02.Vancuong7975(xong)WIKI

22/11/15
02.Vancuong7975(xong)WIKI
  • Link docx

    Link pdf

    còn một lý do nữa để giữ kín các hoạt động của mình, đó là sự hợp tác với mafia- một vết nhơ không sao xoá sạch. Một thời gian dài, người ta không sao thu thập được các thông tin tin cậy về các sự kiện trong những năm chiến tranh. Mãi tới năm 1954, một hội đồng điều tra đứng đầu là chánh án William E.Herlands được thành lập đề điều tra các quan hệ mờ ám. Cuộc điều tra kéo dài 10 tháng trong điều kiện tuyệt mật và các sếp cục tình báo hải quân đã “lưu ý” để cho các tin tức không lọt ra ngoài. Mãi tới gần đây chính phủ Mỹ mới tiết lộ một văn bản 100 trang cùng với gần ba nghìn trang lời khai của 57 nhân chứng. Những tài liệu này giúp chúng ta lần theo dấu vết của sự kiện có một không hai trong hậu trường chiến tranh thế giới thứ hai.

    “Khoảng cuối tháng hai hoặc đầu tháng ba năm 1942, đại uý Charles Radeliffe Haffenden- trưởng phòng điều tra B3- và các sỹ quan tình báo khác bắt đầu nghiêm túc nghiên cứu, nghi vấn rằng có thể những tên tội phạm gốc Đức hoặc Ý tiết lộ tin tức về các tuyến vận tải và cũng có thể những tên này cung cấp nhiên liệu cho các tàu ngầm Đức”, trung uý O'Maley tuyên bố.

    Liệu những nghi vấn đó có thật không? Một số thuỷ thủ và dân chài nói rằng họ nhìn thấy hàng hoá Mỹ trên các xác tàu ngầm Đức. Vì vậy các sỹ quan tình báo đã phải đến phố Leonard Street để gặp uỷ viên công tố Frank S. Hogan.

    Tàu chở khách Normandie của Pháp là một tàu nổi tiếng. Nó đã chiếm được “Dải lụa xanh” vì thành tích bơi nhanh nhất từ châu Âu đến Mỹ, và hành khách trong các ca bin hiện đại đắt tiền phần lớn là các nhân vật tiếng tăm. Các minh tinh màn bạc cùng với các nhà triệu phú làm cho những tối dạ hội trên tàu thêm phần “hào nhoáng”. Nhưng chiến tranh nổ ra và nó trở thành tàu vận tải quân sự Lafayette, có nhiệm vụ chở quân. Khi quân đội Đức chiếm Pari, tàu thả neo ở Hudson gần bờ biển phía đông Manhaitan. Ngày 9-2-1942 tàu bốc cháy dữ dội.

    Có bàn tay phá hoại? Thoạt nhìn người ta có cảm giác đám cháy do những tên phá hoại chuyên nghiệp gây ra vì nó bắt đầu cùng một lúc trên các chỗ xa nhau trên tàu. Ai đã đốt tàu? Những tên phá hoại Đức hay là những người Ý cảm tình với Mussolini? Sự kiện choáng váng này củng cố thêm nghi vấn rằng ở New Yok có gián điệp đối phương hoạt động. Phóng viên báo chí tung ra nhiều giả thuyết, dư luận đòi phải có biện pháp hiệu quả, nhưng tình báo hải quân bất lực. Không phương tiện, cũng không kinh nghiệm. Trong thời gian này, người của Haffenden không biết rằng hạm đội của đại đô đốc phát xít Donitz có trong tay những tàu ngầm hiện đại khổng lồ. Những tàu này có hệ thống rađa cực mạnh, xuất phát từ các cảng bị chiếm của Pháp St.Nazaire và Lorent, chúng có thể hoạt động ở vùng biển Caribe và trở về mà không cần tiếp nhiên liệu. Ngoài ra, Đức còn đóng những tàu ngầm cực lớn có khả năng tiếp tế thực phẩm và nhiên liệu cho mọi loại tàu trên bất cứ vùng biển nào. Những tàu này không có khả năng chiến đấu, chúng chỉ được trang bị hai súng máy. Còn đồ hộp Mỹ trên các tàu ngầm Đức? Trước chiến tranh, đồ hộp Mỹ được bán ở mọi nơi trên thế giới, như vậy có thế chúng cũng có trong các kho thực phẩm Đức.

