0059.015 - Gà xào gừng - Done (GD)

19/11/15
0059.015 - Gà xào gừng - Done (GD)
  • PDF
    GoogleDocs


    :rose::rose::rose:
    Chuẩn định rằng từ nay những kẻ tù tội Bắc Thành và các dinh trấn phát phối đi Gia Định và lính ở hai cơ Thanh thuận, An thuận đi thú ở Gia Định, nếu có ai bỏ trốn mà quân hoặc dân bắt được thì cứ bắt được mỗi người thưởng cho 2 lạng bạc. Hai thành bắt được thì cho chém trước tâu sau ; các địa phương bắt được thì tâu lên đợi chỉ.

    Miễn thuế thân và dao dịch cho xã Văn Xá(() Quê ngoại của Minh Mệnh.) trong 30 năm, bắt đầu từ năm nay. Vua bảo bầy tôi rằng : “Vua Quang Vũ nhà Hán đối với Nam Dương(() Quê vua Quang Vũ nhà Hán ở Trung Quốc.), chỉ tha thuế 1 năm, không dám tha lâu đến 10 năm. Nay tha 30 năm đã lâu lắm rồi”. Rồi lại tha thuế điền thổ cho dân ấy 3 năm.

    Người nhà Chưởng Thuỷ quân Tống Phước Lương có kẻ phạm pháp. Vua sai dinh thần Quảng Đức tra hỏi, nhân bảo Cai bạ Ngô Bá Nhân rằng : “Chức quan Kinh triệu cần phải công bằng chính trực, không chịu khuất phục khi làm chức vụ. Từ hoàng thân quốc thích và đại thần trở xuống, có tôi tớ phạm pháp thì nhất thiết xét xử theo pháp luật, đừng tránh kẻ cường quyền. Nếu có kẻ ghen ghét gièm pha, đã có trẫm, không sợ”.

    Vua lại nghe dân Kinh thành nhiều người khinh nhờn quan trưởng, lại dụ cho dinh thần nghiêm cấm.

    Định ngạch nhân viên ở Nội vụ phủ và Vũ Khố, Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, mỗi chức 2 người, Thư lại bát cửu phẩm mỗi chức 8 người, Thư lại vị nhập lưu thì Nội vụ phủ 36 người, Vũ Khố 44 người.

    Đổi Lệnh sử ty ở sáu bộ làm Thanh lại ty, Lệnh sử ty ở Nội vụ, Vũ Khố làm Thanh thận ty. Lại chuẩn định rằng Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, Thư lại bát cửu phẩm ở các ty đã thực thụ thì đều chiếu phẩm trật chi lương ; Thư lại vị nhập lưu thuộc sáu bộ, thì chia làm ba ban mà chi lương, thuộc Nội vụ và Vũ Khố thì thường xuyên chi lương (mỗi người hằng tháng cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo).

    chính biên

    Đệ nhị kỷ - quyển x

    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

    Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa hạ, tháng 7, mồng 1 tế thu hưởng.

    Thi Hương ân khoa ở hai trường Quảng Đức, Nghệ An. Sai Thượng thư Hình bộ là Lê Bá Phẩm sung Đề điệu trường Quảng Đức, Thị trung Trực học sĩ tham bồi công việc Lại bộ là Đinh Phiên sung Giám thí, Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán sung Đề điệu trường Nghệ An, Ký lục Quảng Bình là Trần Lợi Trinh sung Giám thí.

    Dụ rằng : “Tìm nhân tài phải do khoa mục, đào tạo kẻ sĩ không phải để gây ơn riêng. Trẫm lên ngôi mong trị, ngồi lánh bên chiếu đợi người hiền. Ân khoa năm nay là điển tốt lần đầu. Phàm bầy tôi các ngươi được dự tuyển vào việc trường thi, phải chí công, chí minh, không được thiên tư mảy may mà tự chuốc mối lo. Đề điệu và Giám thí phạm lỗi, mà Giám khảo và Sơ phước khảo biết nêu lên thì có thưởng ; Giám khảo và Sơ phước khảo phạm lỗi mà Đề điệu và Giám thí biết nêu lên để hặc thì được miễn nghị. Phải mọi người cố gắng cho xứng đáng thịnh ý của trẫm kén chọn người tài”.

