01.Vancuong7975(xong)WIKI

22/11/15
01.Vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    V. P. BOROVICKA


    MAFIA
    (TÊN GỌI ĐẦY BÍ ẨN)

    TRẦN QUỐC CHIẾN dịch

    NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG

    LỜI GIỚI THIỆU
    Nghe đến Mafia, người ta thường nghĩ ngay tới những vụ giết người rùng rợn, những trận đấu súng đẫm máu, những vụ cướp nhà băng ly kỳ... Nhưng ai biết mafia ngày nay còn là một chính phủ vô hình với quyền lực vô hạn, gồm những chủ ngân hàng giàu sụ, những giám đốc công ty kếch xù, những chính khách bệ vệ, chẳng những đã từng ăn cánh với CIA (Cục tình báo trung ương Mỹ) nhúng tay vào nhiều vụ đảo chính khủng bố tày đình, mà còn có thế lực lớn, thừa sức đưa lên hay hạ bệ được cả tổng thống Hoa Kỳ.

    Vậy tổ chức này xuất phát từ đâu và vì sao nó mang tên mafia? Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhất trí quê hương của mafia là Sicille, một hòn đảo lớn phía nam nước Ý, nằm ở đường giao nhau giữa các châu Âu, Á, Phi. Trong quá khứ cũng như hiện tại, Sicille vẫn là một vị trí chiến lược quan trọng, nơi giành giật giữa các thế lực đối lập. Những mỏm đá trên đảo đã từng in dấu vó ngựa của các danh tướng như Ceasar, Alexandr Đại đế, Hanitbal... Trong chiến tranh thế giới thứ hai, đây là nơi đổ bộ của quân Anh - Mỹ, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng dẫn đến chiến thắng hoàn toàn của phe Đồng minh, ở một vị trí lịch sử như vậy, nhưng Sicille lại phải chịu một khí hậu vô cùng khắc nghiệt, đất đai lại quá ư cằn cỗi. Đời này qua đời khác, gió và sóng biển bào đi hết những gì màu mỡ, chỉ để lại những mỏm đá hình thù quái dị. Dưới nước thì toàn những bạch tuộc và mực đen, trên bờ thì đầy dẫy những tổ chim xơ xác như muốn điểm thêm vẻ hoang vu trên đảo. Người dân ở đây sống trong những ngôi nhà nhỏ bằng đá dựng và chìm lấp trong đá. Mùa đông lạnh buốt xương mùa hè lại như rang trong chảo. Cuộc đời quá vất vả không cho phép họ có thì giờ nghĩ đến ngày mai. Phải chăng vì thế mà động từ trong tiếng Sicilie không có thì tương lai? Sicille - miền đất vô hy vọng?

    Cùng cực và đói rách, nhưng người dân Sicille vẫn yêu tha thiết bầu trời trong xanh của mình. Khi gót giày quân viễn chinh Pháp đặt lên đảo, họ đã vùng lên chống cự quyết liệt. Vì độc lập dân tộc, các chiến sĩ ngã xuống trong tiếng hô cảm tử: Morta Alia Francta Italia Anela - Giết giặc Pháp, tự do cho nước Ý. Phải chăng mafia là tên gọi tắt gồm những chữ đầu trong khẩu hiệu trên?

    Có giả thiết cho rằng tổ chức mafia xuất hiện sớm hơn từ năm 1670. Lúc đó ở Palermo nảy sinh tổ chức tìeati Paoli, thường gọi là “Hội những quý tộc văn minh”. Những cuộc họp bí mật của hội thường được triệu tập trong các hang đá. Từ những thế kỷ trước, mafia là tên gọi các mỏm đá ở gần Trapani thuộc Stcilie. Tên gọi mafia bắt nguồn từ đây chăng.

    Các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa ra một số giả thiết. Mafia trong ngôn ngữ Toskan nghĩa là đói khổ. Mauvais trong tiếng Pháp có nghĩa là xấu, tồi. Còn trong tiếng Ả Rập mahias là thằng lừa đảo, magtaa là hang động. Cũng trong tiếng Ả Rập, mufah còn có nghĩa là sức mạnh tự vệ. Buổi đầu, mafia là tổ chức tự vệ của những người nghèo chống lại áp bức, bất công. Vậy tên gọi mafia có liên quan gì đến các từ trên hay không?