    Đám cháy tàu Lafayette đã gây nên sự báo động lầm lẫn tai hại. Hiển nhiên đó là một tai nạn rủi ro, vì sau chiến tranh trong các hồ sơ phát xít không có một tư liệu nào về các hoạt động phá hoại tương tự và uỷ ban điều tra thuộc hạ nghị viện Mỹ cũng không tìm ra dấu vết nào cả.

    Ủy viên công tố Hogan là chuyên gia với đúng nghĩa thực thụ của nó. Cùng với thống đốc Dewey họ là những người đầu tiên chống lại tổ chức tội ác ở Mỹ. Sau này Robert Kennedy cũng liên kết với họ trong vấn đề này với mưu đồ chính trị riêng- chiếm cảm tình dư luận.

    Hogan xuất thân từ Waterbury, tốt nghiệp đại học tổng hợp Columbo, đã từng chơi bóng đá nhà nghề, bóng rổ, là thành viên hội luật gia New Yok. Ông ta nổi tiếng bởi chiến dịch không khoan nhượng chống các băng găngxtơ, đặc biệt là băng của Lucky Luciano, Hogan đã khuất phục được Luciano và cũng chính ông ta cuối cùng đã đưa được tên cướp lừng danh này vào sau song sắt nhà giam. Thế giới ngầm New York gọi ông ta là “Cha Hogan”. Bộ mặt ông ta lúc nào cũng tỏ ra bình tĩnh và phúc hậu.

    Sau này người ta thường gắn những thành công cũng như thất bại của chiến dịch cho Charlese R.Haffenden là sếp của phòng điều tra B-3 tình báo hải quân, Haffenden quả là phải chịu trách nhiệm về kết quả cũng như ý đồ của chiến dịch. Nhưng tham gia vụ này còn có trung uý O' Maley và Anthony J.Marzullo, sau này đổi sang tên Mỹ là Marsloe. Marsloe là luật sư, tốt nghiệp đại học tổng hợp Stalin. John và là chuyên gia trong vấn đề chống mafia. Ông ta tuyên bố:

    “Khi biết rằng đại uý Haffenden có ý định sử dụng thế giới ngầm, tôi đã chống lại, tại sao chính những người Mỹ xấu xa đó lại phải giúp đỡ không vụ lợi các hoạt động quân sự?”

    Marsloe đã trao đổi vấn để này với sếp cũ, nhân viên lâu năm của Cục an ninh liên bang John F. 0’connell.

    - Tôi không hiểu tại sao tình báo Mỹ lại phải liên minh với bọn tội phạm!

    - Vẫn còn chưa liên minh,- 0’Connelle nói.

    - Điều đó không còn lâu nữa.

    - Họ đã có danh sách?

    - Có.

    - Tên sếp?

    - Đấy không phải là câu lạc bộ những bà già không chồng, anh biết đấy, mà là tổ chức với kỷ luật sắt.

    - Dù sao đi chăng nữa chúng cũng phải có sếp.

    - Tôi không tin rằng sẽ tiếp cận được hắn.

    - Song công tố uỷ viên có phương tiện.

    - Anh quả là ngây thơ, 0’Connelle! Anh không biết luật mafia? Ai nói, kẻ đó phải chết, trong số những người đang bốc sếp dưới cảng hoặc làm việc trong xưởng tàu kia sẽ không ai nói một lời nếu không có lệnh của “bố già” đâu. Tôi không tán thành kế hoạch này.

    - Nhiều khi mục đích biện minh cho phương tiện,- 0’Connelle nói.

    - Điều đó đúng trong chiến tranh,- trung uý Marsloe tán thành.

    - Ờ cuối cùng anh cũng đã nhận thức được vấn đề.
    Trong lịch sử thuỷ chiến, có thể gọi tháng ba năm 1942 là tháng thảm hoạ. Tàu ngầm phát xít đã đánh đắm 22 tàu Mỹ, 8 tàu Anh, 5 tàu Nauy, 2 tàu Panama và 11 tàu khác. Kể từ trận Trân Châu cảng, các tàu ngầm Đức đã tiêu diệt 121 tàu Mỹ, phần lớn không xa bờ biển Mỹ bao nhiêu. Cuộc gặp gỡ lần thứ hai, lần này với uỷ viên công tố địa phương Gurfein, tiến hành chiều 23-3- 1942 trong bầu không khí ảm đạm của những thất bại trên. Đại uý Haffenden, và các phụ tá 0’Maley và Marsloe yêu cầu sếp phòng hình sự giới thiệu một nhân vật mafia có thể cộng tác được.