    Đến khi danh sách dâng lên, lấy số đỗ Hương cống là 40 người. (Trường Quảng Đức 25 người : Bùi Văn Lý, Phạm Hữu Nghi, Thân Văn Duẩn, Phạm Văn Thiện, Nguyễn Quốc Hoan, Phùng Nghĩa Phương, Ngô Bá Tuấn, Lê Văn Lễ, Trần Văn Tưu, Lê Văn Hi, Nguyễn Hữu Hoàng, Tào Quang Lệ, Hoàng Công Huyến, Đỗ Văn Du, Bùi Ngọc Chấn, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Đình Tân, Hoàng Văn Minh, Nguyễn Văn Thống, Nguyễn Thừa Giảng, Phan Thế Chấn, Nguyễn Hữu Gia, Phan Hữu Nghĩa, Dương Quỳnh, Hà Thúc Trương. Trường Nghệ An 15 người : Phan Hữu Tính, Đỗ Mẫn, Chu Danh Hiển, Đinh Văn Phác, Phan Văn Bưu, Nguyễn Thế Tịnh, Phan Cử, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Bật Lượng, Nguyễn Trọng Phu, Trần Huy Phác, Hồ Sĩ Tiêm, Nguyễn Trọng Ngọc, Nguỵ Khắc Tuần, Nguyễn Cơ Thể).

    Vua đến thăm trường thi Quảng Đức, lên vọng lâu xem, có người Kinh Bắc là Nguyễn Văn Hoán đón giá dâng 15 sách thái bình. Lính Tả vệ bắt giam ở trại quân. Vua nói : “Những điều Hoán trình bày tuy là viển vông không dùng được, nhưng trẫm đã mở rộng đường cho nói, há vì lời nói mà bắt tội người ta sao ?” Lập tức sai tha. Nhân thế dụ rằng từ nay có ai đón giá dâng lời thì tả hữu vệ phải giao cho bộ tâu lên, không được bắt giam.

    Cho thú binh An thuận, Thanh thuận ở Gia Định hơn 100 quan tiền.

    Vua thấy Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân già yếu, dụ rằng khi lễ thường thì miễn vào chầu, tâu việc thì không phải quỳ. Nhân từ chối nói : “Trước mặt vua quỳ tâu là lễ vậy”. Vua nói : “Đấy là trẫm ưu đãi lão thần, việc gì mà từ chối”.

    Công thần Vọng Các Lê Văn Chử trước làm Lưu thủ Bình Định, có tội bị cách chức. Đến nay nhờ Vũ Viết Bân dẫn vào yết kiến. Vua nghĩ đến công trước, khiến ở lại Kinh hầu hạ, hằng tháng cấp cho 6 quan tiền, 1 phương gạo.

    Nước sông Ngưu Chử (Bến Nghé) ở Gia Định lại trong, từ ngày Bính thìn đến ngày Tân dậu là 6 ngày. Thành thần đem cả việc nước sông đã trong kỳ tháng trước làm biểu tâu lên. Vua dụ bầy tôi rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, ngày đêm đăm đăm lo nghĩ để tìm đạo lý trị dân mà còn sợ rằng trên không báo đáp được sự phó thác nặng nề của trời và hoàng khảo, dưới chưa yên ủi được lòng thần dân trông mong, nên sớm hôm lo lắng chăm chỉ, không dám vui thú mảy may. Gần đây giặc cướp chưa hết, dân chúng chưa yên, phong tục còn kiêu bạc, việc trị dân chưa bỏ được hình phạt, há không phải là trẫm đức bạc sao ! Có chính sách hay gì đâu mà được nước trong như thế ? Nghe tin càng thêm sợ hãi để tu tỉnh mà thôi. Hoặc giả dân ta gần đây gặp dịch lệ trẫm đã hết sức vì dân cầu khẩn, chút cảm động được lòng nhân ái của trời, nên trời giáng điềm lành báo cho dân ta thóc lúa đầy kho, đều được nhân thọ. Hoặc giả bầy tôi biết lấy công bằng trung trực làm việc nước, giữ mình thanh liêm cần kiệm, xét xử hình án ngay thẳng mà được thế chăng ? Mọi người nên cố gắng lấy mình làm gương cho kẻ dưới, để quan lại trọn chức, dân được yên lành, thì chẳng đợi điềm nước sông trong mà nước ta đã bước lên cõi thịnh trị rồi. Còn điềm lành nào bằng, sự mừng nào bằng !”.