    Dẫu từng ra đời như một tổ chức chính nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi của dân nghèo đi nữa, thì ngày nay mafia đã hoàn toàn biến chất và trở thành một hội kín khổng lồ, chuyên gây tội ác, có quyền lực vô bờ, có nguồn thu nhập lớn có thể sánh với các tổ hợp tư bản kếch xù như General Motors, Standard Oil, IBM. Texaco. General Electric, Chryaler và Ford. Nó có mặt trong hầu hết các lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, du lịch, nghệ thuật v.v... Nó nhúng tay vào chính trị hợp tác với CIA, tổ chức ám sát tổng thống, mua chuộc quốc hội...

    Vậy mảnh đất và không khí nào đã nuôi dưỡng “cây” mafia “xanh tươi” như vậy? Cuốn sách bạn đang cầm trong tay sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi đó. Là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, tác giả đã từng đến tận các mỏm đá Sicille tìm hiểu cội nguồn mafia, từng vượt qua sa mạc, nóng bỏng tìm đến thủ đô mafia Las Vegas để tận mắt chứng kiến bao thủ đoạn kinh doanh của các “bố già”. Bằng ngòi bút sinh động, hấp dẫn, ông đã vẽ nên một bức tranh chân thật về “thế giới ngầm Hoa Kỳ”; từ những thủ đoạn giết người tàn bạo đến các mánh khóe kinh doanh tinh vi, từ sự cấu kết bí mật với CIA trong các hành động lật đổ, ám sát, bắt cóc đến sự liên minh ma quỷ với giới chính khách Hoa Kỳ, từ những cuộc tình kim tiền với các nghệ sĩ danh tiếng đến các phi vụ béo bở với những cha cố trong tòa thánh Vatican, từ vụ ám sát anh em Kennedy đến kế hoạch mưu sát Fidel Castro... Phải chăng chính phủ vô hình mafia là anh em sinh đôi với chính phủ phản động, hiếu chiến Hoa Kỳ, và xã hội “thế giới ngầm” là hình ảnh thu nhỏ của thế giới tư bản, nơi thịnh hành quy luật ealch ascatch can - cướp giật đến mức tối đa, bất chấp mọi đạo lý, tình người?

    Sinh ngày 8-9-1920 ở Praha, V.P Rorovecka trải qua thời thơ ấu ở Praha và Trenxin, nơi ông học tiểu học và trung học phổ thông. Tốt nghiệp trung học năm 1938, ông học đại học thương nghiệp ở Praha cho tới khi trường bị bọn phát xít đóng cửa. Từ năm 1939 đến năm 1941, ông làm việc trong một hiệu thuốc, nhưng sau đó ông bị bắt sang Đức lao động khổ sai cho tới hết chiến tranh trở về Tổ quốc, chàng trai Rorovicka hăm hở cùng mọi người góp sức hàn gắn vết thương chiến tranh và góp phần xây dựng xã hội mới trên đất nước Tiệp Khắc tươi đẹp. Từ năm 1962 đến năm 1964, Ông làm biên tập viên cho nhật báo “Dân chủ nhân dân”. Từ năm 1964 trở đi, ông hoàn toàn chuyên tâm viết văn. Ông du lịch khắp năm châu và đặc biệt lưu tâm đến việc thu nhập tư liệu cho các cuốn sách của mình. Tác phẩm đầu tay của ông là kết thúc đảo Oscas, thuộc thể loại khoa học viễn tưởng, xuất bản năm 1959, đã cho thấy lĩnh vực quan tâm của tác giả. Các đề tài chính trị, thời sự được thể hiện dưới dạng tiểu thuyết viễn tưởng, tiểu thuyết trinh thám, trung thành với lịch sử nhưng không kém phần hấp dẫn. Ông quan tâm trước hết đến các hoạt động tình báo và loại chiến tranh vô hình này (Các bậc thầy tình báo những vụ ám sát xoay chuyển thế giới Wateigate) Ông còn viết các tiểu thuyết tâm lý như Tôi, anh hay Juan, Người yêu từ đỉnh núi Cáo. Trí tưởng tượng phong phú đã được ông sử dụng trong các sách viết cho trẻ em. Trước hết phải kể đến tiểu thuyết viễn tưởng nổi tiếng. Cô bé từ trên trời rơi xuống, kể về cuộc du lịch của một em bé từ hành tinh xa đến và thành phố kỳ diệu, nói về một xã hội lý tưởng. Theo hai cuốn sách này, tác giả đã viết kịch bản cho một bộ phim cùng tên mà truyền hình Việt Nam đã cho phát nhiều lần. Hai truyện thiếu nhi khác là cái bớp và Safari cũng dược quay thành phim vô tuyến truyền hình, gồm 7 và 13 tập. Borovicka. còn là tác giả kịch bản Anh tôi có người em tuyệt vời, đạt huy chương bạc trong đại hội liên hoan phim lần thứ 5 ở Mátxcơva. Phim này cũng đã ra mắt khán giả Việt Nam (Tác phẩm của V.P.Borovicka gồm có: Kết thúc đảo Oscas 1959; Cô bé từ trên trời rơi xuống, 1968; Thành phố kỳ diệu 1964; Tôi, anh hay Juan, 1964; Vụ giết nhà tiên tri Hanissen, 1968; Các bậc thầy tình báo 1969, 1974, 1984. Các nữ tình báo thế kỷ, 1970, 1973; Bí mật tình báo, 1969. Những phát súng phục kích, 1976; Watergate, 1976; Người yêu từ đỉnh núi Cáo, 1973; Thám tử từ Tel Aviv, 1979; Mật mã tuyệt mật, 1980; Mafia 1985; Thế kỷ chó sói, 1985.


