0113.19 - Hoàn thành!!!

17/12/16
0113.19 - Hoàn thành!!!
  • PDF
    GoogleDocs
    :rose:

    Điện tên là điện Trung Hòa, như tôi đã nói, Trong thời Minh Mạng vẫn giữ. Nhưng đến niên hiệu 14 của vị chúa ấy năm 1833, lại có một quyết định làm cho cách gọi rắc rối thêm.

    Tài liệu X’II^[Hội điển cuốn CCV xem tờ 29 ab, so sánh với tài liệu II] “Hơn nữa có một tuyên bố: Trong những niên hiệu đầu của Gia Long người ta bắt đầu xây dựng Đại Nội (nơi dinh của vua). Đến thời Minh Mạng người ta xây thêm cả điện, cả dinh thự, lầu, các, vọng cảnh và đặt tên rất quý phái nhưng vẫn chưa có tên đặt cho cung.

    Cũng trong năm ấy (1833) người ta xây dựng vẫn theo các quy tắc luật lệ thường dùng. Đã quy định cần phải có một tên gọi để tăng vẻ quý phái nơi mà vua ở. Lệnh ra là tất cả cái gì trước điện Trung Hòa (và cả điện nữa) mang tên cung Càn Thành còn tất cả phía sau đều mang tên cung Khôn Thái. Vì vậy điện Trung Hòa và điện Cần Chánh và các cung tả hữu kéo dài đến vòng thành, các hành lang, các ngôi nhà vọng cát, tất cả đều thuộc về cung Càn Thành và phía cung Khôn Thái cũng như vậỵ.

    Chúng ta làm như vậy để cho trường cửu và bất tận như thời gian và sự vĩnh hằng của trời đất”.

    Theo bài này và dựa vào tài liệu II, rõ ràng cách gọi cung Càn Thành không phải để chỉ một điện hay một ngôi nhà và tất cả phần trước Tử Cấm Thành từ điện Trung Hòa mà nay là Càn Thành với tất cả các ngôi nhà nữa.

    Như vậy sẽ gây thêm rắc rối về tên điện Trung Hòa. Người ta chỉ Điện Trung Hòa bằng cách goi điện Trung Hòa của Cung Càn Thành. Cách gọi này chúng ta đã từng thấy trong sử sách của Minh Mạng từ thời ấy.

    Tài liệu XIV^[ Thục lục chính nhất cuốn CLVI tờ 15a so sánh với Hội điển cuốn CCV tờ 29b.] “Năm Ất Vị niên hiệu 16 Minh Mạng vào tháng 7 (24 tháng 8 - 21 tháng 9 năm 1835) người ta sửa chữa lại điện Trung Hòa của cung Càn Thành. Lệnh xuống cho Thống chế Nguyễn Tăng Minh và cho Tham tri Hà Duy Phiên điều khiển công trình.

    Cách gọi rườm rạ ấy khó dùng trong hàng ngày nên người ta rút gọn lại:

    Tài liệu XV^[Thực lục chính nhị, cuốn CCV, tờ 6a .] “Năm Kỷ Hợi, niên hiệu 20 Minh Mạng vào mùa thu tháng 8 (8 tháng 9 - 6 tháng 10 năm 1839)... người ta đổi tên gọi điện Trung Hòa của cung Càn Thành bằng tên điện Càn Thành (điện Trung Hòa cũ đã có tên Trung Hòa nhưng vì không muốn tên trùng lặp nên đã đổi đi).

    Chính là một ghi chép của nhà viết sử đã cho lý do của quyết định của vua.

    Sự chỉ định ấy chỉ để gọi điện Trung Hòa. Cả phần trước của Tử Cấm Thành vẫn giữ tên cung Càn Thành trong khi đó tên điện Càn Thành được gán ghép cho Cung Càn Thành, tức là tòa nhà, như ta đã thấy theo tài liệu XIII, mang tên cũ là điện Trung Hòa, nhự là phần khởi đầu và phần trung tâm của phần trước Tử Cấm Thành. Ngôi nhà này là trung tâm của cung nên lấy tên của cung ấy.

    Khi chúng tôi nhìn thấy trên xà của ngôi nhà che Đại Cung Môn có một biển lớn mang chữ Càn Thành Cung không nên hiểu rằng cái biển lớn ấy chỉ tên Đại Cung Môn. Đó là tên chung cho tất cả các ngôi nhà trong phạm vi trước của Tử Cấm Thành cho đến điện Càn Thành và cũng không nên lẫn lộn giữa hai chữ cung Càn Thành và Long viện quan võ bên trái và viện quan văn bên phải. Nhưng Minh Mạng theo luật xưa dành chỗ vinh dự cho quan văn: cedant arma togoe!

    Ngày nay cả hai ngôi nhà đều không còn nữa mà chỉ còn có nền móng.