    Bèn dụ trấn thần Phiên An rằng : “Năm Mậu thân ở Gia Định nước sông trong, thì Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy được cõi nam, trẻ già đều bảo là triệu thái bình, không hỏi ai mà đều nói vậy. Thế rồi tức khắc thống nhất đất nước. Năm Đinh sửu nước sông lại trong, nay lại tâu rằng nước sông trong. Trẫm nghĩ rằng trời nhiều lần giáng điềm lành, thực là báo khí hậu thuận hoà, mùa màng phong nẫm, trong ngoài yên lành, để dân ta đều được hưởng phước. Vậy phải sửa lễ mà tế để đáp ơn thần”.

    Chở ở kho Kinh 5 vạn quan tiền và 3 nghìn tấm vải đến trữ ở Gia Định.

    Miễn việc binh dao cho xã Minh Hương ở Gia Định ; thuế thân vẫn thu theo lệ.

    Ban áo quần tiền gạo cho biền binh các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực và hai đội Thị trà nhất, nhị.

    Lấy Hương cống triều Lê là Lý Thiện Dưỡng làm Đốc học Quảng Bình, Lê Tri làm Đốc học Quảng Ngãi, Tổng giáo Nguyễn Huy Cẩm làm Đốc học Biên Hoà.

    Vua đến đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ, cho các tăng hơn nghìn lạng bạc.

    Gọi thợ rèn ở hai xã Minh Lương, Tân Chàng (thuộc huyện Thiên Lộc) về Kinh làm việc, tha cho thuế thân năm nay.

    Vùng ven núi Thanh Hoa có nhiều trộm cướp. Sai trấn thần đặt thêm 3 bảo Nhân Trai, Yên Các, Yên Mỹ cùng với 5 bảo cũ Lãnh Thuỷ (Nước lạnh), Chúc Quán (Quán cháo), Khoa Trường, Yên Tôn, La Miệt, tăng thêm binh đóng giữ.

    Thanh Hoa và Thanh Bình có bão, mưa nhiều, lúa ruộng bị ngập. Sai trấn thần và đạo thần đi khám tâu lên. Rồi Thanh Hoa thấy miếu vũ nhà cửa bị hư hỏng, xin bắt dân sửa chữa. Vua nói : “Dân ấy riêng bị thiên tai, đương cần vỗ về chưa xong, sao còn bắt họ mệt nhọc nữa ?”. Hạ lệnh thuê người làm.

    Sai trích lấy 100 người binh vệ Hổ oai trung sung việc coi giữ Nguyên miếu.

    Thượng thư Lễ bộ là Phạm Văn Hưng cử Tư vụ Nguyễn Bá Thân làm Tri huyện. Vua nói : “Thân nhận chức chưa tới một tuần, sao vội cử như vậy ?”. Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức đáp : “Xưa nay Hương cống đều bổ huyện lệnh, chức Tư vụ không phải là sở nguyện của họ. Nay cho thăng để người ta biết rằng chức Tư vụ là bậc thang để thăng bổ mà vui lòng làm việc”.

    Vua nói : “Có lẽ nào rồi sau lại không được thăng ? Chưa ngồi ấm chiếu đã vội gì ?”. Không cho.

    Định lệ nộp thay tiền cho ba đội buồm đệm ở Bình Hoà. (Tráng dân nộp thay bằng tiền mỗi người 8 quan ; lão tật nộp một nửa).

    Định ngạch số người giữ án và giữ sổ cho các địa phương từ Quảng Bình vào Nam, tuỳ công việc nhiều ít mà khác nhau. (Gia Định 15 người giữ án, 25 người giữ sổ ; Quảng Đức, Quảng Nam, Bình Định, Phiên An, Vĩnh Thanh, Định Tường, mỗi nơi 10 người giữ án, 20 người giữ sổ, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Hà Tiên, mỗi nơi 6 người giữ án, 12 người giữ sổ).

    Vệ uý Thị trung lĩnh Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Trinh cáo ốm. Trấn thần Thanh Hoa tâu lên. Vua nói : “Trinh là con trung hưng công thần Tôn Thất Hội, buổi quốc sơ được ấm thụ chức Kiêu kỵ đô uý, trẫm nghĩ thương người có công lao cũ nên xét dùng con cháu, cất nhắc lên chức ấy. Thực là nghĩ con em nhà ăn ngon mặc đẹp, việc quân chưa quen, nên cho ở ngoài để tập khó, rắp muốn gây dựng cho. Ngày được lệnh, hắn đã cố từ, trẫm hai ba lần mắng bảo mới chịu lên đường. Nay làm quan chưa được bao lâu lại cáo ốm. Sao chẳng nghĩ như thế là trên phụ ơn nước, dưới nhục gia thanh thì còn đứng ở cõi đời sao được”. Bèn không cho. Sau Trinh chết, cho 100 lạng bạc.