    THỜI ĐẠI HOÀNG KIM CỦA CÁC “BỐ GIÀ”
    Tháng 1 năm 1981, Ronald Reagan bắt đầu nhận chức tổng thống Hoa Kỳ. Trong lễ tuyên thệ ở Nhà Trắng, giữa các quan khách, người ta thấy xuất hiện ca sĩ Frank Sinatra nổi tiếng bởi các quan hệ với tổ chức mafia ở Mỹ. Mặc dù đã biết rõ tình bạn của hai diễn viên Hollywood, Reagan và Sinatra, khách nước ngoài cũng không giấu nổi ngạc nhiên trước sự có mặt của ca sĩ nọ.

    Nhưng sự việc không chỉ dừng lại ở vụ khiêu khích dư luận đó, Reagan đã bổ nhiệm Raymand Donovan làm Bộ trưởng lao động mặc dầu không ai lạ gì về những quan hệ cá nhân cũng như thương mại của ông ta với mafia. Một trong những nhiệm vụ của Cục điều tra liên bang là kiểm tra tư cách của các ứng cử viên vào các chức vụ nhà nước. Giám đốc FBI lưu ý Tổng thống điều đó, nhưng Reagan đã bỏ ngoài tai và giấu các thượng nghị sĩ về việc phê chuẩn bố nhiệm Donovan.

    Trong thời gian đó có tin đồn rằng Hãng xây dựng Schiavone ở New jersey của Donovan hợp tác với gia đình mafia Genovese. Hãng này đã hối lộ các quan chức địa phương, những người lãnh đạo công đoàn, bất chấp pháp luật và cướp công của công nhân. Bởi vậy, sự bổ nhiệm Donovan làm bộ trưởng lao động đã gây nên một làn sóng bất bình trong dư luận. Còn ai có trách nhiệm hơn bộ trưởng lao động về sự đảm bảo các điều kiện làm việc và các quyền lợi của người lao động cũng như quyền lợi của người thất nghiệp? Tạo điều kiện cho Donovan lũng đoạn trong lĩnh vực liên quan đến quyền lợi của công nhân và lợi nhuận tư bản những kẻ cực tả đã làm đúng như câu tục ngữ “bắt dê làm vườn”.