    Bây giờ chúng ta tóm tắt lại lịch sử hơi rườm rà của Đại Cung Môn. Ngày giờ tốt của xây dựng là 9 tháng 3 năm 1833 và cũng ngày ấy phải xây điện Thái Hòa và cửa Ngọ Môn. Mười nghìn quân lính dùng vào việc xây cất này, vào tháng 6 cùng năm, các công trình vẫn chưa xong. Việc sơn son thếp vàng của Đại Cung Môn và hai điện kia mà tôi vừa nêu phải đến niên hiệu 20 Minh Mạng (1839) mới làm được.

    l

    Sườn nhà che Đại Cung Môn là lấy của điện Càn Nguyên do Gia Long xây vào năm 1806 đúng vị trí của Ngọ Môn nhưng không có bài nào nhắc đến cả.

    Cái nhà che Đại Cung Môn không phải là cung Càn Thành mặc dầu cái biển trên xà nhà là tên ấy. Thực ra cách gọi cung Càn Thành là để chỉ tên cả vùng phía trước của Tử Cấm Thành kể từ điện Càn Thành trở về sau.

    Đại Cung Môn chiếm vị trí ở giữa của mặt nam của Tử Cấm Thành, vị trí điện Thái Hòa xây dựng vào năm 1805 do Gia Long và chuyển đi xây lại vào năm 1833 ở vị trí ngày nay do Minh Mạng, đã dùng toàn bộ sườn của điện cũ vì dù sao cũng đã đặt lại kích thước như trước.

    Cuối cùng cửa Ngọ Môn chiếm ở giữa của mặt nam Kinh Thành, vị trí cũ của điện Càn Nguyên do Gia Long xây đựng năm 1806 và Đài Nam Quyết.


    ĐIỂM LẠI CHỮ “QUÍ NAM”^[Bài đọc tại buổi họp 30-9-1914]

    H. COSSERAT
    Đại diện Thương mãi

    Tình cờ trong khi đọc tôi có gặp trong một số “Tập san Đông Dương” của năm 1907 bảng dịch của một cuốn “Nhật ký hành trình” trên chiếc thuyền buồm Hòa Lan tên là “Grol” từ Nhật Bản gửi sang Bắc Kỳ do ông Giám đốc thương mãi Hòa Lan ở Nhật Bản, tờ nhật ký ghi từ 30 tháng giêng 1637 đén 8 tháng 8 cùng năm.

    Ngoài ích lợi hồi ức của một câu chuyện kể như thế này, đối với người Pháp Đông Dương như chúng tôi, tôi chú ý đến chữ Quí Nam mà người thuật dùng đi dùng lại nhiều lần khi ổng nói đến đắt nước và vua An-nam.

    Trong suốt câu chuyện kể, ông ghi 20 lần chữ ấy và chỉ để chỉ rõ đến vua và nước An-nam.

    Tôi chỉ tóm tắt lại những câu có dùng đến chữ ấy và cũng để chép lại vài nhận xét của người dịch Nhật ký mà khốn khổ thay tôi không tìm thấy tên.

    “Nhật ký hành trình bắt đầu ngày 31 tháng giêng 1937.

    Ngày 25 tháng 2 có ghi lần đầu một chữ “Quí Nam” trong câu sau đây:

    Lần thứ nhất: 25 tháng 2 - “Chúng tôi tiếp tục hành trình với ý nguyện là thăm Quí Nam trước nhất^[Người dịch ghi chú: “Ở đoạn sau ta sẽ thấy rằng người Hòa Lạn goi thành Huế là Quí Nam.]

    Lần 2 và 3: - Cũng là ngày 25 tháng 2: “Đại úy Bencan có ý muốn gửi hàng sang Quí Nam và ông yêu cầu không nên trả thuế cảng quá 15% cả ra vào.

    Người ta dự tính chỉ lời được 40 đến 50% trên loại: “Lankin” và 150% trên các loại sành sứ thô và gửi những thứ này sang Quí Nam như ý định của đại úy Bencan”...

    Lần thứ 4, 5, 6: Ngày 5 tháng 3 - “Ngày 5 tháng 3 chúng tôi tiến gần Vịnh Touron hay Touran. 16 người Bồ Đào Nha mà chúng tôi đưa đi từ Tayouwan để được trả tự do và đưa lên bờ... Hai vị linh mục người Bồ chung thuyền với chúng tôi còn bị cầm giữ lại. Các hàng hóa gửi đến Qúi Nam^[Ghi chép của dịch thuật: Tên Quí Nam là một vị trí ở vịnh Đà Nẵng hay gần vịnh ấy nhưng không phải là Qui Nhơn ở cách đến 70 hải lý phía nam Kinh đô An-nam nhưng chúng ta đã biết là Huế chỉ cách vài dặm phía đông bắc của Đà Nẵng. Vậy nói vua Quí Nam là như vua An-nam.] đã chuyển lên và sau đó chúng tôi cũng trả tự do cho hai vị linh mục Bồ Đào Nha. Người ta cầm chân họ lại vì một trong những sĩ quan của thương cục chúng tôi tại Quí Nam, thương cục dưới quyền của ông Ducker, đã trốn đi và người ta nghi là ẩn náu theo người Bồ Đào Nha. Và những người này quả quyết vị sĩ quan ấy không ở với họ cho nên người ta thả tự do cho các vị linh mục. Đến Quí Nam, chúng tôi sẽ mua một chiếc thuyền khác để thay thế chiếc bị hỏng trong hành trình”.