    - Joseph Lanza Bít- tất,- Gurfein.- Tôi có thể gọi luật sư Guerin của y. Chả là Lanza có "vết” ở chỗ chúng tôi. Một vụ tống tiền. Nhưng vụ này có thế hoãn lại. Guerin sẽ bố trí cho các anh gặp hắn. Một mình, các anh không tìm ra hắn đâu.

    Họ gặp nhau ở góc phố, chỗ giao nhau giữa đường Broadway và 103 Street West chỉ cách nhà bảo tàng Riverside có mấy bước. Đó là một đêm xấu trời, gió to đường phố vắng tanh, chỉ còn 30 phút nữa là tới nửa đêm. Murray Gurfein đi đến bằng xe con. Cửa mở, Lanza và luật sư của y lên xe. Họ đi theo hướng Hudson. Riverside. Park nằm trên bờ biển bắc Manhattan.

    Chỉ còn ít phút nữa là tới nửa đêm. Từ Hudson gió vẫn rít lên từng cơn lạnh buốt, cả hai người trên ghế đều dựng đứng cô áo và đội mũ sụp xuống che kín trán. Người cao hơn nhưng cũng gầy hơn, Murray Gurfein, trong vai phụ tá đặc biệt của đại uý tình báo Haffenden. Người mập, lùn, Lanza “Bít- tất” là một găngxtơ có hạng, bố già của chợ cá lớn nhất thế giới Fulton Fish Market.

    Lanza là một tên độc tài dã man. Người của y chuyên thu “lệ phí an toàn”. Chủ nhân các thuyền đánh cá phải nộp 100 đôla sau mỗi chuyến. Ai không chịu nộp, đêm đến lâu la của y sẽ tưới dầu hôi lên cá. Tài xế xe tải chở cá đi cũng phải trả tiền “rửa xe”. Nếu không, xe họ sẽ không dời bến, một bàn tay vô hình đã cho đường hoặc trứng giập vào bình xăng.

    Lanza cũng là một tên triệu phú thế lực. Cách đó mấy năm, y bị cảnh sát bắt quả tang và toà đã kết án y mấy năm tù giam. Y ngồi tù ở Michigan, tỏ vẻ ngoan ngoãn, hối lộ giám ngục và từ xà lim vẫn điều khiển các “phi vụ" bên ngoài. Ra tù, y trở lại thành bố già với quyền lực hơn trước. Điều đó giải thích tại sao đại diện quyền lực và những người bảo vệ pháp luật nhà nước lại phải yêu cầu y giúp đỡ.

    Đấy là nghĩa vụ đối với tổ quốc của ngài, ngài Lanza ạ. - Gurfein cố gắng thuyết phục tên găngxtơ.

    - Ừ...m, - sếp cả mafia ầm ừ trong họng.

    - Chúng tôi cần tin tức, từ các thuyền trưởng, thuỷ thủ, chúng tôi cần biết về mọi việc xảy ra trên bờ biển. Người của ngài biết vùng này như lòng bàn tay. Trong thời kỳ cấm rượu, các anh đã dấu rượu lậu trong vịnh kín. Bây giờ có thể bọn phá hoại và gián điệp lại sử dụng những chỗ đó làm nơi ẩn nấp. Các anh phải giúp chứng tôi bắt bọn chúng.

    Là một sỹ quan tình báo đặc biệt, Haffenden đã quyết định thực hiện một kế hoạch mạo hiểm: hợp tác với mafia để bảo vệ an toàn cho các tuyến vận tải quân sự và dân sự. Y đã không đếm xỉa đến các nguyên tắc, điều lệnh, lại càng không quan tâm đến quan niệm đạo đức hay thẩm mỹ. Trong chiến tranh, cái chính là kết quả.

    Địa điểm gặp nhau là khách sạn sang trọng Astor. Găngxtơ là những tên trưởng giả, đi đến chỗ hẹn, chúng mặc đồ đại lễ và đeo những chiếc nhẫn đắt tiền.

