02. trang 27 - 43 - Lười Đọc Sách (done)

20/7/15
02. trang 27 - 43 - Lười Đọc Sách (done)
  • Ăn uống sự thường

    Có lần, trong một bữa cơm khách ở Hán Thành, vị chủ nhiệm một tờ báo ấn hành mỗi ngày hơn nửa triệu số, khoe rằng ông đã có dịp ghé thăm Sài Gòn, đã thưởng thức nước mắm Việt Nam, đã mua về một ít cho cả nhà dùng thử, đều thấy ngon.

    Người nói có lý để hãnh diện: đến viếng một nước xa xôi trong một thời gian ngắn mà đã chịu được một món ăn có mùi vị mạnh mẽ như nước mắm, đã chịu được lại còn thấy cả cái hay của nó để đem lòng ưa thích, thì quả thật là người có thiên tư.

    Còn về phần kẻ nghe, dường như cũng đã không giấu nổi cả một sự vênh váo: "Ông bạn đã khiếp chưa nào? Bên xứ tôi, cái ăn cái uống siêu như vậy đó. Ấy là ông bạn mới biết qua loa mà đã thán phục nước mắm: thấu triệt nó, còn kinh hãi đến đâu. Nhưng sức mấy mà một người ngoại quốc thấu triệt nổi cái tinh túy của nước mắm? Còn lâu ạ!" Tôi cười thầm trong bụng.

    Sự vênh váo lố bịch bắt nguồn từ những kỷ niệm xa xôi, ngày còn nhỏ dại, sinh sống ở một làng quê.

    Ngày ấy, mỗi lần có gánh nước mắm bán dạo ghé vào nhà là cả một sự xôn xao. Bởi vì thường thường, không một ai trong gia đình mà đủ tự tin vào tài nội trợ của mình để có thể một mình kiêu hãnh quyết định về giá trị một thứ nước mắm.

    Người bán nước mắm dùng chiếc gáo nhỏ xíu làm bằng sọ quả dừa xiêm đẹt, chỉ lớn hơn thứ gáo của bạn hàng dầu vốn làm bằng sọ quả mù u, lớn hơn một chút thôi. Người hàng mắm vục gáo vào "thõng", múc lên lưng gáo, rót một tí vào cái chén con sạch sẽ, đưa mời. Cô tôi đón lấy chén, đưa lên mũi, ngửi qua, mắt nhìn ngưng lại giữa khoảng không, ngẫm nghĩ, thẩm định... Xong, một cách thận trọng, cô mới le lưỡi nhấm tí nước mắm. Rồi lặng lẽ trầm tư, cô trao cái chén về phía thím tôi...

    Nhưng bà tôi sốt sắng, nóng nảy, đã vội vàng đưa tay vẫy gọi. Và thím chuyển ngay chén mắm sang bà. Lại ngửi, lại nếm. Sau đó, đến lượt thím tôi: lại ngửi, lại nếm...

    Thím phát biểu:

    - Khá hơn thứ năm cắc kỳ trước.

    Cô tôi tán đồng dè dặt:

    - Nhấm qua thì nó dịu hơn, nhưng chị chiếp cho lâu lâu thử coi...

    Bà tôi nhận định:

    - Nè, mấy đứa thấy sao? Cái màu kỳ này tao không vừa ý, mà mùi vị của nó cũng chưa đằm đâu.

    Người bán hàng vội vã cười hề hề:

    - Bà nói vậy, con chịu. Bà tài thật, không cãi vào đâu được. Thưa, lứa nước này thiếu nắng. Nó còn hơi "sống" đó mà. Thưa, bà mua xong, đem ra "giang" ít lâu, nó bắt nắng, dậy mùi, thơm không thể tả. Màu nó cũng sẽ vàng óng lên chứ không như vầy đâu. Hề hề... Với bà thì cần gì phải bày vẽ, những cái đó bà biết hết mà. Hề hề...

    Trong khi người bán hàng xoắn xuýt quanh bà, thì cô tôi thong thả trao đổi một nhận xét với thím:

    - Nước kỳ trước, mới nhấp không thấy ngon lắm nhưng thâm thẩm nó ngọt hoài trên lưỡi: càng chiếp càng ngọt. Nước kỳ này không có hậu. Chị nhớ không: năm ngoái mình cũng gặp phải...

