0059.012 - @ nhani78 (Done WIKI)

19/11/15
0059.012 - @ nhani78 (Done WIKI)
  • Link PDF
    Link Google Docs

    Vua nói : “ở Bắc Thành văn án rất nhiều, ngươi nên siêng năng xét xử, đừng để đọng lại”. Lại hỏi Quyền về việc ở trấn. Quyền đáp : “Từ khi thú binh Hổ oai rút về thì hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn giặc cướp lại nổi”.

    Vua nói : “Khi Hoàng khảo mới thăng hà, sai binh chia đóng thú các nơi để phòng việc bất ngờ. Nay việc đã định thì thôi, chứ có lệ đóng thú đâu. Ngươi về bảo Án trấn Trương Phúc Đặng phải huấn luyện quân lính gia tâm giữ yên, chớ để sau thành cướp to mà phải động đến binh Kinh, trẫm tuy không bắt tội, nhưng riêng lòng há không tự biết xấu hổ sao ? Vả lại, trấn mục là chức vụ thân dân, yêu ghét có công bằng, thì khi dân có đau khổ mới dám đến kêu. Trước kia trẫm sai Thị thư Lê Vạn Công đi dò hỏi dân tình, đều nói thường khổ về sự sách nhiễu, nên có cướp mà không dám kêu. Giữ chức chăn dân mà để dân đến thế thì sao gọi là cha mẹ dân được”.

    Biên Hoà lụt, dân đói. Sai xuất tiền gạo phát chẩn.

    Đúc súng đại bác Uy phúc. Trước là quân Thị trung đào được vạn cân đồng đem dâng. Vua sai đúc ba khẩu đại bác, đều đặt tên là “Bảo quốc an dân đại tướng quân”, thân chế bài minh khắc vào súng để ghi. Một khẩu bài minh rằng : Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phúc, để bảo đời sau : Phúc đến có điềm hay, tiếng oai quét yêu quái, truyền con cháu ta, văn võ đều giỏi”. Khẩu thứ hai bài minh rằng : “Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phước, để bảo đời sau : Phúc lan khắp trong nước, uy dậy cả bốn phương, ức muôn năm ấy, phát mãi điềm lành”. Khẩu thứ ba bài minh rằng : “Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phúc, để bảo đời sau : Uy để chống giặc, phước ứng điềm lành, văn võ đều dùng, thọ khảo mãi mãi”.

    Ngày Nhâm tuất, duyệt binh. (Sáng sớm ngày ấy biền binh các dinh thuộc các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách đều họp cả ở trước điện Càn Nguyên. Sai Thị thư viện 5 người và sáu bộ mỗi bộ 3 người, hiệp với bộ Binh xét điểm). Vua mặc nhung phục ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt. Lệ duyệt binh bắt đầu từ đấy.

    Lê Công Tồn trước lấy chân Hàn lâm viện ra Tri phủ Hà Trung, giả thác có bệnh xin về hưu, đến nay lại xin vào Hàn lâm. Vua nói : “Hôm trước thác bệnh để tránh tội, nay lại bắt chước Mao Toại tự tiến mình, rất đáng khinh bỉ”. Không cho.

    Định thêm số viên dịch ở sáu bộ. Đầu đời Gia Long, mỗi bộ đặt một Thượng thư, 2 Tham tri, 4 Thiêm sự. Đến nay mỗi bộ đều đặt thêm 4 Lang trung, trật Chánh ngũ phẩm, 4 Chủ sự, trật Chánh lục phẩm, 4 Tư vụ, trật Chánh thất phẩm, và thư lại bát cửu phẩm đều 8 người, bộ Lại bộ Binh 70 thư lại vị nhập lưu((1) Vị nhập lưu : chưa được vào ngạch.1), bộ Hộ 100 người, bộ Lễ bộ Công đều 50 người, bộ Hình 60 người. Sai các bộ trưởng cử những người Tri huyện thâm niên cùng các Hành tẩu, Hương cống, và các ty Lệnh sử thuộc bộ, có thể làm được việc thì sung bổ các chức ấy.

    Sai thuỷ quân diễn tập chèo thuyền. Thưởng cho 500 quan tiền. Sau theo đó làm lệ.

    Sai vệ Tả nhất quân Thị trung hầu ở cung Từ Thọ.