    - Đây là vấn đề danh dự của mỗi người dân yêu nước Mỹ,- Haffenden thuyết giáo.- Mỗi người Mỹ phải có nghĩa vụ phục vụ tô quốc theo khả năng và sức lực của mình. Ai sắp đi biển, ngài Lanza?

    - Dân chài Ý và Bồ Đào Nha. Đang mùa cá nục.

    - Ngài sẽ nói chuyện với họ. Tôi cần vài người của mình vào nhóm này. Chúng tôi phải xác minh xem ai đã cung cấp tin tức về các đoàn tàu của chúng ta cho quân Đức. Ngài làm điều gì đó vì tổ quốc chứ, ngài Lanza?

    - Tôi sẽ cố gắng.

    Thời kỳ cộng tác giữa phòng B-3 của Haffenden và mafia cảng New York được coi là thắng lợi, các sếp của tình báo hải quân rất hài lòng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, Lanza và phụ tá của mình là Benjamin A.Espy đã gặp Haffenden khoảng 12 lần, theo Espy thì trong những cuộc gặp đó, không bao giờ đả động đến chuyện tiền nong... Người của chúng tôi đã phụng sự tổ quốc như những người dân yêu nước chân chính, y tự hào. Các tình báo viên đã có được thẻ công đoàn do người của Lanza xoay xở, điều đó cho phép họ xâm nhập vào nhiều văn phòng, kiểm tra thư từ tài liệu...

    Người của Haffenden, trung uý Joseph Treglia và trung uý Maurice Kelly, đã tổ chức những cuộc đột nhập ban đêm vào các công sở với mục đích chiếm đoạt tài liệu mật. Có lần họ còn đột nhập vào một lãnh sự quán.

    Trung uý Herbert F.Kemp với sự giới thiệu của mafia đã đến tận các trạm nhiên liệu kiểm tra việc cấp phát xăng dầu. Cộng sự viên của Lemp là Paul A.Alieri. Một kẻ chuyên mở két tháo vát. Vì có nhiều quen biết trong thế giới ngầm New York, y lĩnh trách nhiệm tuyển mộ người cho chiến dịch. Sĩ quan tình báo Willis George lại đóng vai thủ lĩnh công đoàn và mafia đưa y đến bất cứ nơi nào y yêu cầu. Tuy vậy, phải nói rằng các nhân viên tình báo đã không phát hiện ra dấu vết gì, mặc dù họ đã kiểm soát được phần lớn bến cảng. Thế rồi một sự kiện bất ngờ xảy ra làm xôn xao dư luận. Trong lịch sử tình báo nó được ghi lại dưới cái tên “Chiến dịch Pastorius”.

    Khoảng nửa đêm ngày 13.6.1942, dưới màn sương mù dày đặc, tàu ngầm phát xít U2002 “Insburk” đổ bộc lên bờ biển Mỹ Long Island bốn tên biệt kích được trang bị đầy đủ. Những tên biệt kích Hítle với chỉ huy là George Dasch, chôn giấu chất nổ và đạn dược trên bãi biển rồi đi ra ga. John Cullen -lính thuộc đơn vị tuần tra bờ biển Mỹ- đã bắt gặp những tên biệt kích này, nhưng lại tin rằng chúng là dân chài bị lạc trong sương mù. Mãi cho đến sáng, khi cùng với đồng nghiệp phát hiện ra các vỏ chai Đức và sau đó các thùng cất giấu, Cullen mới báo cấp trên. Trong khi đó những tên biệt kích đã ra ga và lên tàu đi mất. Tin tức về cuộc đổ bộ đã gây nên tình trạng báo động. Các bộ phận FBI và các đơn vị tình báo được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Đại uý hải quan Haffenden thì cho là sự kiện này chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết cho rằng có thám báo và phá hoại Đức hoạt động trong vùng cảng.