    Một số nghị sĩ đã chống lại việc bổ nhiệm Donovan. Bộ tư pháp, dưới áp lực của dư luận, đã phải tiến hành điều tra việc này. Nhiều vụ bê bối đã bị lôi ra ánh sáng Mafia có mặt trong nhiều lĩnh vực thương mại và chính trị ở Mỹ. Ủy viên công tố Leon Silverman đã có trên bàn các bằng chứng về sự hợp tác giữa các chính trị gia và các tổ chức găngxtơ.

    Mafia lập tức phản công và một lần nữa người ta thấy những ngón tay mafia dài đến mức nào. Tháng 6 năm 1982, chỉ ít giờ sau khi hỏi cung, cảnh sát đã tìm thấy xác chết của găngxtơ Fred Turin, người mà lẽ ra phải là một trong những nhân chứng. Hai tháng sau đó. một thành viên mafia tên là Nát Masselli bị bắn chết. Tên này cũng bị Silverman chất vấn như là một nhân chứng. Lần này cảnh sát đã điều tra ra một trong những kẻ bắn thuê. Hắn tên là Salvatore Odierno và là người của gia đình mafia Genovese. Nát Masselli là con của William Masselli, người đã bỏ ra khá nhiều tiền trong chiến dịch vận động vào Nhà Trắng của Reagan Bộ trưởng Donovan quan hệ mật thiết với Masselli, và “người của Masselli” chuyên lo về “hoà hợp giai cấp” trong hãng của Donovan.

    Trong thời gian xảy ra vụ bê bối, William Masselli đang ngồi tù, nhưng người con 30 tuổi của y có thể tiết lộ nhiều điều, vì vậy hắn phải chết. Cuộc điều tra vẫn tiếp tục và rất ít khả năng Donovan phải ra trước vành móng ngựa. Vụ này một lần nữa đã khẳng định sự thật cay đắng: mafia ở Mỹ có ảnh hưởng rất lớn, đến nỗi nó có thể can thiệp vào tận các bộ máy nhà nước.

    Làm sao lại có thể như thế được? Ở nước Mỹ, ai có tiền người đó cũng có quyền. Mafia ở Mỹ giàu, thậm chí rất giàu, cho nên nó có thề trở thành một “chính phủ vô hình” khủng khiếp ở Mỹ. Đã 100 năm kéo dài sự giết người, tống tiền, đã 100 năm găngxtơ thao túng pháp luật. Và bây giờ là thời đại hoàng kim của các “bố già”. Chúng kiểm soát việc phát hành và tiêu thụ văn hóa phẩm, tạp chí khiêu dâm. Phim con heo với số vốn quay vòng hàng năm là 2,2 tỉ đôla. Chúng nắm trong tay phần lớn thị trường thuốc, cà phê và nha phiến. Làm chủ các sòng bạc là những tên chuyên nghiệp về hối lộ, cho vay nặng lãi. Chúng có người trong các tổ chức công đoàn. Có nhiều giả thiết dự đoán về thu nhập của mafia. Có bộ trưởng tư pháp Mỹ, Ramsey Clark, đã coi mafia như là “tổ hợp quyền lực nhất thế giới”. Theo ông ta, lãi hàng năm của mafia có thể sánh với các tổ hợp khổng lồ như General Motora Standard Oil. IBM, Texaco Genal Electric, Chrysler và Ford.

    Mafia kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100. Trong biên bản của tòa dự thẩm ở New Orleans ngày 24-1-1889, xuất hiện những dòng đầu tiên về tổ chức tội lỗi này: “Mafia là tổ chức bí mật nó đã gây những tội ác ghê tởm nhất và bao giờ cũng bắt được các nhân chứng phải im lặng”. Điều đó đúng với ngày nay.

    Lịch sử mafia Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1980. Ban đầu ở New Orleans, nó có tên là Mano nera- Bàn tay đen. Đứng đầu tổ chức này là anh em Autonio và Carlo Mantragi dân di cư từ Palermo thuộc Cicilie (Ý). Giống như ở Ý, chúng cũng bắt đầu “sự nghiệp” bằng buôn bán hoa quả và rau xanh, sau một thời gian không lâu, chúng làm chủ thị trường địa phương. Trên bến cảng sầm uất New Orleans, công nhân không bốc sếp hàng, nếu như chủ tàu hay thuyền trưởng không chịu trả “lệ phí an toàn”, cảnh sát, phần lớn là dân di cư từ Ý cũng phải làm ngơ: không thấy, không nghe gì cả. Từ đó đã bắt đầu sự hợp tác giữa mafia và cảnh sát.