    Lấy Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận kiêm quản Nội vụ phủ, Hữu Tham tri Công bộ kiêm quản Vũ Khố là Nguyễn Khoa Minh lại giữ việc bộ, Cần Chính điện học sĩ Lê Đại Nghĩa thự Tham tri Binh bộ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Nguyễn Đăng Tuân thự chức Thượng bảo khanh, Hàn lâm viện Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh làm Thượng bảo Thiếu khanh, quản lý công việc các viện thuộc Văn thư phòng.

    Sai Hữu Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới nghỉ việc bộ để chuyên việc dạy bảo. Dụ rằng : “Hoàng tử và hoàng đệ tuổi còn thơ ấu, đang mê chơi đùa. Bọn thuộc hạ trong phủ phần nhiều lại đón chiều thói xấu, ngươi phải nghiêm cấm, đừng để cho bọn chúng dỗ dành, ngõ hầu có thể thành tựu được”.

    Đến ngày khai giảng vào bái, vua dụ các hoàng tử, hoàng đệ rằng : “Nay đã đặt chức sư bảo, các ngươi đều phải chăm chỉ học tập, ngày tháng tiến tới dần lên, cho thành đức nghiệp, nếu không được thế sẽ phải quở mắng”. Giới nhân tâu nói : “Thần bất tài mà được dự ngôi tây tịch((1) Tây tịch : chỗ ngồi của thầy dạy các hoàng tử ở trong phủ, ngồi phía tây, hướng về phía đông1), xin ban giáo hình((2) Giáo hình : thứ hình cụ của thày dạy học, tức là cái roi.2) cho thần”. Vua bèn trao cho cái roi.

    Vua từng bảo bày tôi rằng : “Người ta không phải là thánh hiền thì có thể nào không dạy mà giỏi được. Trẫm muốn chọn mấy người lão thành cùng ở với các hoàng tử để dạy bảo cho từng điều, như ra vào triều yết phải có lễ phép, tiếp kiến đại thần phải có lễ độ, thì sau mới có thể thành đức được. Nhưng chọn được người rất khó”.

    Chọn những con em tuổi nhỏ tuấn tú trong tôn thất là bọn Tôn Thất Chào 60 người vào nhà Thái học đọc sách, cấp cho lương tháng và ban cho áo mũ. (Mũ tứ phương bình đính đều một cỗ, áo sa hoa màu bảo lam trong lót vải trắng, kiểu tràng vạt, một chiếc xiêm bằng trừu màu lam một bức, đai đỏ và hia tất đủ bộ).

    Dụ rằng : “Đặt ra học hiệu để giáo dục nhân tài. Tuy thường dân mà tuấn tú trẫm còn muốn gây dựng huống chi là bọn ngươi. Bọn ngươi là dòng dõi nhà vua, trẫm đã cấp lương, lại cho áo mũ, ban ân đã hơn người rồi. Đều phải dùi mài cố gắng học cho thành tài để khi dùng đến, chớ phụ ý thiết tha của trẫm đối với họ hàng”. Lại phát bút mực giấy trong kho ra cấp cho.

    Định lệ tiến gạo lên cung Từ Thọ, hằng tháng đều 10 phương gạo trắng, 60 phương gạo lương, do hộ vệ dâng lên. Bộ Hộ lại đem lệ dâng tiền tâu xin. Vua hỏi lệ cũ tiền tiến lên cung Từ Thọ một năm bao nhiêu. Bộ Hộ đáp là một vạn quan. Vua nói : “Như thế thì lấy gì để ban thưởng cho đủ ?”. Đáp rằng : “Lại có số tiền thóc về thuế ruộng và trại cũng có thừa”. Vua nói : “Hiếu Khang hoàng hậu trước kia ở Gia Định đã có của để dành, sau khi đại định lại có của tiến dâng, vì thế thừa thãi. Nay phụng sự Từ cung, tự xét không được như thế. Trẫm lấy thiên hạ để phụng dưỡng, kho tàng đâu là chẳng có, để riêng mà làm gì”. Vẫn định lệ mỗi năm tiến một vạn quan.

    Giám thành phó sứ là Đỗ Phúc Thịnh đem địa đồ núi sông Quảng Đức tiến lên (từ sông Lương Điền đến giữa đèo Hải Vân quan dài 24.000 trượng, thành 170 dặm ; từ cửa biển Thuận An đến đầu núi ở đất mọi Đê 1 vạn trượng, thành hơn 74 dặm 10 trượng).

    Vua xem bản đồ, nhân bàn đến địa thế thành trấn Nghệ An, nói rằng : “Khi trước tiên đế từng muốn dựng đô ở đấy”. Nguyễn Văn Nhân tâu rằng : “Đấy không phải là đất đóng đô, nên chọn trọng thần để trấn”.