    Nhóm phá hoại thứ hai, dưới sự chỉ huy của Eduard Kerling, đố bộ ngày 17 tháng 6 trước lúc rạng đông lên bờ biển không xa Ponte Vedra, bang Florida. Chúng có nhiệm vụ cho nổ tung các thiết bị của các phân xưởng sản xuất nhôm của hãng Aluminium Company of America ở Alcoa, thuộc bang Tennessee và nhà máy sản xuất nhôm ở East Stalin. Louis Illinois, một loạt đập trên sông Ohio River bang Kentucky, nhà ga Pensylvania Railroad Station ở New York, cầu đường sắt Hell- Gate qua sông East River ở New York, đoạn đường sắt Chesapeake và Ohio Railroad và một số mục tiêu khác.

    Chúng cải trang, ẩn náu trong các khách sạn và chuẩn bị hoạt động. George Dasch đã từng sống ở Mỹ và theo lời y khai, y tham dự chiến dịch này chỉ để trốn khỏi nước Đức phát xít. Vài ngày sau cuộc đổ bộ y đến đầu thú FBI ở Washington.

    Thoạt đầu người ta không tin y, coi y là kẻ tâm thần. Nhưng y mở cặp và lôi ra, trước mặt các nhân viên FBI Tain, Parr và Conhely, 80 nghìn đô la. Đó quả là bằng chứng tin cậy! Trong một thời gian ngắn, những tên gián điệp Đức cùng bọn đồng loã bị tóm gọn. Một bộ phận mạng lưới gián điệp Đức bị phát hiện. Tất cả toán biệt kích, trừ Dasch tù chung thân, bị kết án tử hình.

    Sự kiện “Pastoriu” làm nhóm Haffenden bối rối. Không có lý do để không tin Laza và người của y, nhưng dù sao cũng đã xuất hiện nghi vấn rằng capo mafia “chơi không đẹp”. Tuy nhiên. Sự thật hoàn toàn khác và sếp mafia đã chứng minh y không gian lận.

    Nhà hàng có tiếng Shines Restaurant nằm trên đại lộ Bảy. Lanza, phụ tá Espy và một người của Haffenden đang cùng nhau thưởng thức món cừu non tẩm rượu vang.

    - Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm được cho sếp của các ngài. - Lanza nói.- Nhưng tôi không phải là Đức chúa trời vô biên, thưa ngài.

    - Ngài nói không được khích lệ cho lắm, thưa ngài Lanza - viên tình báo trả lời.

    - Vỗ ngực như một người anh hùng, điều đó tôi không ham. Ngón tay tôi còn ngắn, thưa ngài, và tôi không xấu hổ khi phải thú nhận điều đó.

    - Như vậy có nghĩa là đầu hàng? Hay ngài có đề nghị gì?

    - Có. Sếp của các ngài cầnphải nói chuyện với một người, ông ta với tới những chỗ mà tôi không đủ sức.

    Ngài hãy bố trí cho tôi gặp sếp.

    Họ gặp nhau tại khách sạn Astor. Sau vài câu về thời tiết và về sự xuống “phông” của cầu thủ dã cầu Terry Miller, hai bên đi ngay vào vấn đề.

    - Ngoài Charlie không ai làm được điều này. -Lanza nói.

    - Charlie nào? - Haffenden hỏi lại.

    - Charlie Luciano tức Lucky Luciano.

    - Địa chỉ!

    - Ông ta làm việc ở hiệu giặt. Ở Dannemore.

    - Capomafia làm việc ở hiệu giặt? Quả là một sự cải trang o-ri-gin, - Haffenden cười.

    - Chắc chắn ngài nghe nhầm địa chỉ. Lucky Luciano không cần chỗ ẩn nấp. Ông ấy làm việc ở hiệu giặt của nhà tù Clinton Prison ở Dannemore. Bị kết án 30 năm tù.

    Từ lời khai của các nhân chứng uỷ ban điều tra Herlands, đặc biệt từ người của “bố” các “bố già” Meyer Lansky, người ta đã dựng lên hai giả thiết về đề nghị hợp tác giữa tình báo Mỹ với trùm găngxtơ nổi tiếng và tệ hại hơn cả là Al Capone lừng danh, dã man hơn cả tên giết người số một John Dillinger. Có thể nói, y ranh ma và nguy hiểm hơn tất cả những tên khác. Theo giả thiết thứ nhất, người đề nghị tình báo gặp tù phạm Luciano là Espy. Theo giả thiết thứ hai, tin cậy hơn, thì ngay cả capomafia chợ cá Lanza (Bít tất) cũng không dám quyết định một bước đi quan trọng như thế một mình. Y đã đến gặp đồng nghiệp Meyer Lansky và chúng cùng nhau đi trao đổi ý kiến với các “bộ trưởng” của chính phủ tội ác vô hình Frank Costello và Joe Adonis, cảnh sát đã biết về các quan hệ chiếm hữu của chúng. Tháng hai năm 1941, chúng họp mặt nhân dịp đám cưới Lanza. Lần ấy một cảnh sát, cải trang làm đầu bếp, đã chụp ảnh được cả bọn..Có tin đồn rằng người ta đã gửi một ảnh chụp chung các sếp mafia trong lễ cưới cho giám đốc FBI Edgar Hoover và ông ta đã để nó dưới kính bàn làm việc của mình.

