0014.01.02 Trang [013]-[024] (Ban Tang Du Tử đã nhấm nhắp xong)

30/9/15
0014.01.02 Trang [013]-[024] (Ban Tang Du Tử đã nhấm nhắp xong)
  • http://www.mediafire.com/view/r80n94hcivw08bi/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00002.pdf

    ...mới của ta: từ của "Tiếng Việt" này sẽ có một "đời sống" riêng của nó, có thể có những biến đổi về âm, nghĩa, cách dùng, như những từ khác của tiếng Việt, theo yêu cầu của tiếng Việt, và có khi theo những con đường phức tạp và đầy mâu thuẫn, kết quả làm cho mối liên hệ giữa nó với "từ nguồn gốc" trong tiếng nước ngoài chỉ có thể ngày càng bớt chặt chẽ đi (bản thân "từ nguồn gốc" này trong tiếng nước ngoài cũng có thể có những biến đổi, theo một con đường phát triển khác hẳn). Hủ hóa là một từ mới mượn gần đây của tiếng Hán. Bên cạnh cái nghĩa" hư hỏng, biến chất, sa đọa" dựa trên nghĩa trong tiếng Hán ("thối nát"), nó nhanh chóng có thêm một nghĩa mới: "Có quan hệ nam nữ bậy bạ, bất chính". Nghĩa mới này là nghĩa thường dùng hiện nay; nó có liên hệ với nghĩa cũ, nhưng là một nghĩa không hề có trong tiếng Hán. Dùng hủ hóa trong tiếng Việt với nghĩa như vậy, phải chăng là sai? Tìm hiểu nguồn gốc của một từ mượn có thể giúp ta hiểu sâu thêm về âm hoặc nghĩa của từ, nhưng nếu muốn dựa vào đó để "uốn nắn" lại âm, nghĩa, cách dùng hiện tại của từ thì là một việc làm nhiều khi vô ích và trái lịch sử.
    Chúng ta trở lại vấn đề: vậy nên căn cứ vào đâu để đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, để phân rõ đúng và sai, trong sáng và không trong sáng?
    Trong đời sống hàng ngày, khi vợ chồng, mẹ con, bạn bè thân thiết nói chuyện với nhau, chắc ít ai nghĩ đến cái "đúng", cái "sai" trong ngôn ngữ. Nhưng khi một nhà văn sáng tác truyện, một nhà khoa học viết sách, một thầy giáo giảng bài, một cán bộ chính trị nói trước quần chúng đông đảo, thì vấn đề đúng hoặc sai, trong sáng hoặc không trong sáng của ngôn ngữ phải được đặt ra. Tại sao vậy? Tại vì trong những trường hợp này, chức năng của ngôn ngữ đã được nâng cao, ngôn ngữ được dùng lam mộ công cụ văn hóa. Ngôn ngữ được sử dụng ở đây không phải chỉ để diễn đạt những cái chỉ có ý nghĩa nhất thời, nói rồi có thể quên đi giữa đôi ba người, mà là để diễn đạt đời sống văn hóa tinh thần, những tư tưởng, tình cảm quý giá, những gì quan trọng, có thể cần nói cho nhiều người, những người đó có thể ở gần mà cũng có thể ở xa, có thể là quen biết mà cũng có thể là không hề quen biết, có thể thuộc thế hệ đương thời mà cũng có thể thuộc thế hệ mai sau. Chức năng công cụ văn hóa đòi hỏi ngôn ngữ phải có tính thống nhất, tính toàn dân, khắc phục những sự sai khác bất tiện giữa các địa phương, các lớp người, các nghề nghiệp, đồng thời phải có tính ổn định, khắc phục những biến đổi thất thường và không cần thiết. Nó cũng đòi hỏi ngôn ngữ phải được nâng cao, đủ phong phú và tinh xác để có thể diễn đạt mọi tư tưởng tinh tế, diễn