    Vua nói : “Phải. Phú Xuân là khoảng giữa trong nước, đế vương đóng đô không đâu hơn đấy. Còn các thành trấn chỉ nên làm hành tại để tiện khi đi tuần thăm các địa phương và xem xét phong tục mà thôi”.

    Lấy Tôn Thất Phụng, Tôn Thất Hựu làm Miếu lang, Tôn Thất Tiến, Tôn Thất Thọ làm Miếu thừa, phụng giữ việc thờ cúng các miếu.

    Diễn tập trận voi. Vua ngự điện Càn Nguyên để xem.

    Người thuộc hạ ở phủ Diên Khánh công Tấn tranh nhau thầu thuế cửa quan bến đò với người ta. Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân không cho. [Diên Khánh] công gọi Bá Nhân đến trách mắng. Bá Nhân đem việc tâu lên. Vua nói : “Cửa quan bến đò là thuế của nước, Diên Khánh công sao lại được như vậy ? Mà chức của ngươi là chức Kinh doãn, phải không sợ kẻ quyền quý, sao lại nghe gọi là đến ngay mà chịu nhục”. Bá Nhân cúi đầu tạ tội.

    Cấp phẩm phục cho các quan văn võ tứ phẩm trở lên. Sắc từ nay, phàm gặp lễ đại triều mà vô cớ không vào chầu thì xử tội theo luật.

    Dựng hành cung ở Thanh Bình. Lính và thợ ứng dịch được cấp tiền gạo hai tháng. Trấn thần xin sai dân các huyện chia nhau đi lấy gỗ. Vua không muốn làm nhọc sức dân, sai quan tăng giá mà mua.

    Sơn Tây bắt được giặc trốn là Nguyễn Danh Chí nguỵ xưng Tả Hà đại tướng quân, đem giết.

    Nguyên miếu làm xong. Vua muốn truy tôn huy hiệu Trừng quốc công, sai bầy tôi bàn. Bọn Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm cho rằng lễ chưa đời nào đủ bằng nhà Chu. Chu công giúp nên đức của vua Văn, vua Võ, truy phong vương tước cho Thái vương, Vương Quý, và lấy lễ thiên tử thờ cúng Tiên công. Còn từ Tổ Cam trở lên đến Hậu Tắc thì chỉ gọi là Tiên công mà thôi, chưa từng tôn phong. Thế tổ Cao hoàng đế ta thống nhất trời nam, truy phong đế hiệu cho Triệu tổ và Thái tổ((1) Triệu tổ là Nguyễn Kim ; Thái tổ là Nguyễn Hoàng.1), cả đến liệt thánh, bèn nhân nơi nền cũ ở Quý hương dựng lên Nguyên miếu, chính miếu thờ Triệu tổ và Thái tổ, tả miếu thờ Trừng quốc công và phối thờ Lỵ nhân công, chưa từng truy tôn thuỵ hiệu. Đấy cũng là cùng một đường lối như nhà Chu thờ Tiên công. Xin vẫn theo hiệu cũ mà thờ cúng. Vua cho là phải.

    Ngày Kỷ mão, vua ra cửa biển Thuận An xem đài Hải Trấn. Ngày hôm sau trở về.

    Lại hoãn việc đào sông Vĩnh Tế. Dụ Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt rằng : “Việc sông ấy năm ngoái có chỉ tạm đình để năm nay lại đào tiếp. Duy nghĩ sông tuy chưa đào xong, đường nước cũng đã thông được thuyền bè, huống chi dịch lệ mới yên, chính là lúc phải để cho dân nghỉ ngơi, sao nên vội bắt dân vất vả ? Khanh nên tuyên cáo ý ấy cho dân đều biết”.

    Tháng 2 ngày Nhâm ngọ, mồng 1, có nhật thực.

    Cai bạ Quảng Nam Nguyễn Kim Trung vào yết kiến. Vua hỏi việc làm ruộng. Trung đáp : “Tháng sau mà không mưa thì sợ hại việc nông”. Vua buồn rầu nói : “Năm ngoái ân xá trong ngoài không đâu là không nhờ ơn. Còn nghĩ Quảng Nam mất mùa, một năm hai lần bán thóc ra, lo lắng cho dân không phải là không chu đáo. Nay đương mùa làm ruộng mà trời lại ít mưa, sao riêng khổ cho dân miền ấy để trẫm ngày đêm lo phiền”. Liền sai trung sứ chia đi các dinh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi để thăm dò lúa ruộng thế nào về tâu.