    Những tên găngxtơ lừng danh John Dillinger, Karpis, Al Capone, Torrio hay Dion 0’Banion ăn mặc như những tên quý tộc nửa mùa. Bất cứ cảnh sát nào cũng có thể nhận ra chúng theo những dây chuyền vàng nặng, những chiếc nhẫn đắt tiền thiếu thẩm mỹ hay là những chiếc kim đính kim cương gài trên cờ-ra-vát Lucky Luciano là đại diện của thế hệ mới. Y ăn mặc sang trọng như các chủ ngân hàng của phố Wall Street và điều khiển việc làm ăn từ văn phòng của mình. Y chỉ đi “thực tế” trong trường hợp thật cần thiết, và trước đó y đã chuẩn bị cho mình một alibi thật vững chắc. Những người cùng thời đã phải công nhận y là một là một thiên tài trong thế giới tội ác, một capo di tutti capi bẩm sinh, sếp của tất cả các sếp, láo xược hơn cả Al Capone, nhưng cũng thận trọng hơn cả Joe Adonis và ranh ma hơn cả Frank Costello. Y có khả năng bẩm sinh dự đoán được phản ứng của đối phương và vì vậy y trở thành chúa tể thế giới ngầm.

    Luciano sinh ngày 11.11.1897 tại Sicilie, ở làng Lercara Friddi, không xa Palermo. Chưa đầy mười tuổi, y đã phải cùng cha mẹ đi tha phương cầu thực tận nước Mỹ. Mới biết đọc biết viết, y đã từ giã ghế nhà trường và bước vào đời. Học nghề ăn cắp, y tốt nghiệp tổng hợp găngxtơ trên đường phố Brooklyn và được tôn làm sếp của băng trẻ con, chuyên đập phá các cửa hiệu nếu chủ hiệu không chịu trả “lệ phí an toàn”.

    Mới 15 tuổi y đã làm liên lạc cho một băng buôn thuốc phiện. Muốn có nhiều tiền phải mạo hiểm, và y đã bị bắt quả tang và lãnh án một năm tù giam. 12 tháng trong tù, y có thời gian nghiền ngẫm: y phạm sai lầm ở khâu nào. Khi trở về đường phố Brooklyn, y đã là một găngxtơ chuyên nghiệp, thành viên của băng, “Five Points” nổi tiếng dưới sự chỉ huy của Giuseppe Masseria.

    Luciano có đầy đủ mọi điều kiện để thành công trên con đường tội ác. Là người Sicilie nhưng y có thể xử sự lạnh lùng như băng, bình tĩnh suy xét trong mọi tình huống, không để hoàn cảnh chi phối và từ bộ mặt chai đá của y, không ai có thể đọc được y thực sự đang nghĩ gì.

    Họ là dân di cư từ Sicilie, ban đầu không biết lấy một từ tiếng Anh. Không biết đọc cũng không biết viết, họ há hốc mồm ngạc nhiên xem tranh ảnh trong các báo ảnh. Họ xuất hiện bẩn thỉu, râu tóc bù xù và lúc nào cũng hôi mùi tỏi. Họ có tất cả khoảng hai triệu người di cư đến châu Mỹ. Họ cảm thấy bất lực và riêng rẽ từng người một, họ bất lực thật sự.