    Lần thứ 7, 8, 9, 10, 11, l2, 13: Ngày 13 tháng 3 năm 1637 “Chúng tôi đã rời khỏi Quí Nam ông Ducker có biếu ông Hartsiuck hồi ký về Bắc kỳ: “Tonquin” và Quí Nam đang đánh nhau^[Ghi chép của dịch thuật “Vua An-nam và Bắc kỳ đang đánh nhau thời kỳ ấy là một lý do để nói vua Quí Nam trong Nhật ký hành trình là đúng để chỉ vua An-nam”.]. Các vua chúa của hai xứ này nổi giận chống đối nhau. Nhưng họ cũng cho các nhà buôn trao đổi hàng hóa với nhau và tiếp tục buôn bán. Như vậy chúng ta vẫn có cơ hội để trong những ngày ở Bắc kỳ vẫn liên lạc với thương cục của chúng ta ở Quí Nam v.v.. Các vua của Quí Nam và của Tonquin (Bắc kỳ) có họ hàng với nhau. Người ta lợi dụng cuộc thăm viếng của chiếc “Grol” ở Bắc kỳ để bí mật tìm hiểu vua Tonquin có thể và vui lòng giúp chúng ta đưa về 23580 đòng tiền réals được vớt của chiếc tàu bị đắm Giaoten-brock mà dân Quí Nam đã chiếm đoạt bất hợp pháp. Công việc này phải giải quyết một cách tế nhị, bí mật, không được nói cho vua, và cho vị nào trong triều biết cả, cái gì xảy ra ở triều Bắc kỳ thì lại được báo lại với triều Quí Nam và nếu triều Quí Nam mà biết được, thì tất cả các võ quan của công ty đang phụ trách sẽ bị nguy hiểm ở Quí Nam v.v... Ký ngày 13 tháng 3 năm 1637.

    Lần thứ 14: Ngày 28 tháng 4 “chúng tôi đã nhận được trả lời thuận lợi và chúng tôi muốn cho Quí Nam biết về những việc đã xảy ra đối với họ nhưng không may là chúng tôi chưa có dịp để làm việc này”.

    Lần 15: Ngày 29 tháng 4 - “Người Nhật ở Bắc kỳ muốn nhận làm trung gian, người chỉ huy của họ ưng thuận, nhưng chúng tôi thì không. Kinh nghiệm tại Quí Nam đã dạy cho chúng tôi trong một trường hợp như thế này chẳng trông mong có lợi lộc gì”.

    Lần thứ 16: Ngày 9 tháng 5 - “Sau đó vua (Bắc kỳ) có hỏi ông Hartsiuck có phải là công ty đã đưa cho chúa Quí Nam 150 hạt ngoc để đổi lấy đảo Champello không? Hartsiuck bảo lời đồn ấy là không đúng đổ lên đầu người Bồ Đào Nha và nói thêm hành động này là trái với lệnh của công ty”.

    Lần thứ 17, 18, 19: Ngày 2 tháng 6 - “Một thanh niên Kapado do vua cử đi đến trình bày với ông Harksluck:

    1. Vị chúa Quí Nam có lấy tiền bạc của các ông không?
    Trả lời: Có - Năm 1633 có đánh cắp súng đại bác và tiền của trên chiếc Yacht (thuyền buồm) Kemphann bị chìm gần Champello. Sau đó có lấy tất cả tiền bạc mà thủy thủ đoàn chiếc thuyền buồm Grotenbruk bị chìm do đảo Paracelles (Hoàng Sa) đã vớt được và đem vào Nam kỳ.

    1. Công ty có đòi lại tiền không?
    Trả lời: Có.

    1. Công ty có sẵn lòng giúp đỡ Bắc kỳ đánh lại Quí Nam không?
    Trả lời: Đây là công việc chỉ có Toàn quyền Java mới quyết định.

    1. Công ty có tiếp tục yêu cầu trong trường hợp Bắc kỳ chinh phục Quí Nam không?
    Trả lời: Có.

    Cuối cùng, chúng tôi đọc tới ngày 29 tháng 6 và chúng tôi tìm thấy lần thứ 20 và cũng là lần cuối cùng của chữ Quí Nam, trong khi ấy người Hòa Lan ra đi từ biệt vua Bắc kỳ.

    Lần thứ 20: Ngày 29 tháng 6 “Chúng tôi đến triều đình để từ biệt vua. Chúng tôi có nhận thư từ của vua gửi đến vị toàn quyền Đông Ấn và vị trưởng ban thương mãi ở Nhật Bản “Họ tặng chúng tôi lá cờ lớn và ấn của vua. Vua có yêu cầu sự cộng tác của Công ty vào sự cai quản của Quí Nam”.