    Sai Chánh giám sơn lăng sứ là Tôn Thất Đạo quản các vệ Hộ lăng, vệ binh thì cấp cho mỗi người một bộ áo quần.

    Sai thuỷ quân lên núi lấy gỗ. Sắc cho các thợ rèn xem đồ dùng có sứt hỏng thì chữa lại. Từ đấy các sở công dịch xem đấy làm lệ.

    Ngày Tân mão, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao.

    Phục chức cho Trần Công Lại làm Vệ uý quân Thần sách, thự Trấn thủ Vĩnh Thanh. Trước Lại làm Đô thống chế trấn Thanh Hoa, có tội, gặp ân xá được miễn, theo Lê Văn Duyệt đi Gia Định. Duyệt xin hộ nên có mệnh này. Khi Lại bị tội, chưa nộp tờ chiếu về chức Đô thống chế, nay mới sai thu hồi. Nhân đấy, sắc cho bộ Hình từ nay quan lại có tội mà đáng xét hỏi thì trước phải cách chức và thu bằng sắc để nghiêm phép nước.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “Trong hạt thành giá bạc cao, người thu thuế cửa quan và bến đò xin nộp bạc và tiền mỗi thứ một nửa (lệ phải nộp toàn bạc), và lấy tiền kẽm nộp thay”.

    Vua nói : “Nếu có thể thiệt trên mà lợi dưới thì tiếc gì”. Rồi sau dân các hạt Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Yên Quảng cũng nhân giá bạc cao, xin nộp thuế bằng toàn tiền (thuế ruộng, theo lệ nộp nửa bạc, nửa tiền). Vua đều y cho.

    Miễn thuế năm nay cho các đầm bỏ hoang ở Bình Thuận, Bình Hoà. Ra lệnh cho quan hai trấn ấy gia tâm chiêu tập đấu giá như lệ.

    Cho gọi sông An Cựu là sông Lợi Nông. Vua xem bản đồ Kinh thành, bảo thị thần rằng : “Tiên đế khai con sông này là lợi muôn đời cho nông dân”. Bèn đặt tên là sông Lợi Nông. Sai dựng kệ đá ở trên dưới cửa sông để ghi nhớ. Lại gọi con sông ở bốn mặt thành là sông Hộ Thành, và đổi gọi cầu Bạch Yến là cầu Kim Long.

    Lấy Ký lục Vĩnh Thanh là Nguyễn Hựu Nghi làm thự Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào thành Gia Định, Hữu Tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân lĩnh hai tào Binh Công, Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Xuân Thục chuyên lĩnh Hộ tào, Thiêm sự Hộ bộ là Vũ Văn Điềm biện lý Hộ tào, Tham luận quân Thần sách là Trịnh Văn Phượng làm Thiêm sự Binh bộ biện lý Binh tào, Tri bạ Gia Định là Nguyễn Đức Hợi làm Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào, Thư ký Bình Định là Phạm Phúc Thiệu làm Lang trung Công bộ biện lý Công tào.

    Lấy Hiệp trấn Cao Bằng là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn Thái Nguyên.

    Tham hiệp Thanh Bình là Trần Văn Phú chết. Lấy Tri phủ Diễn Châu là Lương Vân làm Tham hiệp Thanh Bình.

    Sai Hàn lâm Thừa chỉ Trần Công Tuân tham lý công việc các viện thuộc Văn thư phòng.

    Bình Hoà bị hạn lâu, trấn thần không báo. Đến khi đảo được mưa đem việc tâu lên.

    Vua quở rằng : “Bọn ngươi là chức tuần tuyên, khi gặp hạn dữ thì đáng phải kíp làm sớ tâu ngay và hết lòng thành cầu đảo, ngõ hầu sớm được mưa rào, lúa bị hạn có thể cứu được, sao lại mấy tháng không mưa mà cứ dùng dằng chọn ngày, đảo vũ được mưa rồi mới tâu lên ? Thế là bọn ngươi không gấp lo việc dân, trách nhiệm chăn dân ở đâu ? Nay hãy tha tội cho, sau đừng thế nữa”.