    Nhưng không phải tất cả những người bảo vệ pháp luật đều ăn hối lộ. Giám đốc cảnh sát New Orlean. David Hennesy đã tập trung tất cả các Bằng chứng tội ác của “Bàn tay đen” và trao nó cho uỷ viện công tố để tòa có thế lập cáo trạng. Một ngày trước phiên họp của tòa dự thẩm. Hennensy đã bị bắn chết trên đường về nhà.

    Vụ giết sếp cảnh sát là sự khiêu khích quá đáng đối với dư luận Mỹ. Những ngày tiếp theo, cảnh sát có bắt 19 người nhưng tòa chỉ có thể kết án được 3. Cả thành phố cảng bất bình về kết quả đó: Người ta cho rằng những kẻ phạm pháp phải bị trừng phạt đích đáng chứ không phải chỉ bị giam sau song sắt. Thế là hàng nghìn dân bản xứ, theo luật rừng ở Mỹ, đã kéo tới nhà giam, phá cửa, bẻ song sắt, đập chết 2 tù nhân và treo xác lên để cảnh cáo, 9 người còn lại bị bắn chết. Sự kiện đổ máu này đã khơi sâu thêm mâu thuẫn giữa dân bản xứ và người di cư. Thảm kịch đã dẫn đến sự phân biệt đối xử. Các phóng viên mở đầu cuộc thập tự chinh chống dân di cư và bỗng nhiên, người Ý nào cũng là mafia cả. Cơ quan di cư của chính phủ thậm chí còn đề nghị đóng cửa biên giới đối với người Ý. Sự căng thẳng đạt tới mức độ quốc tế, Chính phủ Ý buộc tội Mỹ phân biệt chủng tộc và dọa cắt quan hệ ngoại giao.

    Nếu như lúc đó Chính phủ Mỹ giải quyết vấn đề tế nhị hơn thì có thế mafia đã không có đất sống cho tới ngày nay. Nhưng ở nước Mỹ, không ai quan tâm đến quyền lợi người nghèo, vì thế ảnh hưởng của mafia ngày càng tăng và nó đã trở thành một tổ chức có thế lực ở đầu thế kỷ. Từ lúc đó người ta đã nói về các gia đình mafia. “Bố già” của gia đình mafia đầu tiên ở New York là Giuseppe Morello, còn sếp của gia đình mafia khác là Vito Caseio Ferro. Ngay từ đầu chúng đã “làm ăn” khấm khá, đỡ đầu cho các “con” của mình và trở thành tấm gương cho người khác. Không lâu sau đó xuất hiện hội găngxtơ với sếp là Francesco Vale.

    Mafia xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực đời sống ở Mỹ. Nó cung cấp những dịch vụ không thể thiếu được ở Mỹ. Cho vay tiền, nhận các khoản cá cược với món tiền lớn, nó có thể bắt công nhân đang bãi công phải làm việc, các nhà hàng dưới sự “bảo hộ” của mafia sẽ nhận 'được đồ ăn tươi hơn, rẻ hơn.

    Mafia là con đẻ của chế độ xã hội tư bản. Trong xã hội Mỹ, các nhà kinh doanh luôn tìm đường quanh co để né tránh pháp luật và thuê má. Không ai coi đó là phạm pháp. Có những hãng hợp pháp và những cố vấn tư chuyên chỉ về những mánh lới qua mặt nhà nước. Hàng năm ở Mỹ xảy ra một vài vụ bê bối mà giá phải trả không phải từ chức vì vụ Watergate. Phó tổng thống Sipiro Agnew đã bị ra trước tòa vì ăn hối lộ. Ai cũng cố đế lừa người khác.