    Ngày 7 tháng 7 chiếc “Grol” kéo buồm và đến vịnh Hirado ngày 7 tháng 8 năm 1637.

    Vậy tôi đã làm xong việc kê khai một cách khô khan, tôi biết thế, nhưng cũng có cái lí của nó vì nó nói lên điều gần như chắc chắn rằng người Hòa Lan thế kỷ 17 gọi đất nước An Nam bằng đất nước Quí Nam và không có gì khác hơn.

    Vậy thì họ tìm đâu ra chữ ấy?

    Tôi cũng nghĩ là rất thú vị nếu chữ ấy người Hòa Lan muốn thật sự để chỉ Huế và vương quốc An-nam như theo ý của người dịch thuật của tài liệu mà tôi vừa đọc ra vài đoạn cho quí vị và nếu có như vậy thì đâu là nguồn gốc của chữ Quí Nam, từ nguyên của nó vào thời kỳ nào thì người ta dùng để chỉ nước An-nam và sau cùng vì sao chữ ấy lại bị lãng quên đi.

    Tôi không có trong tay những yếu tố cần thiét để bảo đảm nghiện cứu, và mặt khác tôi không có thì giờ và cũng xin thú thật, sự hiểu biết kém cỏi của tôi về vấn đề này không cho phép tội thực hiện nhưng tôi cũng nghĩ rằng một số thông tin này có thể kích thích các nhà thông thái đồng nghiệp của chúng ta nghiên cứu sâu hơn vấn đề mà hình như ra ngoài khuôn khổ những bài nghiên cứu của chúng ta^[Đọc bài này xong, ông Aurousseau, để giải thích chữ Quí Nam, đưa ra một giả thuyết mà ta sẽ đọc ở bài sau.].[​IMG]

    LIỆT KÊ CÁC CHÙA VÀ NƠI THỜ TỰ Ở HUẾ

    (Tiếp theo và hết)^[Bài đọc ở cuộc họp 29 tháng 7 năm 1914.]

    Do Bác sĩ SALLET
    và ông NGUYỄN ĐÌNH HÒE

    1. ^[Các chùa sau đây đều ở trong thành của Kinh Thành Huế.]Miễu Ngũ Hành hay miễu Thượng Tứ do kỵ binh và miễu nằm trong một lùm cây gần vọng lan số 8 phía bên phải cửa vào.Miễu do phường Thái Trạch cúng tế.

    2. Miễn Ngũ Hành cũng so phường Thái Trạch xây dựng gìn giữ.

    3. Miễu Ngũ Hành cũng của phường ấy.

    4. Miễu Ngũ Hành của phường Trung Tích

    5. Miễu Ngũ Hành của phường Phú Nhơn

    6. Miễu và Đàn Âm Hồn do phường Vĩnh An xây dựng và cúng lễ.

    7. Miễu Thánh Mẫu bằng tranh do phường Vĩnh An cúng tế.

    8. Đình của phường Vĩnh An gần đình có cây thiêng.

    9. Am Tể Sanh thờ Thánh Mẫu, được đặt dưới một cây thiêng gần con sông đào chảy qua Kinh Thành trong phường Vĩnh An. Am này do một tư nhân quản lý.

    10. Am Cầu Kho do ngày trước các kho lương xây dựng cúng thờ Thánh Mẫu. Do một tư nhân đảm nhiệm cúng thờ am này ở dưới hai cây thiêng và dựa vào một miễu trong hồ Tịnh Tâm.

    11. Miễu Hậu Bổ do cơ quan kho lương của vua do một tư nhân và để thờ cúng các thánh văn quan và võ quan có hai tượng bằng đá. Cái miễu này sát thành của Ngự Viên Hậu Bổ gần cửa Bắc. Miễu này còn gọi là Miễu Võ Khố.

    12. Tảng đá thiêng gần trường dạy nghề gọi là thần linh của Võ Khố. Tảng đá thần này được một giám đốc cũ của Võ Khố thờ cúng khi đã thấy xuất hiện vị thần này trên một cây phía bên trái cổng vào của trường dạy nghề hiện nay.

    13. Am phường Trung Hậu cúng Di Lạc, Quan Công và Thánh Mẫu, dựng năm 1902, nhân dân trong phường cúng lễ.

    14. Đình tranh của phường Phú Nhơn.

    15. Vị trí cũ của chùa Linh Hựu. Cái chùa này còn gọi là chùa Bộ binh sau 1885 (bị bộ binh của tướng De Courcy) chiếm đóng. Bãy giờ chỉ còn lùm cây.

    16. Miễu nhỏ Tam Vị do phường Tây Lộc dựng và cúng lễ.

    17. Miễu Ngũ Hành của phường ấy.

    18. Chỉ còn đổ nát của một am nhỏ trong phạm vi Khám đường ngục thất.

    19. Đình của làng Phú Xuân, trong đó cúng Thành Hoàng, Khai cơ 7 trưởng tộc và 3 tiên chỉ của họ Hồ, Lê và Nguyễn.

