cai cơ và Chưởng cơ.

    Quân Trịnh lại đánh lại vào năm Mậu Tỷ (1648) niên hiệu 13 Thân Tôn* hoàng tử Thế Tử t?> nhận lệnh ra ứng chiến và chặn lại ở cửa sông Nhật Lệ M'. Nguyễn Hữu Tấn đí theo, dẫn 100 quãn Hùng TưỢngiSì và tấn công vào ban đêm. Cuộc chiến đấu rất ác liệt chống lính phía Bắc, gây nhiều thương vong và bất số lớn tù binh.

    _ỊL

    n’ Khai quốc công thần Đặc tấn Vinh Lộc Đại phu Đông các Đại học sĩ Thái sư thụy Trung Lương Phong Hoằng Quốc côn«.. í3) Đội tnlởng Diên quăn Trảm kỳ trường.

    131 Sau này Hiền Vương lên ngôi sau vài tháng (1648).

    m Nhật Lệ - sông ở Quảng Bình.

    ts' Hùng Tưựng: "voi anh hùng", đoàn quân đưa voi ra trận.

    Mùa xuân nãm Ất Vị, niên hiệu 7 thời Thái Tôn (1685), tướng quân chỉ huy quân đội Trịnh vào chiếm Bố Chánh, Vua chỉ định Nguyên Hữu Tấn chỉ huy quân đội, phong chức Nam tước Thuận Nghĩa. Đốc chính Nguyễn Hữu Dật cũng tham gia và cả hai ông dẫn quân Đàng Trong lên đường. Đen sông Linh Giang, các ône đánh bai Tham đéc Bắc kỳ chạy trốn. Nguyễn Hữu Tấn chiếm các chẽ ẩn trú của giặc và thù tiêu trại "Tam Hiệu", chỉ huy ỡ đó là Tất Toản bô chạy, Ông đuôi quân thù đến Bãn Xấ'lJ. Rút chạy cả tướng chỉ huy, thật là một thất bại nhục nhã cho quân Trịnh.

    Khi biết tin chiến thắng, vua VUỊ mừng khôn xiết và kêu lên: "Hữu Tấn và Hữu Dật quả là hổ tướng".

    Nguyễn Hữu Tấn giữ chức thượng tướng, nghiên cứu các sơ đồ tác chiến cùa các chi én dịch, ở phía Bắc người ta tốn ông là Đại hô’ tướng '3|; tên tu oi của ông làm cho họ khiép sợ. Danh tiếng ông song đồi với tướng Nguyễn Hữu Dật, ông được xem như là vị tưống tát, trung thành có cống dựng nước.

    Ông mất với bệnh lão vào thu nãm Bính Ngọ (1806), thọ 65 tuổi, rát được vua mến tỉéc. Và đây là thụy hiệu cùa ông: Trung thần, đã cống hiến nhiều chiến lược với cương vị Tổng tham mưu tníửng của Tả quân, Tướng chỉ huy trưdng với tước Quận công hạng ba Thuận1*'.

    Đến niên hiệu 4 Gia Lona (1805), người ta công nhận ổng là người xứng đáng được tôn là thần trung đã cố công trạng nhiều trong việc dựng cổ đồ xã tắc và được xếp ntioại hạng, bài vị đặt thờ tại Thái Miếu.

    líl Tỉnh Hà Tinh, trên đường bộ dưới chân núi Hồng Lĩnh,

    Hô oai Đại tướng.

    1,1 Hiệp mưu Tá lý công mần Đặc tấn Tả quân đô đốc Phủ chưởng Phủ sự, Tieí tiiuận.Qụận công.

    Đốn niên hiệu 12 Minh Mạng (1831), chức phơng lên trung thần xây dựng đất nước và nãng cắp đặc hiệt Tráng Dũng và Tướng tài; Tống tham inưu hưởng của Tả quân Thái sư. Chức lễ: Tướng võ với tước Quận cõng hạng nhì Anh' .

    4. Nguyễn Hữu Dật: quẽ ở Quỵ huyện, con quan Nguyên Triều Văn - quan vãn kiêm chức vụ quán sự trí thông minh và tài giỏi.