đạt mọi tình cảm tế nhị. Khi ngôn ngữ đã được nâng lên thành ngôn ngữ toàn dân thống nhất, ổn định, tinh xác, phong phú, làm công cụ văn hoá của dân tộc, như vẫn thường gọi, hay đúng hơn là ngôn ngữ văn hóa (1) ( (1): Gọi là "ngôn ngữ văn học" thì dễ lầm là ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học ( "ngôn ngữ nghệ thuật"). Sự thật là các nhà văn, ở nước nào cũng vậy, có vai trò quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng ngôn ngữ văn hóa dân tộc. Nhưng ngôn ngữ văn hóa không chỉ được dùng trong văn học, mà còn được dùng trong khoa học, trong mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa khác (hiểu theo nghĩa rất rộng) của con người. Những lĩnh vực này ngày càng phát triển, ngày càng thêm quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Vì vậy, dùng "ngôn ngữ văn hóa" thỏa đáng hơn. Trong ngôn ngữ học các nước ngoài, cũng có người dùng "ngôn ngữ văn hóa", hoặc "ngôn ngữ văn minh", để chỉ ngôn ngữ - dùng làm công cụ văn hóa - của một dân tộc đạt đến trình độ văn minh tương đối cao); ngôn ngữ văn hóa dân tộc có hệ thống chuẩn mực (1) (Trước đây nhiều người gọi là "tiêu chuẩn". Nhưng tiêu chuẩn thường là cái "căn cứ" để đánh giá, để nhận xét ("tiêu chuẩn của chân lý"...). dùng "tiêu chuẩn" ở đây nghĩa sẽ không rõ ràng. Có người dùng "mẫu mực" như Lê Xuân Thại, Hồng Dân trong các bài trong tập này. Nhưng mẫu mực dễ hiểu lầm là "gương mẫu", "mô phạm". Chúng tôi đề nghị dùng chuẩn hay chuẩn mực, nếu không tìm được từ khác tốt hơn) của nó; chuẩn mực trong ngôn ngữ là cái được mọi người hoặc ít nhất một số người khá đông thừa nhận, số khá đông ấy không nhất thiết phải là đa số, nhưng phải gồm số lớn những người có uy tín và ảnh hưởng về mặt văn hóa, được coi là mẫu mực về mặt ngôn ngữ. Như vậy, cái chuẩn mực lá cái nếu tạm thời chưa đươạ đại đa số thừa nhận, thì phải càng ngày càng được nhiều người thừa nhận hơn, có triển vọng sẽ được mọi người hoặc đại đa số thừa nhận. Cho nên xác định chuẩn mực của ngôn ngữ , thì phải nhìn cái hướng phát triển (2) ( Phụ âm đầu P - (trong Pin, Pô-pơ-lin, a-pa-tít..v..v..) là một hiện tượng mới trong tiếng Việt hiện đại. Nhìn cái hướng phát triển thì phải thừa nhận nó là chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa hiện đại, mặc dầu hiện nay có thể số đông trong nhân dân ta, nhất là ở nông thôn và trong lớp người già, không phát âm P ma chỉ phát âm b ("a-ba-tít", "bô-bơ-lin"). Chuẩn mực có thể chỉ phương tiện ngôn ngữ (âm, từ..), mà cũng có thể chỉ quy tắc. Nghĩa là chúng ta nói có, những âm, những từ chuẩn mực, cũng như nói có những phát âm, cách dùng từ chuẩn mực. Như vậy, chuẩn mực xác định cách phát âm, cách dùng từ, cách kết hợp từ, đặt câu; có chuẩn mực ngữ âm, chuẩn mực từ vựng, chuẩn mực ngữ pháp, chuẩn mực tu từ. Chuẩn mực là căn cứ của cái đúng. Nó bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định của ngôn ngữ văn hóa.