    20. Đàn Tịnh Điền để cúng các thần nông do vua làm chủ tế sau 2 lễ giao và tắc (cúng lễ đã bãi bỏ dưới thời Thành Thái).

    21. Đá thiêng ở bờ đường gần cống Vĩnh Lợi.

    22. Miễu Tam Vị của phường Ti Vụ.

    23. Miễu Ngũ Hành của phường Huệ An.

    24. Miễu Ngũ Hành trong cùng làng.

    25. Miễu Ngũ Hành phường Thuận Cát.

    26. Đàn Âm Hồn của Thuận Cát.

    27. Miễu nhỏ của vị chủ của trung đoàn Long Võ cúng lễ do làng Thuận Cát đảm nhiệm.

    28. Chùa Đô Thành Hoàng do triều đình trông coi.

    29. Đàn Xã Tắc cúng vào mùa xuân do đại diện vua, cúng thổ thần.

    30. Chùa Võ Bơn cúng cửu Thiên Thánh Mẫu do quan võ của Kinh đô đảm nhiệm.

    LỊCH BIẾN CỐ AN NAM^[Bài viết ở các buổi họp 28-10 và 25-11 năm 1914.]

    R. ORBAND
    Công sứ dân sự vụ

    Những sự kiện ngày nay sẽ là lịch sử ngày mai: Ông chủ tịch cần mẫn hôm nay mở trong Tạp chí của chúng ta một mục về: “Lịch biến cố An-nam” và tiếp đó mở một mục khác là: “Tử tuất danh bộ” sẽ có ích cho các nhà sử học viết về tượng lai và sẽ cung cấp cơ hội để nhớ lại một số lớn những sự việc đã xảy ra rất cần cho lịch sử của Kinh Thành. Trong Lịch biến cố sẽ ghi lại từng ngày các lễ tục trong dân gian hay trong đạo giáo liên quan đến triều đình; trong vài năm người ta có một chu kỳ về đạo giáo và một chu kỳ lễ lược của Hoàng cung có ghi chép những điều quý giá về các danh nhân, các tháp lăng, các tập quán và tục lệ.

    Trong các ghi chép, người ta sẽ viết lại - cách nào cho khỏi mất lòng người nào cả - cuộc đời của các quan đại thần đã cai trị An-nam trong những thời vừa qua và nay đã ngủ yên giấc trong nấm mồ vì đã hoàn thành nhiệm vụ.

    Phận sự của tác giả trong các ghi chép trong Điện những quan hệ với quan thần cao cấp triều đình, điều quan trọng họ đem đến cho Kinh đô, tất cả đều cho ta dự đoán một mùa gặt lớn về thông tin hấp dẫn và chính xác.

    Lời ghi chú của chủ bút tập san.

    Mồng 1 tháng l0 năm 1914: Ngày 12 tháng 8 của niên hiệu 8 Duy Tân - Hoàng thái hậu ngự trị uy nghi ở Điện Trường Ninh mới được xây dựng lại tại chỗ cũ của điện mang cùng tên.

    Ghi thêm: Nội cung chính thức của các hoàng thái hậu chẳng hạn của ngài Lệ Thiên Anh Hoàng hậu, chánh thất của vua Tự Đức, của ngài Tự Minh Hoàng Thái hậu, chánh thất của vua Dục Đức, được xây vào niên hiệu 3 Minh Mạng (1822) và sửa chữa lại vào niên hiệu 3 Thiệu Trị (1843). Toàn bộ dinh thự ấy gồm có: 1. Một cổng lớn gọi là Cung Môn. 2. Có hai cửa nhỏ là Phường Môn. 3. Một ngôi nhà chính là Ngũ Đại Đường cho vị cháu đời thứ 5 của hoàng hậu Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ thứ của Gia Long, mẹ của Minh Mạng, mất ngày 6 tháng 11 năm 1846). 4. Sau nhà Ngũ Đại Đường có nhà đầu tiên là Thọ Khương. 5. Nhà Vạn Phước Lâu trên đó có bức hoành đề: Nhật nguyệt thăng huyền (mặt trời và mặt trăng nối tiếp nhau mà sáng). Tất cả các ngôi nhà ấy đều có hành lang nối lại với nhau và để hình thành chữ Vương, tên các nhà ấy là Vương Tự Điện. Phía bên trái Vạn Phước có một cái gò gọi là Khuê Quan Phong và hòn non bộ gọi là Kình Ngư; ở bên phải có hai gò tên là An Ninh Lãnh và Hổ Tốn Lãnh, phía sau một gò nữa gọi là Bửu Sơn mà phía Bắc nối với bán đảo Động Đào; bao quanh Điện là Kim Thủy Hồ trên đó có đặt các thuyền ngự Văn Hương Khả, Thể Liên Châu và Nhơn Thọ Phưởng. Quang cảnh mô tả trong thi ca của vua rất dễ chịu và đẹp đẽ. Bên cạnh các núi nhân tạo là sen nở trong hồ Kim Thủy làm cho nơi nghỉ đó như dành cho những người trường sanh bất lão.