    Nãm Kỷ VỊ, đời Hì Tốn thứ 6 (1619), dù là quan văn, í^ng vẫn lo việc bỉnh bị. ông đánh quân Trịnh nhiều phen và chiến công lẫy lừng trong công chúng.

    Năm Mậu Tý, nguyên niên đời Thái Tôn (1648) ngoài cuộc chiến tranh chống quân Trịnh, ông đề nghị đặt cấc đài quan sát có pháo tín hiệu trong tất cả các pháo đài của tỉnh Quảng Bình. Cách bố trí này có thể biết tin rất nhanh mọi sự kiện biến cổ xây ra và sự đi chuyển của địch. Ông còn cài cách bố phồng ở lũy thành Trường Dục để có thể đặt kho gạo tiếp té cho quân đội. Vua ban thưởng chức Đốc chiến với tước Nam tước Chiến võ. ở tại sông Gianh với Tiết chế Nguyễn Hữu Tấn, ông chia quân làm’ ba đạo tấn công trại lính Hà Trung, ông đã đánh tan các tướng địch và bảo vệ phòng thủ 7 huyện Nghệ An mới vừa chiếm lại của Trịnh. Ông đã lừng danh sau các chiến thắng dòn dã chống đội quân từ Bắc tràn xuống, ở đâu ông đánh, là ở đỗ thắng trận. Danh tiếng ông vang lừng trong dân chúng, ông trở thành nhân vật truyền thuyết và người ta ví ông như Khổng Minh và Bá Ồn.

    ỉ, Nguyễn Hữu Dật mất xuân năm Tân Dậu (1681), thọ 78 tuôY Vua rắt đau đớn trước sự mắt mát một tôi trung dũng, ổng được truy tặng trung thần, có tham dự phục quốc đã cùng chịu khổ sở gian lao trong lúc nước gặp nguy, và đươc nâng lên cấp Tổng chl huy, tham mưu trưởng của Tâ quân và các trung đoàn cẩm y vệ với tước Quận công Chiêu, hạng baíf).

    Niên hiệu 4 Gia Long (1805) ông được xép: trung thần ngoại hạng và bài vị ông đặt ở hành lang Thái Miéu,

    Đến niên hiệu 12 Minh Mạng (1831) ông được truy phong lên cấp trung thần có tham dự phục quốc, liệt hạng Tráng dũng Tướng quân; Tham mưu ưưởng của Hữu quân; cé vấn; Chức lễ Dũng cảm, tước Quặn công hạng nhì lz\

    5. Nguyễn Hữu Cảnh: con ông Nguyễn Hữu Dật, đã sớm tham gia chiến đấu bên cạnh cha với tháỉ độ tốt đã đưa ông sớm có công trạng và chức Cai đội.

    Năm Nhâm Thân (Ị692) nguyên niên đời Hiến Tôn vua Cham- pa. Ba Tranh nổi dậy và chiếm Diên Ninh'4', Được vua cử làm Thống binh quân cảnh và giao chiến vởi bọn xâm lược rồi đánh bại chúng. Vua Chăm bị bắt làm tù binh và bị giải ra Hué, toàn bộ đắt Chiêm Thành bị sất nhập vào đất nước dưới tên Thuận Thành. Hữu Cảnh được phong chức Chưởng Cơ và làm tổng trấn Bình Khương.

    Xuân năm Mậu Dân (1698) ông được vua ban cho chức Thông suất vối nhiệm vụ đưa quân đánh Cao Miên. Dân đầu đơn vị, ông chiếm Đông Phố mà ông chuyển thành một hạt mới và ông đặt tên là Phủ-Gia Định. Ông kêu gọi nghề chài lưới séng nổi ưên sông của các tỉnh từ Bố Chánh đến hết phía Nam đến lập cư ở cãc vùng đất mới chiếm. Ông lập các làng xóm và đưa đất hoang vào vụ sản xuất, lập thuế đất và thuế thân. Khi về, vua lại mời giữ lại các chức cũ đã phong cho ông.