    Họ sống trong những ổ chuột bẩn thỉu ở khu Little Italy. Đấy là ghetto di cư cùng với tất cả những gì tồi tệ nhất thuộc về khái niệm này. Người Mỹ sếp họ thậm chí còn sau cả dân da đen, người da đen dù sao cũng còn hiểu được tiếng Anh. Từ Sicilie họ mang đến thế giới mới ý thức về mafia, một tổ chức dân nghèo chống lại các ông chủ phong kiến trong quá khứ xa xưa. Một số trong bọn họ thậm chí còn có cả kinh nghiệm sống. Thế là xuất hiện “Hội đáng kính”Mỹ. Tuy còn giữ được một số luật của mafia Sicilie (Omerta-ai nói, kẻ đó phải chết), trong thế giới mới tinh thần quân tử không còn nữa. Họ bắt đầu tống tiền lẫn nhau theo luật rừng Mỹ: cá lớn nuốt cá bé.

    Ngay từ đầu, châu Mỹ đã quen với nhiều hội khác nhau. Trong số dân di cư từ châu Âu, nhiều người đã từng can án và không muốn sống nốt cuộc đời sau các song sắt nhà giam. Trong thời gian định cư “Miền Tây” liên tục ngày đêm cập bến những thuyền chật ních người Trung Quốc đói rách, họ phải làm việc trên các tuyến đồn điền California, cả họ cũng thấy bất lực trong thế giới mới và do hoàn cảnh bức bách, họ liên kết nhau trong tổ chức bí mật. Từ hội tự vệ, nó biến thành tổ chức tội ác, tống tiền ngay cả thành viên của mình. Những năm đầu thế kỷ, những người “Hatchet Men” trở thành nỗi khủng khiếp của các khu phố người Hoa ở New York và San Francisco. Họ sống bằng buôn lậu ma túy và giết đối phương bằng rìu.

    Dân di cư từ Sicilie tin cậy đại diện của mình đồng thời cũng là sếp mafia, những người duy nhất có thể nói chuyện được với dân bản xứ. Giống như ở Sicilie. Ở New York họ cũng thu “lệ phí bảo vệ”. Cứ thế, các sếp mafia giàu lên, có thế lực và địa vị xã hội, biết cách hối lộ cảnh sát và tòa án. Để giữ kỷ luật, chúng phải tàn nhẫn. Để gịữ quyền lực, chúng giết những người chống đối hoặc thuê những tên giết người chuyên nghiệp làm việc đó.

    Người Sicilie không phải là dân di cư duy nhất đói rách ở châu Mỹ. Những cộng đồng thiểu số Alien, Ba Lan và Do Thái cũng có những tổ chức tự vệ của mình. Điều đó dẫn đến những va chạm quyền lợi địa phương và dân tộc, trên đường phố đã xảy ra những trận đụng độ đẫm máu chết người. Các băng cướp sống bằng ăn cắp, cờ bạc bất hợp pháp và tống tiền. Khi chính phủ Mỹ tuyên bố cấm rượu, lập tức việc buôn bán Rum và whisky được chuyển vào tay các băng găngxtơ, các sếp mafia “phất” lên nhanh chóng, Lucky Luciano cũng vậy.

    Ở đâu ra đội quân chống pháp luật lớn như vậy? Tại sao dư luận lại chấp nhận sự liên kết giữa những tên tội phạm và các thương gia? Ai tạo điều kiện cho mafia trở thành một tổ chức đầy uy quyền như vậy?

    Tội ác có cội rễ trong điều kiện xã hội, kinh tế mà kẻ phạm pháp lớn lên. Trong trường hợp này đó là những ghetto di cư, đặc biệt là “vườn ươm” sự nghèo khó Litte Italy. Đây là cái nôi của tội ác có tổ chức ở Mỹ. Nó sinh ra trong lòng xã hội mà ở đó hiện hành các quan hệ sản xuất bóc lột. Tất cả vì lợi nhuận, luật đầu tiên đó của Tân thế giới là động cơ cho tất cả những ai đang ngoi lên trong bậc thang xã hội Mỹ. Vì lợi nhuận và sự giàu có chiếm đoạt được, quan hệ con người đã bị chà đạp.