    Bỏ tên Nguyễn Xuân Hải trong sổ hương cống. Xuân Hải người xã Đông Ngạc trấn Sơn Tây, khoa Kỷ mão khai mạo vào sổ Quảng Nam, đỗ Hương cống. Bầy tôi bàn bổ Tri huyện Diên Khánh. Hàn lâm Biên tu là Hoàng Quýnh phát giác việc ấy mà tâu hặc. Vua giao xuống cho bộ Hình bàn. Bộ thần bàn xin cho hai người được miễn tội.

    Vua nói : “Việc kiện tất có người trái người phải, tha cả hai bên có được không ?” Hạ lệnh cho bầy tôi bàn lại. Đều cho là Hải dối vua là bất trung, quên cha mẹ là bất hiếu, xin bỏ tên không dùng nữa ; còn Quýnh tham hặc đúng thực, xin tha cho tội “nói việc vượt chức”. Vua cho là phải.

    Lấy Ký lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán làm Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ (trật Chánh tam phẩm). Sai bộ Lễ từ nay có chiếu sắc thì giao hết cho Kim Hoán để chia uỷ cho Hàn lâm vâng soạn.

    Lấy Ký lục Định Tường là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Quảng Bình, Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân làm Cai bạ Quảng Đức, Tham hiệp Sơn Nam hạ là Nguyễn Hữu Phượng làm Ký lục Quảng Đức, Tri phủ Lạng Giang là Vũ Hữu Tín làm Thiêm sự Lễ bộ.

    Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Văn Y chết ; lấy Tri phủ Đức Quang là Nguyễn Hữu Bảo làm Tham hiệp Nghệ An.

    Lấy Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh làm Thiêm sự Lại bộ. Trước Đăng Doanh được triệu về Kinh, khi đến Kinh mắc bệnh, không thể yết kiến được. Vua nghĩ Đăng Doanh ngày trước có công phụ đạo((1) Phụ đạo : giúp đỡ việc học của Thái tử.1), cho tiền ưu dưỡng. Đến nay bệnh khỏi, bèn bổ cho chức ấy.

    Lấy Đốc học Kinh Bắc là Nguyễn Tuần Lý làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, Đốc học Sơn Nam thượng là Nguyễn Mậu Bách làm Hàn lâm viện Thị độc, Trợ giáo Sơn Tây là Nguyễn Tập làm Đốc học Sơn Nam thượng.

    Dựng hai miếu Hội đồng và Tam Toà ở Quảng Bình (miếu Hội đồng ở xã Lương Yên, huyện Phong Lộc ; miếu Tam Toà ở ngoài luỹ Nhật Lệ).

    Mua đường cát ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, hộ làm đường muốn lĩnh tiền hoặc bạc đều cho cả.

    Bắt đầu cho quan viên văn võ gia cấp. Chiếu rằng : “Trước thưởng là để khuyến khích người hiền tài công lao, cấp bậc là để ban ân điển. Hoàng khảo ta mở nền phục nghiệp, công đức đều thịnh, chia chức đặt quan, quy mô rộng rãi, đã định đặt điển lệ gia cấp, nhưng chưa rỗi để bàn. Trẫm buổi đầu nối nghiệp, noi theo chí hướng Tiên đế, đã từng xuống ân chiếu cho văn võ trong Kinh từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia thêm một cấp, nhưng vì Tiên đế mới vắng, công việc bề bộn nên chưa thi hành. Nay tiết vừa mùa xuân, chính nên làm việc vui mừng ân huệ. Vậy hai bộ Lại, Binh phải xét rõ sổ quan lại, kể từ ngày mồng một tháng giêng, năm Minh Mệnh thứ 1, phàm các quan văn võ đều theo chiếu trước mà gia thêm một cấp, lại gia ân chuẩn cho cùng với lệ quân công mà gia cấp, làm chiếu văn cấp cho. Bọn ngươi phải kính trọng chức quan của mình, kính theo mệnh ta, đem hết tài năng giúp vầy mưu lược, nối vui tốt lành vô tận, để hưởng phước thái bình đời đời”.