    Ngôi nhà cũ ấy bị đập phá vào tháng Chạp năm 1907, những ngôi nhà mới vẫn giữ nguyên lối kiến trúc hoàn toàn An-nam và xây dựng theo sơ đồ thiết kế của Bộ Công và đã chú ý rất đầy đủ về tiện nghi, vệ sinh.

    24 tháng 10 năm 1914: Ngày mồng 6 tháng 9 niên hiệu 8 Duy Tân, hoàng đế và các hoàng thân cùng quan triều đình dự lễ ở Điện Long An trong ngày kỵ vua Dục Đức.

    Ghi thêm: Nguyễn Phúc Ưng Chân, tôn Dục Đức, là con thứ hai của Hường Y Thoại Thái Vương - ông này là con thứ 4 của vua Thiệu Trị, sinh ngày mồng 4 tháng giêng niên hiệu 5 Tự Đức (23 tháng 2 năm 1852) ông nhận tên là Chân hay Chơn. Vào niên hiệu 21 (1868) Tự Đức, Tự Đức vốn không có con nên chỉ định Ưng Chân như hoàng thái tử; vua cho xây cất một phủ trên đó có bức hoành mang chữ Dục Đức là tên Vua sau này lên ngôi, ông được phong chức Thụy Quốc công nối ngôi vua Tự Đức, nhưng chỉ trị vì được vài ngày, chưa có niên hiệu. Vua chết vào ngày 6 tháng 10 năm 1883 (ngày mồng 6 tháng 9) và sau được phong thụy hiệu là Cung Tôn Huệ Hoàng đế lăng ở An Lăng ở làng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, ở An Lăng có đặt thi hài của hoàng hậu Từ Minh vợ chính thất của Dục Đức, mẹ vua Thành Thái, mất ngày 27 tháng 12 năm 1906 (12 tháng 11 niên hiệu 18 Thành Thái).

    27 tháng 10 năm 1914: Ngày mồng 9 tháng 9 niên hiệu 8 Duy Tân - Lễ Trùng Dương hay Trùng Cửu.

    Truyền thuyết: Dưới triều hậu Hán ở nước Nhữ Nam (Trung Hoa), có nhân vật Phi Trường Phòng và đệ tử Hoàn Cảnh. Phòng có nói với Cảnh câu nói sau đây: “Đến ngày mồng chín tháng chín, ở gia đình con sẽ xảy ra một thiên tai khủng khiếp. Con phải nhờ gia đình kiếm cho một bao phù du, con mang lên núi và ở đấy uống rượu cúc trắng. Đó là cách tránh tai họa”. Đến ngày ấy, Cảnh mang bao linh thiêng ấy và cùng gia đình lên núi. Chiều đến khi trở xuống về nhà thì bỗng thấy toàn bộ gia súc của mình đều chết vì hậu quả của dịch hạch. Khi Phi Trường Phòng biết tiên tri của mình đã thành sự thật ông chỉ nói đơn giản: “Thà hy sinh thú vật còn hơn là người”. Do đó, các nhà nho hằng năm lễ Trùng Dương, họ lên núi cùng nhau uống rượu và vợ họ cùng đi theo tay, đều cầm cành phù du.

    Ngày 9 tháng 11 năm 1914: Ngày 22 tháng 9 niên hiệu 8 Duy Tân - Bà Dương Thị, vợ của vua Đồng Khánh quá cố, mẹ của hoàng tử Phụng Hóa, được nâng lên chức Tam Giai Nghi Tân (tam phẩm). Lễ phong sắc như thế này: Một vị quan khâm mạng đem một bức trướng đến nhà bà, dẫn theo một đoàn lính cầm lọng và bàn hương án trên đó đặt sắc vua. Có cả đoàn nhạc.

    Ghi thêm: Vua Đồng Khánh trị vì từ 1885 - 1889. Con của Kiên Thái Vương, ông vua này là con thứ 26 của Thiệu Trị. Như vậy ngài là cháu nội của Thiệu Trị, cháu của Tự Đức và của Hiệp Hòa, anh họ của Dục Đức, anh của Kiến Phước (Ưng Đăng) và Ưng Lịch, sau Kiến Phước thì Ưng Lịch lên ngôi cho đến 5 tháng 7 nãm 1885 dưới niên hiệu Hàm Nghi.

    Đồng Khánh sinh 19 tháng 2 năm 1864 (ngày 12 tháng giêng niên hiệu 17 Tự Đức). Ngài có tên Ưng Kỵ và Ưng Đường, lên ngôi vào ngày 14 tháng 9 năm 1885 và lấy tên là Biện, mất ngày 28 tháng giêng 1889 (ngày 27 tháng 12 niên hiệu 5 Đồng Khánh), có 4 con: 2 trai, 2 gái. Thụy hiệu: Cảnh Tôn Thuận Hoàng đế. Lăng tẩm Tư Lăng ở làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thụy, tỉnh Thừa Thiên.