    Tài trợ cho các hãng lớn, đồng thời mafia cũng “giúp đỡ” những người làm ăn nhỏ. Từ những tài xế tắc xi, chủ quán ăn, công nhân cảng, cho đến những người chưa gặp thời trong ngân hàng, đều phải vay nặng lãi ở mafia. Những tên chủ nợ mafia này lấy lãi rất cao tới 300% hàng năm, nhưng chúng lúc nào cũng có tiền kịp thời. Các khoản vay đều phải trả tất nhiên là cả lãi nữa, đúng hạn. Mafia có những biện pháp đặc biệt để đòi nợ: dọa nạt, hành hạ thể xác và kể cả giết người.

    Mafia tiêu thụ trên qui mô lớn các loại hàng ăn cắp. Hàng năm, số hàng bị mất cắp trên sân bay, xa lộ, bến cảng, kho tàng lên tới hàng tỉ đô la. Các hãng bảo hiểm bồi thường thiệt hại và sau đó vài tháng, hàng ăn cắp xuất hiện ở đầu bên kia nước Mỹ với giá hạ hơn. Một số người Mỹ khi mua được tivi rẻ từ hàng ăn cắp, thực chất đã trở thành tòng phạm với mafia. Nhưng điều đó chẳng làm anh ta bận lòng. Chính anh ta cũng có cảm giác thích thú vì mua được hàng với giá hời.

    Một thời gian dài, các cơ quan cảnh sát đã phủ nhận sự tồn tại của các tổ chức tội ác. Giám đốc FBI John Edgar Hoover - kẻ thù của sự tiến bộ, đã khẳng định trong những năm sáu mươi, là ở nước Mỹ không tồn tại các tổ chức tội ác. Mặc dù vậy, bộ tư pháp đã bắt đầu xem xét đến các vấn đề mafia. Các nhân viên huấn luyện đặc biệt đã được phái tới 26 thành phố. Họ đã thu thập thông tin từ các nhà chức trách địa phương, các phân nhánh FBI, các chuyên gia trong lĩnh vực chống ma túy. Năm 1975, cảnh sát tiến hành chiến dịch Unirack (Union Rack: tra hỏi công đoàn) nhằm chống nạn hối lộ, tống tiền trong các tổ chức công đoàn. Người của cảnh sát đã được gài vào các hiệp hội xe tải, bốc xếp... Kết quả là 128 thủ lĩnh công đoàn bị xử án.

    Năm 1970, Nghị viện Mỹ đã thông qua đạo luật trưng thu tất cả các tài sản bất hợp pháp. Tuy nhiên, trong 10 năm qua, nhà nước chỉ tịch thu của mafia không đầy 700.000 đôla trong lĩnh vực ma túy, mặc dù ai cũng biết rằng hàng năm mafia thu tới hàng tỉ đô la tiền lời trong lĩnh vực này. Trên giấy tờ, những tên tỉ phú mafia như Garagua, Brorklie hay Seiortino không có lấy một đô la. Tiền của chúng được giữ trong các nhà băng Thụy Sĩ, còn bất động sản thì đứng tên các thành viên khác trong gia đình.

    Bạn sẽ đọc quyển sách về mafia Hoa Kỳ, đồng thời đây cũng là quyển sách về sự suy đồi của đạo lý, về quan hệ giữa các tổ chức tội ác và các cơ quan nhà nước, về sự hợp tác giữa những tên tội phạm và CIA. Các bạn sẽ thấy và đó cũng là ý đồ của tác giả, cái gì và tại sao nó đã biến mafia, trong vòng 100 năm, thành một bộ phận không thể thiếu được của xã hội Hoa Kỳ.

    V.P.BOROVICKA


    CHIẾN DỊCH LUCIANO
    Người ta mời y tới chỗ hẹn. Linh tính cho y biết chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Mặc dù vậy, vẫn đi. Bạn bè ngăn cản, y vẫn ngoan cố đến chỗ hẹn, thậm chí còn không mang theo vũ khí. Có thể y tin rằng đối phương là những người quân tử trọng danh dự. Người tầm thước, tóc quăn sẫm, y sinh ra ở Sicilie quê hương của mafia. Y để người ta chở đến bờ biển. Đó là một đêm không quên 16.10.1929. Trời gió to sóng mạnh làm chiếc xuồng chở y nhô lên tụt xuống có lúc tưởng chừng như mất hút dưới đáy biển.