    Ngôn ngữ văn hóa định hình và phát triển do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền văn hóa dân tộc, và do hoạt động ngôn ngữ có ý thức của con người. Ngôn ngữ văn hóa biểu hiện sự tự giác của con người trong việc sử dụng ngôn ngữ, ý thức trau dồi lời ăn tiếng nói, hướng tới cái mà con người cho là hay, đẹp, trong sáng trong ngôn ngữ, ý thức nắm ngôn từ và can thiệp vào sự phát triển của nó. Khái niệm sự trong sáng gắn liền với khái niệm ngôn ngữ văn hóa. Nói sự trong sáng của tiếng Việt, tức là nói sự trong sáng của tiếng Việt văn hóa. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt gắn liền với sự xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hóa, và là một mặt - quan trọng, chủ yếu - của việc xây dựng và phát triển tiếng Việt văn hóa. Có xác định những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa thì mới có cơ sở không những để phân rõ đúng và sai, mà còn để phân rõ trong sáng và không trong sáng trong tiếng Việt. Và ngược lại, muốn xác định tốt những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa thì phải chú ý đầy đủ yêu cầu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, làm sao cho những chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa không những bảo đảm tính thống nhất và tính ổn định, mà còn bảo đám tính trong sáng của nó.
    Như vậy, chuẩn mực là khái niệm tring tâm trong vấn dề giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ.
    Chuẩn mực ngôn ngữ là mộ khái niệm phức tạp, đầy mâu thuẩn. Sực xác định cad tồn tại của chuẩn mực phụ thuộc không những vào yếu tố "bên trong" ngôn ngữ, đăck điểm kết caasi, truyền thống lịch sử, quy luật phát triển nội bộ của mỗi ngôn ngữ, mà còn phụ thuộc khá nhiều vào những yếu tố bên ngoài ngôn ngữ; vào đặc điểm phát triển của xã hội, điều kiện tồn tại của mỗi ngôn ngữ văn hóa, thành phần của những người nắm ngôn ngữ văn hóa..v...v những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sựa đánh gá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ. Cần nghiên cứu chuẩn mực của ngôn ngữ một cách toàn điện. Nhưng đến nay, trong lí luận ngôn ngữ học, vấn đề này chưa được nghiên cứu mấy.

    Chuẩn mực là cái gì ít nhiều có tính chất bắt buộc. Yêu cầu đối với mọi người sử dụng ngôn ngữ văn hóa là phải theo các chuẩn mực, không được vô cớ đi chệch. Nhưng "mức độ bắt buộc và phạm vi tác động của các chuẩn mực"(1) ( Tiếng nga không gõ được) không như nhau. Có những chuẩn mực xác định những đặc trưng cơ bản của một ngôn ngữ, những chuẩn mực này vững chắc nhất, lâu bền nhất, được mọi người thừa nhận, phạm vi tác động rất rộng, mức độ bắt buộc rất cao: có thể gọi đó là những chuẩn mực đặc trưng của ngôn ngữ. Bên cạnh, hay nói đúng hơn là trên cơ sở những chuẩn mực đặc trưng, có những chuẩn mực xác định những đặc đểm của bản thân ngôn ngữ văn hóa, xác định cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ của ngôn ngữ văn hóa. Có thể gọi đó là những chuẩn mực văn hóa. Chuẩn mực văn hóa được những người hoạt động văn hóa , và trước tiên là các nhà văn hóa lớn, xây dựng một cách có ý thức. Nói, viết tiếng Việt mà sai chệch những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt thì lời nói câu văn không phải Việt - Nam nữa. Còn nếu sai chệch những chuẩn mực văn hóa, thì lới nói câu văn dù có vẻ rất Việt -nam, vẫn bị đánh giá là "không tốt", "không văn hóa". Quan niệm như vậy thì biết nói và biết nói "tốt: là hau việc khác nhau. Ai cũng học để biết nói, một cách tự nhiên, từ ngày còn ở trong nôi, nhưng muốn biết nói "tốt", biết sử dụng ngôn ngữ văn hóa, thì phải khó khăn hơn, phải qua học tập, thường bắt đầu là ở nhà trường, phải có công phu trau dồi lời nói, phải nắm được các chuẩn mực của ngôn ngữ văn hóa, có ý thức tự giác trong việc vận dụng các chuẩn mực. Trong hệ thống chuẩn mực, như ở trên đã nói, chuẩn mực đặc trưng là cơ sở, sai lệch chuẩn mực đặc trưng thì chuẩn mực văn hóa cũng mất chỗ dựa. Lời nói câu văn mà đã không Việt - nam thì đâu có cơ sở để thành lời nói câu văn "tốt'. Cho nên điều quan trọng trước tiên là phải tôn trọng các chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Đó là yêu cầu sơ đẳng. Rải rác trong một số sách nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của một số học giả người nước ngoài, có thể nhặt những câu thí dụ ngô nghê, không Việt-nam, đại loại như:
    - Chúng ta đi xem lễ. Họ họ đều vui, ta ta cũng thích.