    Ngày Tân sửu, dựng miếu Hưng tổ. Trước đây, năm Gia Long thứ 3, dựng miếu ở phía hữu trong hoàng thành, gọi là miếu Hoàng khảo. Đến nay, bàn dựng Thế miếu ((1) Thế miếu : miếu thờ Gia Long.1), bèn dời miếu ấy dựng ra phía bắc. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hữu tham tri Công bộ Trần Văn Tính trông coi công việc. Bầy tôi bàn dâng miếu hiệu là Hưng tổ, đại lược nói rằng : “Hoàng tổ là con thứ hai dòng đích của Thế tông Hiếu Võ hoàng đế ta, phát phúc đã lâu dài, sinh ra Thế tổ Cao hoàng đế ta, ứng mệnh trời thuận lòng người, quét sạch biến loạn, khôi phục nghiệp cũ, mở mang toàn cõi nước Việt, nghiệp đế nổi lên thực gốc ở đây, theo lẽ phải làm rạng tỏ công đức, sao cho xứng đáng. Phàm chữ “Hưng” nghĩa là khởi nghiệp, lại có ý là thịnh vượng, Kinh Thi có câu : “Trời giúp cho người, sao chẳng nổi dậy (Hưng). Vậy xin lấy chữ “Hưng” làm miếu hiệu. Vua khen phải.

    Bắc Thành tâu nói : Trong 20 huyện châu ở hạt trấn Hưng Hoá thì 16 châu đều nộp thuế thay bằng tiền, duy có 4 huyện Thanh Xuyên, Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập và huyện Tam Nông ở Sơn Tây nộp theo thì hằng năm số thóc thuế chỉ có hơn 5.000 hộc, lấy để chi cấp lương bổng, thường lo không đủ, sợ không có sẵn dùng những lúc có việc hoãn cấp. Vậy xin trích hai huyện Hạ Hoa và Hoa Khê thuộc Sơn Tây là nơi gần trấn lỵ khiến nộp theo để chứa trữ. Vua y lời tâu.

    Lại sai các quan trong ngoài đều cử những người mình biết. Chiếu rằng : “Từ khi đấng minh vương dùng người dựng chính, không phải là mượn nhân tài ở thời đại khác. Ta từ ngày giữ chức đến nay, cầu người hiền sĩ như khát nước, đã từng hạ lệnh cho trong ngoài đề cử người hiền, mà đã lâu không thấy cử ai. Một ấp mười nhà tất cũng có người trung tín. Cả nước rộng rãi thế này mà lại không có nhân sĩ đủ tài đủ đức sao ? Hoặc giả chưa hết lòng tìm hỏi, đến nổi kẻ hiền tài còn bị che lấp mà chưa được trên biết đến, chẳng hoá ra phụ ý trẫm cầu tài rộng khắp hay sao ? Vậy các ngươi phải đề cử những người mình biết, trẫm sẽ tuỳ tài bổ dụng”.

    Lấy Vệ uý quân Thần sách là Phan Tiến Hoàng làm thự Trấn thủ Phiên An.

    Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt uỷ cho Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh vào yết kiến.

    Vua nhân nói : “Người Chân Lạp hẳn đã sợ uy mộ đức chưa” ? Vĩnh đáp : “Sợ uy thì có, còn mộ đức thì chưa dám chắc”.

    Vua nói : “Tình dân Man vốn như thế, ta nên sửa thêm đức tốt thôi”. Khi Vĩnh về, vua dụ rằng : “ở Gia Định bệnh dịch lại phát, ngươi về bảo Lê Văn Duyệt hạ lệnh cho nhà dân theo cách bỏ lửa cũ lấy lửa mới, thì bệnh dịch có thể bớt được. Đấy là phương pháp tìm lành tránh dữ ghi trong sách cổ, mà lại là dị ý của người xưa dùi cây đổi lửa vậy”.

    Vệ uý Trung vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành dâng biểu đề cử Cai án thuộc dinh là Vũ Văn Trinh làm Thư ký Bình Định. Vua nói : “Thuộc hạ mình khuyết, đề cử vượt sang nha khác có nên không ?”. Nhân sắc rằng : “Từ nay quản lĩnh các dinh vệ xét thấy thuộc hạ mình có người tài giỏi mà không có chỗ khuyết để thăng bổ thì làm tờ trình rõ với đại thần, liệt khai lý lịch và sự trạng người ấy, tâu xin lượng tài bổ dụng. Không được đề cử vượt quyền”.

    Định rõ lại điều lệ thi Hương. Hai trường Quảng Đức, Nghệ An thì lấy thượng tuần tháng 7, trường Gia Định thì hạ tuần tháng 9, các trường Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam thì thượng tuần tháng 9, vào thi. Phàm học trò ứng thi khoa trước chưa đỗ trường nhất, trường nhì thì do học quan xét hạch nếu là thuộc lại trong quân thì do người cai quản xét hạch, ai trúng thì ứng thí, người du học đều phải về nguyên quán, không được phụ thí. Lại hạ lệnh yến Lệ Minh thi Hương năm nay lấy bạc cấp thay.