    Chúng gặp nhau trong một ga ra hoang vắng. Đây không phải là địa điểm thích hợp cho cuộc nói chuyện của hai “bố già” mafia, nhưng chúng cũng làm ra vẻ như đang ngồi trong khách sạn Walldorf Astoria - một trong những khách sạn lớn nhất nước Mỹ. Chúng nói khẽ nhưng trang trọng, làm như trên đầu chúng không phải là ngọn đèn dơ dáy mà là bộ đèn chùm Benat (Benat là thành phố sản xuất đèn chùm nổi tiếng ở Ý).

    Tên già hơn, to béo phục phịch là Salvatore Maranano. Y trách người đồng nghiệp trẻ đã liên kết với các băng khác buôn bán thuốc phiện trên địa hạt của y. Y nói điềm đạm như là những người lịch thiệp được giáo dục tốt. Sau đó cánh cổng bằng tôn rỉ rít lên ken két và một vài tên lâu la lắc lư đi vào. Chúng đội mũ dạ mềm kéo sụp xuống tận mắt.

    - Thế nào, sếp?- Một tên trong bọn hỏi.

    - Khoan đã, - Maranzano quát bọn thủ hạ - Nghe đây, Charlie - hắn quay lại và vẫn với giọng điềm tĩnh - Tao muốn mày nhớ mãi buổi tối hôm nay. Bọn em út tao sẽ đùa dỡn với mày một chút. Bắt đầu từ ngày hôm nay mày phải nghe lời. Từng chữ một. Mày phải làm mọi điều tao ra lệnh. Bằng không tao sẽ cho thịt mày. Mày sẽ làm phó cho tao. Nhưng để tỏ ra xứng đáng với sự đề bạt ấy, mày phải khử thằng Masseria.

    - Sao? Masseria?

    - Ừ. Mày nghe không sai.

    - Tạo sao tôi phải giết nó?

    - Tại vì tao nói vậy. Tại vì tao muốn vậy. Và tại vì tao ra lệnh cho mày như vậy.

    Bọn em út của Maranzano xông vào. Chúng treo y lên trần nhà. Chúng đấm vào mặt, vào bụng, dí thuốc lá cháy bỏng vào ngực. Mắt sưng vù, mặt bầm tím, máu chảy ra lỗ tai, nhưng y còn ngẩng lên nhổ nước bọt vào mặt Maranzano:

    - Đồ lợn hủi! Quỷ tha ma bắt mày và cả con mẹ của mày đi.

    Nhẽ ra y không nên như vậy. Maranzano tái mặt. Y không thể tha thứ cho sự hỗn xược này được. Y về lấy dao và tiến lại tên kia.

    - Con lợn! - Charlie lại nhổ vào mặt y.

    Lưỡi dao lóe lên trước mặt Charlie. Chỉ bằng một cái vung tay, Maranzano đã rạch nát mặt Charlie, từ mắt xuống tới tận cằm. Charlie xỉu luôn. Sếp hất đầu ra hiệu. Lũ lâu la xối cả thùng nước lên nạn nhân. Sau đó chúng còn đá vào chỗ hiểm nạn nhân một lúc nữa.

    - Thôi! Nó đã lãnh đủ, - sếp chấm dứt cuộc tra tấn.

    Chúng khiêng nạn nhân vào xe, trong vải bọc đế không lưu lại dấu vết. Vài phút trước ba giờ sáng, y được vứt lên bãi biển Hugenot Beach và một đội tuần tra đã phát hiện ra y.

    Người ta chở y vào bệnh viện, vẫn còn chưa muộn. Các bác sĩ đã cứu sống y. Còn sống sau một cuộc tra tấn như vậy, quả là một điều may mắn hiếm có. Bởi vậy đồng nghiệp gọi y là “Lucky” - Kẻ may mắn. Tên thực là Salvatore Luciano, nhưng y đã đi vào lịch sử tội ác bằng cái tên Lucky Luciano. Y là một trong những nhân vật chủ chốt của chiến dịch tuyệt mật mà trong đó cơ quan tình báo hải quân Mỹ cộng tác với mafia.