    Những năm hai mươi ở Chicago, ngự trị sếp găngxtơ Torrio và Al Capone. Băng này không phải mafia. Capone không phải người Sicilie mà xuất thân từ Neapote. Nhiều trận đọ súng đẫm máu giữa các băng găngxtơ được ghi nhận. Tất cả đều vì tiền, vì địa phận làm ăn, vì quyền lực. Nhiều khi người băng này lại cướp hàng của băng kia, thế là phía bị cướp phải tự vệ. Trong những trận kịch chiến trên đường phố này ở Chicago, hơn 200 găngxtơ thiệt mạng. Ở New York có lẽ còn nhiều hơn nữa, vì chiến tranh Castellammare giữa các băng kéo dài cho tới tận năm 1931. Trong trận chiến một mất một còn này giữa hai sếp mafia thế lực, có một kẻ đã lợi dụng “đục nước béo cò” kẻ đó chính là Lucky Luciano ranh ma.

    Cuộc chiến tranh này mang tên làng Castellammare del Golfo ở Sicilie, nơi chôn rau cắt rốn của Salvatore Maranzano. Đối thủ của y tên là Giuseppe Masseria, Hai đằng tranh giành ngôi bá chủ. Hơn 100 xác chết rải rác các đường phố New York. Cảnh sát phần lớn theo dõi cuộc chiến như khán giả, dư luận cũng vậy. Không ai bận lòng khi bọn tội phạm chém giết lẫn nhau. Ngược lại, pha chút cảm giác thỏa mãn, họ bàn luận với nhau: Thêm dăm mười tên Ý bẩn thỉu về chầu Diêm vương, sau trận đọ súng hôm qua.

    CHIẾN TRANH CÁC BĂNG
    Chiến tranh các băng không chỉ là cuộc tranh giành đẫm máu tiền bạc và quyền lực. Đó là sự kiện lịch sử của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, là điểm giao thời trong lịch sử tội ác. Nó mở đầu kỷ nguyên mới của mafia Hoa Kỳ. Từ một tổ chức bảo vệ dân di cư Sicilie chống lại thế giới bên ngoài, nó đã trở thành một hiệp hội tội ác khổng lồ. Người thủ vai chính trong việc này là Lucky Luciano. Lật đổ chính quyền của các capomatia già cỗi, y đã giải quyết căn bản vấn đề thế hệ của mafia.

    Trước đó mấy năm y đã liên kết với Meyer Lanaky. Chúng kinh doanh như những tên khác với cùng một loại hàng, thêm vào đó là thuốc phiện, mặt hàng quen thuộc với Luciano, và giống như Al Capone ở Chicago, chúng cũng áp phe gái làm tiền. “Hãng” Luciano - Lanxky phát đạt bởi vì chúng rất tháo vát, các trùm mafia già nua Maranzano và Masseria làm mọi cách đế kéo chúng sang phe mình. Mỗi người làm theo kiểu của mình và chúng ta đã biết Maranzano dùng biện pháp gì đề khuất phục Luciano.

    Luciano chỉ có một lối thoát duy nhất: đứng giữa, không theo bên nào cả. Y biết rõ ràng trong trường hợp ngược lại, phe cạnh tranh sẽ làm thịt y trong vòng vài ngày. Là một nhà chiến thuật cừ khôi, y khôn khéo làm như đang đàm phán với cả hai phe và đã xỏ mũi được hai trùm mafia cáo già. Tuy vậy, Maranzano đã cảnh cáo y một trận thừa sống thiếu chết ở gara hoang trên Staten Island và y hiểu ra ai là kẻ nhiều cơ hội chiến thắng hơn.

    Nhiều tư liệu khẳng định Luciano là thành viên của băng Masseria, thậm chí y đã trở thành phó sếp Giuseppe Masseria là một tên tội phạm nhiều tham vọng, một capomafia tàn bạo. Khi cần giết người một cách “tế nhị”, y đặt hàng tại hãng Murder Incorporated Hãng này thuộc về ba tên găngxtơ -Joe Adonis, Abe Reles và Albert Anastasia. Hãng này cũng được tổ chức như bất cứ mọi hãng khác. Chỉ có điều nhân viên của nó được tuyển chọn bằng phương pháp đặc biệt và phần lớn không tự nguyện. Ba tên sếp găngxtơ này đã phát minh ra phương pháp hiệu quả để tuyển chọn những tên giết thuê tin cậy và ngoan ngoãn.

    Chúng chọn một người khố rách áo ôm nào đó từ những tầng lớp dưới. Khi có lý do, chúng bắt đầu tống tiền gã này. Nếu lương tâm gã còn trong sạch,
  • Chia sẻ trang này