    Ký lục Quảng Nam là Hồ Công Thuận chết. Lấy Ký lục Quảng Bình là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Quảng Nam, Thiêm sự Lại bộ là Lê Văn Quảng làm Ký lục Quảng Bình.

    Vua sắp đi Bắc tuần có việc. Vì công việc Bắc Thành bề bộn, sai Tổng trấn Lê Chất về trước thu xếp việc thành. Chất nhân tâu rằng hành cung ở Bắc Thành xin cho dùng sơn đỏ. Vua nói : “Nơi Tôn Miếu làm đẹp thì nên, còn nơi vua ở thì nên mộc mạc để tỏ đức tiết kiệm, dùng văn vẻ làm gì !”.

    Lại dụ các dinh thần trấn từ Quảng Trị ra Bắc sửa lợp lại hành cung, dặn đừng xa xỉ trang hoàng.

    Sai hữu ty chế đồ lỗ bộ đại giá cùng cờ xí, binh khí.

    Quan giám thành đem bản đồ đường thuỷ từ Kinh sư ra Bắc dâng lên (Từ Kinh sư đến hành cung Quảng Bình 8 trạm, từ hành cung Thạch Khê đến hành cung Nghệ An 3 trạm, từ hành cung Thanh Hoa đến hành cung Bỉm Sơn 1 trạm, từ hành cung Thanh Bình đến hành cung Bắc Thành 6 trạm, đều theo đường thuỷ).

    Vua xem. Phàm trên đường chỗ nào đường thuỷ có thể đi thuyền được, đều sai trước Vệ uý vệ Phấn dực Nội thuỷ là Nguyễn Tài Năng chỉnh bị thuyền ghe để chờ.

    Bộ Lễ tâu nói : “Lễ tế tự không gì to bằng lễ Giao tế Trời ; lòng hiếu của đế vương không có gì trước sự tôn kính tổ tiên. Xét sách Chu dịch, thì tiên vương chế nhạc sùng đức, tiến lên thượng đế và phối tế tổ tiên. Lại xét sách Chu lễ tế Trời ở đàn tròn, thì phối tế Hậu Tắc((1) Hậu Tắc : tổ nhà Chu.1), tế Trời ở nhà Minh Đường thì phối tế Văn vương. Vì vậy mà sách Trung dung tán dương Vũ vương Chu công là đại hiếu. Từ nhà Hán về sau, duy có Minh đế nối ngôi, tôn thờ Quang Vũ ở nhà Minh Đường là hơi theo ý cổ. Thế tổ Cao hoàng đế ta, khi đại định rồi, bắt đầu dựng đàn Nam Giao và Thái Miếu, sửa sang lễ nhạc mỗi năm tháng trọng xuân tế Trời Đất ở đàn Nam Giao, rước Thái tổ Gia dụ hoàng đế để phối tự, nêu rõ ở Hội điển để phép cho muôn đời. Kính nghĩ Thái tổ Gia dụ hoàng đế, mở mang nghiệp lớn, gây dựng đất nước, Thế tổ Cao hoàng đế dẹp định hoạ loạn, thống nhất cả nước, lập ra cương kỷ, bản thân làm được thái bình, công cao đức dày, xưa chưa từng thấy, thì theo lễ nên sánh với Trời và cùng hưởng với liệt tổ. Sang năm xong việc quốc tang, đến kỳ tế lớn Nam Giao, xin rước Thế tổ Cao hoàng đế phối tự với Trời. Các đồ thờ và nghi tiết đều theo như vị phối của Thái tổ Gia dụ hoàng đế, rồi ghi thêm vào điển lệ, để noi theo phép hay nhà Thành Chu và tỏ lòng thánh hiếu về sau mãi mãi”. Vua y lời tâu. Bộ thần lại xin cho nhạc sinh tập trước để dự bị đến ngày đại lễ hiếu nhạc. Vua y theo.