    Khi bắt đầu tham chiến sau trận Trân Châu Cảng, Mỹ chưa có cơ quan tình báo đáng kể. Những tên thám báo Đức thường bị các nhân viên FBI truy tìm và chúng bị sa lưới đa phần là do dại dột hoặc do chính chúng đầu thú. Các cơ quan tình báo của lục quân, không quân và hải quân cũng không khá hơn.

    Bằng chứng là khi phòng mật mã giải được mã “Purpur” của Nhật, các nhân viên tình báo, các tướng lĩnh, thậm chí cả tống thống cũng không sử dụng được tin tức đó.

    Các đô đốc của Hítle bắt đầu cuộc chiến tranh tàu ngầm tàn khốc và giành được thắng lợi. Thiệt hại của hải quân Mỹ qủa là lớn. Người ta đã phải đặt câu hỏi, làm sao các tàu ngầm phát xít có thể hoạt động ở cách xa căn cứ mẹ đẻ tới hàng nghìn cây số và ai cung cấp cho chúng xăng dầu cũng như các thông tin về các tuyến đường vận tải của Mỹ.

    New York, ngày 7-3-1942. Vào lúc 11 giờ trưa, một chiếc xe màụ đen dừng trước tòa nhà số 155, phố Leonard Street. Hai sĩ quan hải quân bước ra khỏi xe. Người già hơn, khoảng 60 tuổi, là đại uý hải quân Boscoe C.Macfall, người đã từng chỉ huy các tàu chiến California và West Virginia. Sau khi Pháp đầu hàng ông ta phụ trách phân cục tình báo vùng hải quân 3. Phân cục của ông ta phải bảo đảm sự hoạt động thông suốt của cảng New York, từ cảng này lương thực và đạn dược được chở đi tiếp tế cho nước Anh.

    Cảng thuộc vùng hải quân 3 là một khu vực khổng lồ. Thường xuyên có 200 tàu thả neo ở đây. Năm 1942, hàng ngày có tới 2000 chuyến tàu lửa ra vào. Mỗi ngày cũng có tới 25 nghìn xe tải vận chuyển hàng hóa.

    Người sỹ quan thứ hai còn rất trẻ. Anh ta tên là James ƠMaley và đeo quân hàm thượng uý. Trước khi nhập ngũ anh ta làm việc ở phòng hình sự thuộc viện công tố bang NewYok. giờ đây anh ta tháp tùng sếp mới đến gặp sếp cũ của mình. Chả là ngôi nhà số 155 phố Leonard là trụ sở của uỷ viên công tố bang New Yok Frank S.Hogan. Hogan nhậm chức ngày 1.1.1942 và có trách nhiệm giúp đỡ tình báo Hải quân bảo vệ vùng biển.

    Viện công tố truy tìm các tên găngxtơ hoạt động ở các bến tàu và kho cảng. Rất có thể những tên thám báo và phá hoại phát xít trà trộn trong đám này.

    Thợ sửa chữa, lái xe, lái cẩu và công nhân cảng là thành viên của tổ chức công đoàn “International Long- shoremens Association” chịu sự thao túng của mafia. Hiệp hội tội ác này có quyền lực vô biên ở bến cảng. Chỉ cần một cái gật đầu của sếp là việc bốc sếp vũ khí đạn dược cho Châu Âu được tiến hành trơn tru như bôi mỡ. Nhưng cũng chỉ cần một lệnh từ miệng sếp là cả bộ máy đang hoạt động bị dừng lại.

    Cảnh sát không đủ sức kiểm soát cả địa phận rộng lớn với hàng trăm nghìn công nhân. Bộ trưởng Hải quân Frank Knox đã báo cáo tình hình này lên Tổng thống Roosevelt. Roosevelt lập tức ra lệnh thành lập phân cục tình báo đặc biệt vùng hải quân 3 gồm bang New Yok, bang Connecticutu và bắc phần bang NewJersey. Phân cục này trực thuộc bộ của Knox và sự tồn tại của nó được dấu kín mãi cho tới gần đây.

    Không một cơ quan tình báo nào trên thế giới yêu mến ký giả báo chí. Cục tình báo hải quân Mỹ



    [1]FBI: Tên gọi tắt của Cục điều tra liên bang Mỹ
  • Chia sẻ trang này