    Sai Bình Hoà mộ người lập hai đội thuộc lệ, mỗi đội 50 người, chia ra đóng ở thủ Bình Nguyên và các cửa biển Cam Ranh, Hòn Khói.

    Bắt đầu dựng Quốc tử giám (ở giữa Giảng đường, đằng trước làm Di luân đường, hai bên tả hữu làm phòng ở cho tôn sinh, giám sinh). Vua khi mới lên ngôi, sai dinh thần Quảng Đức gọi thợ và sắm gỗ, sau vì có bệnh dịch lại thôi. Đến nay mới xây dựng.

    ở Hương Sơn trấn Nghệ An có cướp nổi. Viên quan võ bắt cướp là Nguyễn Văn Thiết bị chết. Việc tâu lên. Vua dụ Trấn thủ Nguyễn Văn Xuân rằng : “Cuộc hành quân này quân cướp có 60 người mà quân của Thiết cũng 60 người, không phải là quân ít, giặc nhiều, mà không địch nổi, làm sao lại chịu thua ? ấy bởi tại ngươi ngày thường kỷ luật không nghiêm nên đến nỗi thế. Nay phải dạy khuyên quân lính, liệu phương lùng bắt, khiến cho giặc hết dân yên. Nếu điều độ sai trái, bọn cướp thừa cơ quấy rối thêm thì dù thương ngươi già, nhưng còn phép nước thì sao ? Ngươi phải kính theo lời ta, chớ chểnh mảng”.

    Dụ đến, Xuân sợ hãi xin nhận tội, rồi tức khắc thân đem binh voi, chia phái đuổi đánh, bắt được hơn 20 tên cướp. Xuân đem việc tâu, nói là chưa đủ lệ thưởng.

    Vua nói : “Thưởng phạt đúng phép là đạo dụng binh. Có công không thưởng thì lấy gì mà khuyến khích”. Rồi sai đem bạc thưởng cho theo thứ bậc.

    Vua lại nghe tin trấn thần phái binh đi tuần bắt mà không cấp lương đi đường, bèn dụ rằng : “Thương nuôi quân lính là việc trọng yếu nhất của nhà binh. Nay giao cho trách nhiệm đi bắt cướp mà lại không cho ăn, thì có thể nào đói bụng mà trị được giặc ! Từ nay biền binh có việc công sai, phải tuỳ việc khó dễ, định hạn đi đường mà phát lương tiền cấp cho”.

    Vua đến hai xã An Vân, Cổ Vưu xem lúa ruộng, triệu kỳ lão đến hỏi, đều nói rằng lúa năm nay tốt hơn những năm gần đây nhiều. Vua cả mừng, lại đi thăm sông Lợi Nông, triệu kỳ lão xã Thanh Thuỷ hỏi. Đáp rằng hiện nay lúa hơi tốt, nhưng chưa biết thu hoạch sẽ ra sao. Vua nói : “Trẫm vì dân mà lo việc nông, được mùa thì mừng, chứ không phải nhân thể mà đánh thuế nặng thêm, sao không nói thực, há không phải là phụ ý trẫm ư ?”. Đến xã Dã Lê lại hỏi kỳ lão. Đáp rằng : “Bọn thần tuổi quá 70, chưa từng thấy năm nào lúa tốt như ngày nay”. Vua khen là thành thực, ban cho 20 quan tiền. Chưa được bao lâu, bỗng có gió bấc. Vua triệu dinh thần Quảng Đức là Ngô Bá Nhân bảo rằng : “Nay lúa mới làm đòng mà gió bấc lạnh lẽo, trẫm rất lấy làm lo. Ngươi phải xét hỏi dân gian xem lúa ruộng có tổn hại không. Trẫm ngày đêm sốt ruột lo lắng về đó, không phải là mộ lấy tiếng khen, chính vì nghĩ đến nhà nông suốt quanh năm cần khổ, nếu không được mùa thì không khỏi đói rét vậy”.

    Ra lệnh cho văn võ đều cử những người thuộc hạ có tài nghệ. Dụ rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay chỉ lo có được nhân tài, đã từng tìm kiếm rộng khắp để tuỳ tài, ghi tên bổ dụng. Nhưng còn nghĩ học trò tài giỏi bị chìm giấu ở hàng quan dưới còn nhiều, nếu không cho tiến dẫn ngoài lệ thì sao đạt đến trên được. Từ nay các viên nhân chuyên quản, văn mà có người kinh sách thông thạo, viết và toán tinh thông, võ mà có người thao lược uẩn súc, tài nghệ thành thạo, nếu biết đích xác thì dẫu chưa dự vào lệ đình thần đề cử cũng được xét cử do hai bộ Lại Binh tâu lên”.