    Tháng 8, ngày Mậu dần, đặt triều nghi ở điện Cần Chính, ban dụ cho trong ngoài. Dụ rằng : “Lễ rước lên phối tự ở đàn Nam Giao là để truy tôn tổ tiên, cao sánh với Trời, cho nên lời Tượng ((1) Tượng từ : lời của Khổng Tử giải thích Kinh Dịch.1) nói về lễ ân tiến ghi trong sách Hy kinh((2) Hy kinh : Kinh Dịch.2), bài ca Hữu hưởng còn chép ở thiên “Chu tụng” ((3) Chu tụng : một thiên trong Kinh Thi.3). Tôn bậc tôn, thân bậc thân, vương đạo thực đã rất đầy đủ. Kính nghĩ Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta, thông minh thần vũ, ứng mệnh trời, thuận lòng người, trổ tài kinh luân trong loạn ly, quét sạch bụi mù trong vũ trụ, rửa sạch thù nhục cho muôn dân, yên ổn linh hồn tổ tiên trong chín miếu. Được trời thương giúp, thống nhất cả nước ; dựng nghiệp trung hưng, công đức tươi tốt. Chế tác lễ nhạc để rạng ơn trước, dựng nên kỷ cương lưu lại đời sau. Thân trải hơn bốn chục năm khó nhọc, để lại đến vạn muôn năm cơ đồ. Thực nên phối tự với trời, để tỏ ơn lớn vô hạn. Trẫm từ khi nối ngôi đến nay, kính nhớ tổ tiên, tưởng như giáng lâm, sáng tỏ ở trên, nên càng nghĩ làm cho lừng lẫy nghiệp lớn để tỏ bày lòng kính hiếu. Hiếu kinh nói rằng : “Tôn kính cha không gì bằng đem phối với Trời”. Vậy thì chỉ có tế Giao lễ lớn, kính rước phối lên mới có thể nêu được đức thịnh, tỏ rõ đạo hiếu về sau, lòng chỉ nghĩ nối noi để báo đáp. Nay chuẩn y lời tâu của bộ Lễ, mùa xuân sang năm làm lễ Nam Giao kính rước Thế tổ Cao hoàng đế phối tự. Việc này chép thành Hội điển, truyền lại vô cùng, để tỏ tấm lòng hiếu nối dõi của trẫm và đưa nước nhà đến cõi phước lâu dài. Còn đồ thờ và lễ vật thì do hữu ty kính cẩn sắm sửa”.

    Cấp ruộng lương cho biền binh ở vệ Hộ lăng trung theo như lệ quân Thị nội.

    Lấy Vệ uý vệ Nghiêm uy Tả dinh quân Thần sách là Lê Viết Quý làm Vệ uý Trung vệ dinh Hổ uy quân Thị nội.

    Triệu Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí về Kinh. Trí trước được sai theo việc quân ở Gia Định, đến nay việc biên cương hơi rỗi nên triệu về. Về đến nơi, vua hỏi việc dân, Trí thưa về việc giá gạo đắt (1 phương gạo giá hơn 9 tiền). Vua quay bảo Nguyễn Hữu Thận rằng : “Gia Định là đất dựng nghiệp vương, nay luôn năm mất mùa, trẫm rất thương, muốn tha hết thuế ruộng thì thế nào ?”. Đáp rằng : “Thuế ruộng năm nay đã nộp kho một nửa. Nếu miễn thì người chăm chỉ làm ruộng để nộp thuế cho vua lại không được dự ơn, mà kẻ lười biếng lại được lợi riêng”.

    Vua bảo : “Ngươi nên vì ta nghĩ kỹ việc ấy”.

    Sai Vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản các đội Trường trực, Thường trực.

    Lấy Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách là Phạm Văn Xuân làm Vệ uý vệ Túc võ, Cai cơ Võ Văn Tường làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ, Lê Văn Hùng làm Phó vệ uý vệ Củng võ, Nguyễn Văn Vỵ làm Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhị.

    Triệu thự Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Gia Định là Nguyễn Hựu Nghi vào chầu. Sai Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh quyền lĩnh việc tào.

    Các địa phương tuân theo ân chiếu xét hỏi về các công thần vô tự mà vợ còn thủ tiết, làm sớ tâu lên. Vua chuẩn y lời bầy tôi bàn cấp thêm tiền gạo để nuôi. (Phàm vợ các công thần Vọng Các trước mông ân cấp mỗi tháng 3 quan tiền, 2 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 36 quan tiền 24 phương gạo ; ai hằng tháng được 2 quan tiền 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 24 quan tiền, 18 phương gạo ; ai hằng tháng được 1 quan tiền 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 18 quan tiền, 12 phương gạo ; ai hằng tháng được 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 12 phương gạo. Vợ các công thần nhất phẩm thì hằng tháng cấp 36 quan tiền, nhị, tam phẩm 24 quan, tứ phẩm 18 quan, số phương gạo cũng như số quan tiền. Duy có vợ Lễ bộ Ngô Tòng Chu thì hằng năm cấp 50 quan tiền, 50 phương gạo).