    - Công việc đó tôi đã đã nói rồi. (1) ( L.C. Thompson (L.C . Tomxơn): A. vietnamese Grammar. (ngữ pháp tiếng Việt), Xitơn, 1965, tr. 151-152).
    Người nước ngoài khó nắm được sâu sắc, toàn diện những chuẩn mực đặc trưng của tiếng Việt. Một sai lầm dễ mắc là dựa theo một kiểu tạo từ, kết hợp từ hoặc đặt câu nào đó của tiếng Việt, rồi suy rộng ra một cách máy móc: dựa thoe những kiểu "người người đều vui", "ai ai cũng thích", "tôi thường thường đi chợ", mà tưởng rằng có thể nói "họ họ đều vui", "ta ta cũng thích", "tôi đã đã nói rồi". Nhưng dù sao, sai lầm này ở người nước ngoài cũng không đáng chê trách lắm. Đáng chê trách hơn là người Việt-Nam chúng ta lại đi viết những câu văn không được Việt - nam kia! Thí dụ:
    _ Đang lúc ấy, phóng ngựa đến, tên quản lý Phi lip... (sách)
    - Đây là Hoàng, em ruột của Toàn, người mà đã biết... (sách).
    _ Nguyên nhân chính đưa đến thắng lợi là được sự soi sáng bởi nghị quyết của Trung Ương. (Báo).

    Thật ra, đã là người Việt -Nam, nói tiếng Việt hàng ngày từ nhỏ, thì ai mà không nắm được những chuẩn mực đặc trưng của Tiếng Việt? Khó mà nghe có những lời nói "không Việt - Nam" ở miệng những người dân Việt -Nam bình thường. Những câu không Việt - nam thường chỉ gặp dưới ngòi bút của một số người có văn hóa, ít nhiều có làm quen với một ngôn ngữ nước ngoài. Tiếng Việt văn hóa là tiếng Việt đã được nâng cao: nói nâng cao nghĩa là dựa trên những đặc trưng cơ bản của tiếng Việt, giữ gìn phát huy những cái tốt vốn có, khắc phục những cái không tốt. Nhưng có khi chúng ta hiểu sự nâng cao thành một sự "gia công" giả tạo, thậm chí đôi khi, ít hay nhiều, có ý thức hay vô ý thức, chúng ta dựa vào những chuẩn mực của một ngôn ngữ văn hóa nước ngoài nào đó mà chúng ta quen thuộc, thoát li những chuẩn mực đặc trưng riêng của Tiếng Việt (nếu có thể nói như vậy). Ngôn ngữ văn hóa mà không dựa vững chắc trên cơ sở ngôn ngữ thường ngày của nhân dân thì có nguy cơ thành giả tạo và què quặt, có thể đầy rẫy những từ ngữ và lối nói không tự nhiên, "bác học", khó hiểu. Một ngôn ngữ văn hóa như vật thật ra chỉ là công cụ văn hóa trong tay một nhóm trí thức thượng lưu; đối với quầng chúng lao động bình thường, nó khó hiểu, khó nắm, khó sử dụng. Là công cụ văn hóa, nhưng nó lại làm cho văn hóa trở thành "xa lạ" với người dân bình thường. Thời phong kiến, ở nước ta, giai cấp thống trị không dùng tiếng Việt, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân, mà dùng tiếng Hán làm công cụ văn hóa, độc quyền trong tay chúng, trong suốt hàng bao thế kỉ. Thảng, hoặc có dùng đến tiếng Việt, thì đó lại là một thứ tiếng Việt lai Hán. Để xướng danh những người thi đỗ, đáng lẽ nói rất đơn giản: Đỗ đầu cử nhân là Đào Vân Hạc, hai mươi ba tuổi, quê làng Đào-nguyên, tỉnh Sơn-tây", thì ngày xưa người ta nói:
    Cử nhân đệ nhất danh Đào Vân Hạc! Niên canh nhị thập tam tuế, quán tại Sơn-tây tỉnh, Đào-nguyên xá! (1) (Ngô Tất Tố: Lều Chõng, Hà Nội, 1961, tr.262).