    Ngày 14 tháng 11 năm 1914: Ngày 27 tháng 9 niên hiệu 8 Duy Tân - Hoàng đế An-nam có dụ ra kể từ ngày mồng một đến ngày rằm tháng mười, các chùa tụng kinh cầu nguyện cho quân đội anh dũng Pháp và của đồng minh đang chiến đấu cho lẽ phải, cho công lý cho văn minh sẽ chiến thắng.



    GHI CHÉP, THẢO LUẬN, HƯỞNG DẪN

    QUÍ NAM, LẠI BÀN VỀ QUÍ NAM

    L. CADIÈRE

    Trong các buổi họp, nghe đọc một bản nghiên cứu gậy tranh luận hấp dẫn bổ ích: người nói ngược lại ý của tác giả, làm cụ thể một vấn đề, thêm vào thông tin, trả lời về vấn đề đặt ra, làm rõ nghĩa của một từ...

    Hoặc đi dạo chơi quanh Huế, đọc một cuốn sách, nói chuyện với một vị quan hay trao đổi với một thường dân, người ta sẽ biết thêm một chi tiết lịch sử, phát hiện một công trình nghệ thuật, một ngôi đền chưa biết đến.

    Những mảnh của sự thật, không quá một hai trang giấy và nhiều khi chỉ vài dòng, không phải là vấn đề để nghiên cứu lâu dài. Nhưng nó vẫn có giá ttị cần gìn giữ và cung cấp cho những người hiếu kỳ, người làm việc,

    Người ta sẽ tập hợp lại trong Tập san dưới đầu đề đặc biệt.

    Chữ Quí Nam: Có thể là hai từ Hán - Việt viết theo chữ Hán. Quí nghĩa là đáng yêu dấu, hiếm hay muốn chỉ “của ông”, Nam là phía Nam có thể viết tắt của chữ An-nam. Người ta có thể viết Quí nam như người ta gọi hay viết Đại Nam với ý nghĩa “phía Nam của ông”, “xứ An-nam” và từ này là do tác giả Hòa Lan ghi chép để chỉ An-nam.

    Nếu tìm hiểu ý nghĩa của cách nói thường dùng ở An-nam ngày nay như quý quốc để chỉ nước Pháp, không chỉ một người học thức Việt Nam nói quí quốc để chỉ nước Pháp khi nói với người Pháp mà mỗi người An-nam nói với người An-nam cũng dùng từ quí quốc.

    Và vì vậy, tôi nghĩ rằng Quí Nam chỉ có nghĩa là “xứ An-nam của ông” hay để nói chung “xứ An-nam” L. Aurousseau cũng cho là chữ Quí Nam. Vì câu hỏi của ông Cosserat đặt ra về vấn đề tên Quí Nam của người Hòa Lan đặt cho An-nam vào thế kỷ XVII ông Aurousseau có trả lời rất chính xác ông giải nghĩa hai từ gộp lại để hình thành chữ ấy, ông có nói về ngữ pháp cách dùng từ đầu: quí Nam - Quí nam: “Phía Nam cao cả, đất nước cao cả phía Nam”, nhưng ông không đặt ra một tài liệu nào để chỉ từ Nam là Nam kỳ cả, ông không chỉ rõ nghĩa đã có trong thời kỳ ấy. Tôi muốn lấp cái lỗ trống trong những hướng dẫn sau đây để làm chỗ dựa thêm cho giả thuyết của ông Aurousseau.

    Lần đầu, chúng tôi bắt gặp từ dùng để chỉ tên nước An-nam là vào cuối thế kỷ III trước Công nguyên. Vào năm 208, Triệu Đà lấy danh hiệu là chúa của Nam Việt (Việt phía Nam); Triệu Đà là vua của xứ mà người ta xem như gốc của người An-nam ngày nay - Người Giao chỉ. Kinh đô đặt tại Quảng Đông bây giờ. Chữ Nam dùng như một tính từ.

    Gần 5 thế kỷ sau vào năm 264 sau Công nguyên, từ Nam được dùng với nghĩa rõ ràng hơn. Đất nước và thể chế An-nam bị Trung Hoa đô hộ. Thái sư toàn quyền nhận chức là An-nam tướng quân (tướng ở An-nam). Tên gọi An-nam ấy chúng ta thấy xuất hiện lần đầu trong các tài liệu chính thức nghĩa là “phía Nam bình định”. Vậy từ Nam được dùng như một danh từ, như vậy nghĩa là “xứ sở ở phía nam của Trung Hoa, xứ phía Nam”. Đó là để chỉ cho đất nước mà người An-nam đang ở, nghĩa là gần như Bắc kỳ và các tỉnh phía bắc của An-nam hiện giờ.