    Tướng giặc ở Sơn Tây là bọn Đỗ Hoành Thản, Đỗ Văn Kỷ kết đảng mưu loạn. Cai đội giữ bảo Bá Dương là Nguyễn Duy Trữ sai thuộc hạ nhập đảng dụ đến Thuỵ Hương (tên xã thuộc huyện Từ Liêm), vây bắt được Thản, Kỷ và đảng giặc hơn mười người. Việc tâu lên. Thưởng cho 100 lạng bạc.

    Sai bộ Binh lĩnh việc bưu chính. Lệ trước các trát giao cho trạm đệ đều do bộ Lại. Vua thấy lính trạm thuộc về binh tịch, nên đổi định lại.

    Ngày Quý sửu, yết lăng Thiên Thụ.

    Sai Chưởng cơ giám thành sứ Trần Văn Học đi Gia Định chiếu địa giới các trấn trong hạt thành và nước Chân Lạp mà vẽ núi sông đường sá để dâng. Học khéo vẽ mà tuổi đã già. Vua bảo rằng : “Ngươi sống không bao lâu nữa, không nghĩ đến để tiếng về sau ru ?” Học đáp : “Xin vâng mệnh”. Bèn sai đi, cho 100 quan tiền.

    Thái thường Tự khanh tham lý công việc Lễ bộ là Lê Đồng Lý, trước kia ở Quảng Trị, cùng Cai bạ Nguyễn Cư Tuấn đốc biện lò gạch, bắt dân làm thay dao dịch, việc phát giác, đều bị cách chức chờ xét. Khi án dâng lên, vua thấy phạm tội trước khi có lệnh ân xá, nên miễn tội cho Lý, cho cung chức như cũ. Cư Tuấn còn can về hối lộ, hạ lệnh cho bộ Hình xét lại.

    Lại cấm rượu chè cờ bạc trong kinh thành. Vua nghe ở kinh thành nhiều dân du đãng họp nhau rượu chè cờ bạc, bèn ra lệnh, trong thì do bộ Binh, ngoài thì do dinh thần Quảng Đức, nghiêm sức cho địa phương xét trị.

    Quốc tử giám làm xong. Bộ Lễ bàn tâu rằng : “Nhà học hiệu đặt ra là để thi hành lễ nhạc, tuyên bố đức hoá, sáng tỏ văn minh, lưu hành ơn dạy, đó là điển lễ rất sáng lớn. Thế tổ lúc mới đại định, yết miếu Khổng tử, dựng lại Văn miếu, dựng học cung ở phía tây, nền móng đã thành mà công việc chưa xong. Hoàng thượng ta vâng theo chí lớn, nhân nền cũ dựng nhà Quốc học, quy mô văn trị rỡ ràng. Nay đã làm xong, xin đặt vị vọng bái Tiên thánh ở nhà Di luân. Giám thần họp sinh viên đến bái yết, rồi hằng ngày ngồi ở giảng đường dạy, để mở con đường sùng nho thịnh vượng cho muôn đời”. Vua y lời tâu.

    Bắt đầu đặt vệ Cẩm y, lấy các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực sung vào, phẩm trật cũng như quân Thị trung.

    Hơn 140 thủ binh ở đạo Cam Lộ thuộc Quảng Trị, gần đây nhiều kẻ trốn hoặc chết. Dinh thần thấy nơi ấy đường sá thông đi các ngả, rất là xung yếu, tâu xin mộ người sung đủ ngạch cũ để phòng ngự. Vua y cho.

    Cho Trần Công Lại làm Thống chế hành chức Trấn thủ Vĩnh Thanh, kiêm quản biền binh đồn Uy viễn, Vệ uý Thần sách là Phan Tiến Hoàng hành chức Trấn thủ Phiên An.

    Miễn thuế thân năm nay cho hai đội thợ rừng ở Quảng Trị.

    Phục chức cho Hoàng Trung Đồng làm Chánh quản Tuần hải đô dinh, cấp bổng Tòng tam phẩm, cho thuộc thành Gia Định sai khiến. Trung Đồng trước có tội bị bãi chức. Vua nghĩ buổi đầu trung hưng có quân công nên lại dùng.