    Muốn cho quần chúng nhân dân làm chủ văn hóa, nhanh chóng nâng cao trình độ văn hóa của mình, thì không những phải dùng ngôn ngữ dân tộc làm công cụ văn hóa, mà còn phải dân chủ hóa ngôn ngữ văn hóa, làm cho nó gần ngôn ngữ thường ngày của nhân dân. Vì vậy, yêu cầu chống "bệnh dùng chữ" - như Hồ Chủ tịch thường nhắc _ , "Dân tộc hóa lời nói và câu văn" (2) (Trường Chinh, bài đã dẫn. tăng cường công tác báo chí....tr.52), "giữ gìn bản sắc tinh hoa, phong cách của tiếng ta"(3) (Phạm Văn Đồng, bài đã dẫn, tr.10), là xuất phát từ lòng yêu dân tộc, yêu nhân dân, yêu tiếng mẹ đẻ, và từ yêu cầu của cách mạng tư tưởng và văn hóa ở nước ta hiện nay. Chúng ta quan niệm một tiếng Việt rất "Việt - nam", dễ nghe, dễ hiểu đối với người dân Việt -nam bình thường và dễ làm rung động trái tim của họ. Cho nên vấn đề nghiên cứu, nắm vững, tôn trọng, giữ gìn, phát huy những đặc trưng của tiếng Việt là vấn đề phải được đề ra hàng đầu.
    Nhưng mặt khác, một ngôn ngữ văn hóa, dầu gần ngôn ngữ thường ngày bao nhiêu, cũng vấn khác ngôn ngữ thường ngày: nó là ngôn ngữ đã được nâng cao, nghĩa là đã khắc phục những cái gì có tính chất thuần túy địa phương và những cái gì có tính chất ngẫu nhiên, nhất thời, tùy tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày. Trong ngôn ngữ thường ngày, có người nói:
    _ Bên cạnh anh ta là một đống hái và liềm để rất vô tổ chức.
    _ Giờ có nhiều anh em thợ đi học..., họ học giờ nhanh lắm (1). (Nhặt trên sách báo).
    Những cách nói như vậy tuy cũng Việt -nam đất, nhưng không hoàn toàn hợp với chuẩn mực của tiếng Việt văn hóa hiện đại (2) (Trong phong cách văn học (nghệ thuật) cho phép dùng những câu như vậy, nhưng chỉ trong lời của nhân vật, và một cách cũng rất hạn chế). Trong tiếng Việt văn hóa hiện đại, cách nói thông thường là:
    _ Bên cạnh anh ta là mộ đống hái và liền để rất lộn xộn.
    _ Bây giờ có nhiều anh em thợ đi học...