    Chính chữ An-nam còn được đùng ở Trung Hoa khi họ quyết định thừa nhận nền độc lập của xứ An-nam: Năm 1236 Trần Thái Tôn nhận chức chính thức An-nam Quốc vương (chúc của xứ An-nam) và tên này để chỉ một cách chính thức tất cả các chúa An-nam thời kỳ trước đến Gia Long. Cách nói ấy, từ Nam là danh từ và chỉ “xứ Nam đất nước An-nam”. Chúng ta còn nhiều chứng cớ khác về cách dùng từ ấy cùng ý nghĩa. Một nhà biên niên sử ngày xưa đồng thời là nhà luân lý của An-nam có địa vị quan trọng trong thế kỷ XV - Nguyên Trãi - kể đến một tác phẩm tựa đề “Thiên Nam thực lục” (sự thật của trời Nam) nghĩa là của Vương quốc An-nam. Vài năm sau vào 1483, Lê Thánh Tôn sau khi chiến thắng, cho làm một tác phẩm về cách cai trị dân và cho tựa đề là “Thiên Nam dư hà tập” (Tập thơ trong lúc nhàn hạ của Trời Nam).

    Trong chữ Thiên Nam, chúng ta chú ý đến từ “thiên” không còn nghĩa đen mà là để chỉ “tính lớn lao thiên Nám, vĩ Nam, diệu Nam” cũng như chữ quí Nam mà ông Aurrouseau đã nói quí là mến, trọng cao cả như một từ ghép với một đanh từ “quí vị, quí ngài”.

    Chúng ta đã có từ thế kỷ III của thời đại chúng ta, một cách gọi An-nam mà chữ Nam chữ xứ phía nam, vuơng quốc An-nam. Đây là một cách gọi chính thức, dùng trong ngoại giao của triều đình nước Trung Hoa cũng như trong triều đình An-nam.

    Và chúng ta cũng thấy từ ấy trong mấy tác phẩm mà tôi đã nêu lên, những chứng cớ tỏ ra chữ Nam để chỉ trong những trường hợp không chính thức trong nội địa như trong thường dùng về vương quốc An-nam.

    Nhưng ta cũng cần nên hiểu rõ ý nghĩa của cách gọi từ này An-nam, Nam là về địa lý để chỉ đất nước An-nam, dân tộc toàn cõi An-nam, ông vua An-nam có ngai vàng ở Hà Nội. Đổi với người Trung Hoa cách gọi ấy tồn tại đến đầu thế kỷ XIX cho đến khi vua Gia Long đổi tên An-nam thành Việt Nam. Do lẽ đó, một câu hỏi đặt ra: chữ Nam vốn chỉ vương quốc An-nam, tức là đồng bằng Bắc bộ kéo dài xuống phía Nam, chữ ấy có dùng để áp dụng vào phần phía nam của vương quốc không, vào phần Nam bộ, vào lãnh địa của nhà Nguyễn ngay trong cách gọi quí Nam không?

    Đến giữa thế kỷ XVI các chúa Nguyễn đầu tiên đóng đô tại vùng lân cận Huế. Thời kỳ này đất nước đang chia đôi hai chính phủ mà phần phía bắc có tên Thuận Hóa. Tên này người Hòa Lan không phải là không biết. Một nhật báo của Hội thương mãi ở Batavia có ghi vào năm 1637 một thương cục ở Sinua; người đứng đầu là Abraham Duijcker^[Dag Register năm 1637 xem trang 158 - 159.]. Đến năm 1640 - 1641 vị đại diện của Hòa Lan ở Jennoa là người Nhật Riseraondsuo^[Dag Register năm 1640 - 41 xem trang 249 - 255.]. Đến 1636 người ta có nói đến Sinua^[Dag Register năm 1630 xem trang 79 - 80 (Nhật ký Hòa Lan).]. Những cách viết khác nhau gợi cho chúng ta thấy chữ Sinoa hay là Singoa của các nhà truyền đạo Bồ Đào Nha hay Pháp dùng vào thế kỷ XVI và XVII. Từ điển của cha De Rhordes từ hóa viết ra kẻ hóa, kẻ hóea, thọân hóa “kinh đô Nam kỳ mà người Hòa Lan gọi là Sinoa”.

    Phía nam của tỉnh Thuận Hóa, kéo dài một đoạn nữa quá Đà Nẵng là tỉnh Quảng Nam.

    Tên đó là do vua Lê Thánh Tôn đặt vào năm 1471 chiếm đất của Chàm. Chúng ta thấy ở trên, khi Trung Hoa chiếm được đã đặt vương quốc An-nam nghĩa là đất “phía nam đã bình định”. Cho nên đến Lê Thánh Tôn cũng làm như vậy khi sát nhập thêm một địa phận vào đất nước lại đặt thêm tên Quảng Nam nghĩa là “phía nam rộng, nới rộng ra”. Phương sách này áp dụng như nhau trong hai trường hợp: vùng đất ở phía nam của vương quốc gọi là Nam.

    Các từ hành chính cũng chỉ để trong nhiều chỗ đã ghi là dùng phổ biến trong dân chúng.
  • Đang tải...
  • Chia sẻ trang này