    Chế ấn quan phòng bằng ngà cho Quang lộc Tự khanh và Thị trung Trực học sĩ.

    Lấy Phó vệ uý Hậu nhị quân Thị trung là Lê Phước Bảo làm Phó vệ uý vệ Hữu nhị, Cai đội Hoàng Văn An làm Phó vệ uý vệ Trung nhị.

    Lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ là Trần Công Tuân làm Thượng bảo Thiếu khanh, Lang trung Binh bộ là Vũ Hàm Chương làm Thiêm sự Binh bộ.

    Lấy Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp biện đại học sĩ, vẫn lĩnh Thượng thư Lại bộ và kiêm lĩnh Thượng thư Binh bộ.

    Đầu vua muốn cho Hoài Đức làm quan nhất phẩm, đem hỏi các đại thần. Bọn Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên đều đáp rằng nên. Vua nói : “Phong hội chuyển biến ngày càng mau mà nhân tài ngày càng kém. Văn thần ngày nay tìm được người như Lễ bộ Thượng thư Đặng Đức Siêu khó mà có được. Khéo dùng người thì chỉ tuỳ tài mà bổ quan để dùng. Vả lại quan nhất phẩm văn giai thì buổi quốc sơ đã có quan chế. Ngày nay thăng bổ lên cũng là noi theo lệ cũ vậy. Quy mô dựng nước của Hoàng khảo ta đều là để làm nên chí của tổ tiên. Phàm các điển chương pháp độ để lại cho ta là người sau, ta tự nên tuân theo để truyền muôn đời, có dám vượt qua đâu”.

    Hoài Đức được mệnh, dâng biểu từ chối.

    Vua nói : “Ngày nay ở văn ban có mình ngươi là hơn cả, nên gắng làm trọn chức vụ để giúp trẫm những chỗ chưa kịp. Chớ từ chối”.

    Lấy Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên làm thự Thượng thư Công bộ. Huyên cũng dâng biểu từ chối. Vua không cho.

    Triệu Ký lục Quảng Trị là Vũ Xuân Cẩn về Kinh ; lấy Thượng bảo Thiếu khanh là Nguyễn Cửu Khánh làm Cai bạ Quảng Trị, Tham quân Tiền quân là Vũ Tiến Uyên làm thự Ký lục. Bọn Khánh bệ từ. Vua dụ rằng : “Quảng Trị là nơi đất xấu dân nghèo. Bọn ngươi nên để ý vỗ nuôi, bất tất hộ khẩu phải tăng nhiều, miễn không điêu hao cũng là xứng chức vậy”.

    Quảng Oai công là Quân thích chơi bời săn bắn, từng sai thuộc hạ trong phủ đòi chó săn trong dân gian.

    Vua hạ lệnh đánh roi Trưởng sử và Cai đội, còn bọn thuộc hạ thì đánh 100 trượng, sung làm lính nhà bếp trong quân Tam trực(() Tam trực : các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam.). Em ruột tiểu sai Ngô Doãn Diệu cũng can việc ấy mà bị tội. Diệu đến công phủ đòi hỏi. Vua nghe tin cả giận, ném cái long bài, sai đem chém Diệu ở chợ. Sau nguôi giận lại thôi. Nhân bảo Thống chế Thị nội là Vũ Viết Bảo rằng : “Em Diệu dẫn Quảng Oai công đi chơi bời, ngày ngày chỉ chăm săn bắn, có giết cũng đáng. Nay sung làm lính nhà bếp cũng không quá, thế mà Diệu dám đòi hỏi là thế nào ? Diệu hằng ngày hầu bên cạnh, há không biết Quảng Oai công là em trẫm mà còn dám thế ? Chả trách nào bọn ấy được sai đi các địa phương, hễ ai cho ăn thì khen hay, không thì nói xấu”.

    Chuẩn định bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai thuộc quân Thị nội từ nay có dân ngoại tịch ở Tứ trực(() Tứ trực : các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi.) và các trấn tình nguyện làm binh thì cho ghi vào ngạch.

    Đổi chức Cai hợp các thành dinh trấn làm Thư lại chánh bát phẩm, thủ hợp làm Thư lại chánh cửu phẩm.

    Bắt đầu định ngạch số và phẩm trật Tri bạ và Thư lại các quân dinh. Các vệ cơ ở trong ngoài đều đặt 1 Tri bạ, đội đặt 1 Thư lại. Tri bạ quân Thị trung trật Tòng ngũ phẩm, Thư lại thì tòng bát phẩm ; Tri bạ quân Thị nội Chánh lục phẩm, Thư lại Chánh cửu phẩm. Năm dinh quân Thần sách cùng vệ cơ các quân và các thành

    dinh trấn, thì Tri bạ trật Tòng lục phẩm, Thư lại Tòng cửu phẩm.