    Chúng ta quan niệm một tiếng Việt trong sáng phải là một tiếng Việt không những rất "Việt-nam", mà còn rất "văn hóa". Nói, viết một cách giả tạo là không tốt; nhưng nói, viết một cách dễ dãi, tùy tiện cũng là không nên. Cần giản dị, tự nhiên, nhưng tự nhiên không phải có nghĩa là tự nhiên chủ nghĩa. Trong nhiều cách nói, hằng ngày nghe trong quần chúng, chúng ta phải biết chọn những cách nói tốt nhất, giản dị, rõ ràng, trong sáng, đẹp, và đôi khi còn phải biết trau dồi chút ít cho nó tốt hơn nữa, có như vậy mới nâng cao được ngôn ngữ của chúng ta. nếu chỉ toàn "nói sao viết vậy" thì chưa hẳn đã tốt. Cần tôn trọng những chuẩn mực đặc trưng, nhưng trên cơ sở đó, lại cần xây dựng những chuẩn mực văn hóa.
    Mặt khác, ngay khi sử dụng ngôn ngữ thường ngày, cũng nên chú ý tránh tùy tiện, cẩu thả. Tuy rằng giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ văn hóa bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định. Cái tùy tiện, cẩu thả trong ngôn ngữ thường ngày có thể ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn hóa. Cho nên cũng cần trau dồi cả ngôn ngữ thường ngày, nâng nó lên gần ngôn ngữ văn hóa.
    Chuẩn mực là cái gì có tính chất bắt buộc, thì đồng thời cũng có tính chất ổn định. Đã là chuẩn mực, thì tức là được nhiều người - nếu không phải là mọi người - thừa nhận, trong một thời gian không phải ngắn. Ngôn ngữ được nâng lên thành ngôn ngữ văn hóa, alfm công cụ giao tiếp giữa toàn dân tộc qua các địa phương và các thế hệ, thì càng đòi hỏi chuẩn mực phải có tính ổn định cao. Nhưng mặt khác, ngôn ngữ văn hóa cũng lại phát triển không ngừng, do yêu cầu phát triển của xã hội và tư duy; sự đánh giá của xã hội đối với các hiện tượng ngôn ngữ cũng thường có thay đổi, nhất là trong những thời kì xã hội có biến đổi lớn. Do đó, tính ổn định của chuẩn mực cũng chỉ là tương đối. "Trong lịch sử ngôn ngữ văn học [ngôn ngữ văn hóa] nói chung có hai xu thế phát triển mâu thuẫn với nhau: 1) Chiều hướng muốn giữ và củng cố những chuẩn mực đang tác động, và 2) chiều hướng sửa đổi những chuẩn mực đã hình thành (1) (Tiếng nga gõ không được). Chuẩn mực là cái quen dùng (2) (Những cái "quen dùng" không nhất thiết là chuẩn mực. Có cái "quen dùng" mà vẫn bị đánh giá là "sai". Trong ngôn ngữ có cái sai của số đông.), mà thói quen thì không dễ gì vứt bỏ. Ngôn ngữ dựa vào thói quen của hàng vạn, hàng triệu người. Trong lĩnh vực ngôn ngữ, tinh bảo thủ là phổ biến, không ít người trong các lĩnh vực khác thì mạnh bạo đổi mới, nhưng trong lĩnh vực này thì lại nệ cũ, thích cổ. Chuẩn mực khi đã hoàn thành thì thường có sức sống mạnh mẽ, mà nó càng sống lâu bao nhiêu thì sức sống dai của nó càng tăng thêm bấy nhiêu, nó càng bám rễ sâu vào thói quen của các lớp người, các thế hệ. Những chuẩn mực đặc trưng vì thế là những chuẩn mực rất vững chắc. Nhưng chuẩn mực mới lại có sức mạnh của cuộc sống. Chuẩn mực mới hình thành, suy đến cùng là do đòi hỏi của cuộc sống phát triển không ngừng, và