    Mùa thu năm Kỷ Mão (1699) vua Cao Miên Thất Thu m phất cờ nểi dậy chống lại triều đình. Nguyễn Hữu Cânh, nhận sứ mạng đi đánh quân Cao Miẻn với cương vị Thống suất. Thất Thu sợ quá chạy trốn và Thất Yêm<2t xin quy hàng, ống vào Pnổng- pênh và hòa bình lập lại ở đó, ông đưa quân đến chãụ Tiêu Mục và báo tin thắng trận về Huế. Một thời gian, sau, ồng bị thổ huyết và chết khi đi đến sầm Khê. Ông mới 51 túôì và cái chết cùa ồng là một mất mát lổn lao đối vói vua. Thụy hiệu: Trung thần, Sĩ quan phụ trách tham mưu, được đặc biệt nâng hàm Tướng sư đoàn <íl, chức lễ: Trung cầu.

    Niên hiệu 4 Gia Long (1805) ông được xem như vị đại thần ngoại hạng, bài vị ống đặt trong Thái Miếu. Đen niên hiệu 12 Minh Mạng (1831) thụy hiệu của ông là Trung quân cố công dựng nước; Tướng anh tài, dững câm; Tướng chỉ huy trọng pháo, có vấn, chức lễ: Dũng' cảm với tước nam tước Vĩnh Anl4'.

    6. Nguyễn cửu Dật; quê ở Quí Huyện, con thứ ba của ông Nguyễn Cửu Pháp, người gan dạ tuyệt vời và dũng câm vô song, có

    đày đủ những yếu tố của một chỉ huy quân sự. Mới đầu là Đội trưởng của quân Tả Tiệp.

    Mùa đông năm Quý Tv (1973) khi mà quân Tây Sơn của Nguyên Nhạc và Nguyên Huệ đánh các mặt, ông đi theo vị chỉ huy tên Huy có nhiệm vụ đánh giặc ở Quảng Nam đang chiếm đóng trại tiếp tế Mỹ Thị. Nhờ sống kién của ông, bao vây quẫn giặc và đánh cho thất bại phải rút. Khi vua biét được tin này õng Dật được chỉ định làm Nguyên soái Tâ quân, Tướng Quận công hạng ba và được giao sứ mạng tiếp tục chiến đáu. Trong trận, ngồi trên voi ông xông đầu quân. Ồng làm cho kẻ địch phải thát đảm vổi bộ mặt đỏ hồng hào và ông đỉ đâu là dẹp yÊn đến đấy. Người ta xem õng • hư một Quan Vân Trường <:i vì với một ít quân ống luôn luôn chiến t ¿ng các kẻ thù dù có số lượng đông hơn; ông chiến thắng 10 trận và ông đi đâu là quân thù khiếp sợ đến đấy, thất đảm khi thấy ông, mất vía trước khi đánh,

    Trong mùa đông năm Giáp Ngọ (1774) các lực lượng Bắc kỳ tràn xuống chiếm đất nước, vào Huế. Vua Duệ Tôn phải trốn vào Quảng Nam có đem theo Dật inà Ong này đã khuyên vua nên chuyển vào Gia Định để mục đích tỏ chức lại phòng thủ và chuyển sang tấn công. Vua đì trên thuyền và ông Dật trên một chiếc khác kèm theo để bảo vệ thuyền vua. Trong 18 ngày đường trẽn biển họ bị băo cuốn đi cả Uíiười lẫn của cải.

    w

    Niẽn hiệu 9 Gia Long (1810) ông được nhấc lên hàng Công thần trung thành '?l. Đến niên hiệu 21 Minh mạng (1840) được truy phong do trường hợp đặc biệt là Tráng võ Tướng quân Tham mưu trưởng Tả quân và tước quận công Thăng bình hạng ba M1 bài vị được đặt ỗ Thái Miếu.

    10 Tã quân Đại đô đốc Du quận công ® Một trong những tướng giỏi của Lưu Bị.

    (,ỉ Trung tiết Công thần. Tiết: khí tiết hy sinh chiến đấu.

    (4) Kiệt ừết Công thần Tráng võ Tướng quân Tả quân Đô thống phủ chưòng phủ sự Thải bảo, thụy Trung Mẫu phong Thăng bình Quân công.
  • Chia sẻ trang này