    Đổi Nội hàn ty làm Nội hàn viện, sai bọn Nguyễn Đăng Tuân chọn người viện thuộc, ai có văn học cần mẫn, kham nổi việc thì bổ cho các chức Biên tu, Kiểm thảo, Điển bạ theo thứ bậc khác nhau.

    Chia Văn thư phòng làm hai tào (Thượng bảo, Biểu bạ, Đồ thư, Ký chú), lấy các thuộc viên chia giữ công việc.

    Đặt kho Đốc tín ở bảo Châu Đốc thành Gia Định để thu tô thuế của hai huyện Vĩnh Định, Vĩnh An sung làm lương quân. Rồi sai Thiêm sự Binh tào thuộc thành là Nguyễn Đức Hội biện lý công việc lương tiền ở Châu Đốc.

    Ở huyện Lễ Dương, Quảng Nam có mưa đá. Thị thư Lê Vạn Công nhân đi xét hỏi về tâu. Vua nói đấy là khí âm ức khí dương nên sinh ra thế. Hơn một tháng trấn thần mới đem việc thiên tai báo lên. Vua quở rằng : “Các dinh trực lệ đều được mùa, duy chỉ hạt ngươi có tai nạn riêng, sao không kịp tâu ngay, có phải là sơ ý của trẫm uỷ giao cho việc chăn dân như thế đâu !”. Bèn sai tha thuế ruộng cho 11 xã bị tai.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHỊ KỶ - QUYỂN VIII

    THỰC LỤC VỀ THÁNH TỔ NHÂN HOÀNG ĐẾ

    Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa xuân, tháng 3, ngày Quý sửu, tôn Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu. Trước một ngày, sai quan kính cáo ở các miếu. Vua thân đến điện Hoàng Nhân cáo việc ấy. Đến ngày, vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ, dâng sách vàng, ấn vàng để làm lễ tiến tôn. Sách văn rằng : “Gốc nguồn là mẹ, công sinh thành tham dự với cha ; đức cả nổi danh, mệnh tốt này thực trời ban xuống. Tô son rực rỡ, sách ngọc huy hoàng. Kính nghĩ : Hoàng mẫu bệ hạ, nhân hậu tự trời, hiền minh dòng dõi. Từ ái đối với con cháu ; phúc đức để cho nước nhà. Dạy dỗ thân con, ngày nay mới có. Đã hưởng thiên hạ hiếu dưỡng, đáng được thiên hạ lừng danh. Thành khẩn chuẩn lời đình thần, nghển trông đức từ khiêm tốn. Hiếu lớn biểu dương khuôn phép, nên dùng thức văn quý tôn. Bởi thế đã xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi kính mang sách ấn dâng tôn hiệu Hoàng thái hậu. Kính nghĩ, danh lớn chính đáng, phúc tốt dồi dào. Một nhà đều vui vẻ ; phong hoá gốc từ đây. Muôn năm mong sống lâu ; đời đời hưởng phúc mãi”.

    Ngày hôm sau, vua ngự điện Thái Hoà, ban ân chiếu cho trong ngoài. Chiếu rằng : “Chính danh vị là mối đầu trong việc chính ; tôn cha mẹ là hiếu lớn của người con. Từ xưa đế vương thừa hưởng dư đồ, ai cũng nêu đức để phúc, khiến cho khắp nơi chan hoà. Nhà Chu có bài vị Tư Trai((1) Tư Trai : một bài trong Kinh Thi, ca tụng đức hạnh Thái Nhâm là mẹ sinh ra vua Văn vương nhà Chu.1) ghi làm thi ca ; nhà Hán có ca Trường Lạc((2) TrườngLạc : nhà Hán làm cung này ở góc phía đông Tràng An. Sau Hán Huệ đế lấy cung này làm nơi ở của mẫu hậu.2) lưu trong sử sách. Thực là luân thường phép lớn, vẻ đẹp đời bình. Kính nghĩ Hoàng mẫu giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, sáng tỏ đức hiền. Lòng từ ái ban cho con cháu, phúc tích luỹ để cho nước nhà. Dạy dỗ cho ta, thừa
  • Chia sẻ trang này