ở đây cũng vậy, cuối cùng cuộc sống thắng, cái cũ bị đẩy lùi, cái mới phong phú hơn được củng cố, nhưng nhiều khi phải trải qua một thời gian đấu tranh giằng co, trong thời gian ấy cũ, mới cùng tồn tại, và sự đánh giá của xã hội không nhất trí. Cái cũ ở đây thường không rút lui một cách đơn giản: nó thường cố bám lấy trận địa của nó, chỉ nhường từng miếng đất một, cố thủ trên những miếng đất cuối cùng, và cũng có những miếng đất trên đó mới và cũ giằng co kéo dài,."chưa ai thắng ai": như vậy cái cũ là chuẩn mực trong một số trường hợp, cái mới là chuẩn mực trong một số trường hợp khác, và có những trường hợp cũ và mới đều là chuẩn mực. Mề đay, thông ngôn trước đây là những từ thông dụng, và đã có lúc chúng ta có nói đến những "mề đay cứu quốc"(1) ( Như trong nghị quyết của Hội nghị cách mạng Bắc-kì, ngày 20-4-1945 về "Tiến tới tổng khởi nghĩa". Xem Chặt xiềng. Hà Nội, 1960, tr.36.). Ngày nay, huân chương, phiên dịch được dùng phổ biến; nhưng riêng khi nói về địch, ngụy thì mề đay, thông ngôn cũng vẫn còn được dùng. trước kia lính là từ thông dụng, nhưng từ khi có thêm bộ đội, thì có sự phân biệt: bộ đội của ta, lính của địch, ngụy. Tuy vậy, trong những trường hợp nào đó, lính lại vẫn có thể được dùng để chỉ cả bộ đội của ta nữa, như khi nói "đời người lính", "lính cụ Hồ" (có thể nói "bộ đội cụ Hồ"). Ngày xưa, để tỏ lòng tôn kính, chúng ta nói Nguyễn tiên sinh, Trần tướng công; sau Cách mạng tháng Tám, một dạo chúng ta còn nói Huỳnh bộ trưởng, Võ đại tướng. Ngày nay mà nói như vậy rõ ràng là cổ, kiểu cách. Nhưng trừ một trường hợp: chúng ta có thể nói Chủ tích Hồ Chí Minh, mà cũng có thể nói Hồ Chủ tịch, nhưng thường nói Hồ Chủ tịch hơn, cách nói này đối với chúng ta đã quen quá rồi, nó vừa tỏ dược lòng kính yêu của chúng ta đối với lãnh tụ dân tộc, vừa có vẻ tự nhiên và gần gũi; và vì vậy cách nói Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành màu sắc trang trọng đặc biệt.
    Trong đấu tranh giằng co giữa cái cũ và cái mới, cũng có khi cái cũ rút lui, nhưng chờ có dịp lại xuất hiện: phu nhân, ái nữ là những từ đã cũ lắm, chúng ta hầu như đã quên đi, nhưng một lúc nào đó, do đòi hỏi của "phép lịch sự" ngoại giao, những từ mà ít ai còn ưa ấy bỗng dưng được nhắc đến.
    Trong ngôn ngữ, cái mới cũng thường không hình thành một cách đơn giản. Không phải tất cả những cái gọi là "mới" đều có sức sống, có những cái sinh ra chỉ để mà chết yểu. Chủ nghĩa tu chính, hỏa tiễn, thủy quân lục chiến, phụ nữ ba đảm nhiệm chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, để rồi nhường chỗ cho chủ nghĩa xét lại, tên lửa, lính thủy đánh bộ, phụ nữ ba đảm đang. có khi trong cùng một trường hợp mà có nhiều cái mới được tạo ra, cùng tồn tại một thời gian, cho đến lúc nào xã hội có sự đánh giá, lựa chọn. Nhà giữ trẻ, nhà gởi trẻ, nhà trẻ hay nhóm giữ trẻ, nhóm trẻ, đó là những tên gọi khác nhau hiện nay để chỉ cùng một tổ chức mới ở xã hội

    (Hết gói 2)
tducchau and teacher.anh like this.