    Đình thần bàn lấy tháng 9 thì hạ lệnh ngự giá Bắc tuần. (Nhà Thanh có thư sang nói sứ thần ta là bọn Trần Bá Kiên khoảng tháng 4 đến Yên Kinh, vua Thanh sai án sát sứ Quảng Tây là Phan Cung Thìn sung chức Khâm sứ).

    Định chương trình đi Bắc tuần (Trước kỳ chọn sai hoàng tử và đại thần ở lại Kinh ; điểm các đại thần quan viên hỗ giá ; chọn ngày yết cáo ở các miếu và ở điện Hoàng Nhân, thỉnh an cung Từ Thọ. Sai quan tế thần kỳ đạo [cờ]. Xa giá qua Thanh Hoa thì yết cáo Nguyên miếu. Trên đường đi, qua miếu các đế vương lịch đại, và đền thờ các thần danh sơn đại xuyên, đều có bày đàn tế. Các nơi dịch trạm thì liệu trữ bạc tiền gạo lương để sẵn cho việc ban thưởng. Ngày xa giá khởi hành thì hoàng tử và quan viên lưu kinh ra ngoài Kinh đô quỳ tiễn. Phàm gặp ngày miếu hưởng, ngày kỵ, ngày sóc ngày vọng và lễ ân tiến, hoàng tử lưu Kinh làm lễ. Từ Quảng Nam trở vào Nam, có chương sớ về Kinh, phải đổi trát để chuyển đến hành tại. Từ Quảng Trị trở ra Bắc thì đều đệ thẳng đến. Xa giá đến đâu, quan lại địa phương phải đến đầu hạt quỳ đón. Xa giá đến hành cung thì quan lại địa phương làm lễ triều bái. Lễ dùng trâu gạo thay cho ngọc lụa. Các xã dân dọc đường, kỳ lão đều bày hương án quỳ đón, cho miễn dâng hiến. Ngày hồi loan quan lại các địa phương lại quỳ tiễn ở địa đầu ; hoàng tử và quan viên lưu kinh quỳ đón ở ngoài Kinh đô. Ngày hôm sau, lễ tạ các miếu, điện Hoàng Nhân, mừng sức khoẻ ở cung Từ Thọ, đều theo các lễ như trước).

    Ban kỷ luật hành quân (Phàm ra đi đều y theo đồ thức, nghe hiệu lệnh chiêng trống mà tiến hay dừng, cốt sao đội ngũ nghiêm chỉnh, không được vượt thứ tự tranh nhau. Làm trái thì có tội. Nơi vua trú chân trong hành cung thì treo màn, ở ngoài thành thì vây thành lưới. Quan túc vệ thì tướng không lìa binh, quân không được bỏ hàng ngũ ; không cho người vô sự ra vào lẫn lộn. Khi yên doanh rồi, thổi một hồi tù và, mỗi đội cho 1 phần 5 lính đi lấy củi nước và kiếm mua thức ăn. Thổi ba hồi tù và thì phải về doanh ngay. Kẻ nào dám mua rẻ mua hiếp, hoặc tự tiện vào nhà người hái rau trẩy quả thì đánh 100 trượng. Giày xéo ruộng lúa và thả voi ngựa giẫm hay ăn lúa thóc rau quả thì đánh 80 trượng và bắt đền giá gấp đôi cho chủ. Nếu không có bài trạm mà bắt bậy phu trạm, thì khép vào tội vi chế. Khi đi đường, có ai ốm thì viên cai quản phải lưu lại hai người trong đội để điều dưỡng. Có người chết thì báo địa phương sở tại cấp tiền tuất để mai táng, dựng mộ chí để đợi lúc về nhận. Làm trái thì khép vào luật bỏ xác chết. Ban đêm, trung sứ có việc quan trọng truyền báo, nếu xét có cờ bài mệnh vua, ấn vua hay cờ rồng thì lập tức cho đi. Như các quan văn võ có việc vào tâu, xét có bài tâu việc, cũng lập tức cho đi. Đến cửa ngự doanh, phải chuyển báo cho thị vệ đại thần tâu xin cho vào hay đứng lại. Sau
  • Chia sẻ trang này