    Thím tôi vừa gục gặc nhè nhẹ vừa bưng chén mắm lên nhấp lại một tí nữa để chiêm nghiệm. Người bán hàng tai nghe tiếng được tiếng mất những lời bàn tán thấp giọng giữa hai người đàn bà, liền quay lại, ngờ vực, can thiệp liền: "Thưa... thưa... v.v..."

    Cuộc thưởng thức phẩm bình kéo dài. Số người được mời tham dự vào mỗi lúc một đông. Chén nước màu hàng được chuyển mời người này người kia: những người khách đàn bà vừa mới đến nhà, và lắm khi cả những người đàn ông trong gia đình nữa. Ồ, góp lời vào cuộc trưng cầu ý kiến về một chuyện có tính cách nghệ thuật rõ rệt như vậy có gì phương hại đến phong cách của hạng mày râu đâu?

    Trên lãnh vực chuyên môn này, các nhà nghệ sĩ có cái lưỡi đượm nồng mùi mắm của chúng ta ít ra phải gặp một nhà nghệ sĩ lớn của Tây phương. Tức cha Gaucher khả kính, nửa đời chuếnh choáng, chân nam đá chân chiêu, lảo đảo hành trình trên đường nghệ thuật, hơi thở nồng nặc mùi rượu cứu nguy tu viện Prémontrés: "Patatin, patatan, terabin, taraban..."

    Thật vậy, muốn thẩm định cho đúng giá trị chân chính của một giọt nước mắm ngon, cũng như của giọt rượu trong thiên truyện nọ của Alphonse Daudet, không thể dùng thứ máy móc tinh vi nào được cả. Chỉ có thể lấy cái lưỡi của một thiên tài làm chuẩn. Nước mắm, cũng như rượu, cũng lại như trà vậy.

    Tiếc thay, người ta đã xun xoe quá nhiều chung quanh những giai thoại về cái tài phát giác ra hạt trấu lộn trong gói trà Tàu bằng khứu giác, chung quanh những tay tổ được rước đi từ nhà hầm này đến nhà hầm kia, dùng lưỡi thử thứ rượu nho truyền thống vùng Champagne Pháp v.v..., mà không quan tâm đúng mức đến khoa thưởng mắm của dân tộc. Thiết tưởng một người đứng giữa hầm rượu với một người đứng giữa nhà thùng, sự chọn lựa của kẻ sau này còn khó khăn hơn nhiều.

    Ngày xưa các cô tôi thường kêu trời sau mỗi lần đi "vạn" mua mắm. Một "nhà thùng" - một hàm hộ - chất chứa nhiều tấn nước mắm, hàng chục hạng khác nhau: dấn thân vào đó, nếm thứ này một chút nhấm thứ kia một tí, chẳng bao lâu cả vị giác cùng khứu giác bấn loạn lên, không còn biết phân biệt đâu vào đâu nữa....

    * * *​

    Tôi đã nghĩ đến sự bối rối của các cô một hôm vào xem một xưởng nước mắm ở Cà Mau. Còn người chủ xưởng thì cười ngất về sự bối rối đó.

    - Nếm mắm? Bây giờ có ai mua bán kỳ cục như vậy đâu?

    Tôi sững sờ, nghệch người ra. Con người quê kệch tha hồ trải qua bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời của thời đại vẫn không hề tưởng tượng rằng cái món nước mắm gần gũi hàng ngày đã trải qua những biến thiên ghê gớm như thế. Bây giờ bậc thang giá trị của nước mắm được quy định căn cứ trên chất đạm. Bây giờ không còn có thứ nước thơm hơn thơm kém, thứ nước có hậu và không có hậu v.v..., chỉ có những thứ nước bảy chất, tám chất, mười chất, mười ba chất v.v... Mỗi "chất" là một phần trăm chất đạm: đưa chuyên viên phân tích xong, căn cứ vào giá biểu xem mỗi "chất" giá bao nhiêu, làm một bài toán nhân. Thế là xong. Việc gì có chuyện nếm với ngửi trong đó?

    Dĩ nhiên, cũng bấy nhiêu chất nhưng tùy thứ cá dùng làm nguyên liệu, tùy lề lối chế tạo riêng biệt, mỗi thứ nước mắm có mỗi mùi vị khác nhau: Nhưng nêu ra làm chi những sự phiền toái rắc rối ấy? Chút hương vị loáng thoáng, nếu quả có, bây giờ và ở đây nó cũng chẳng đáng quan tâm mấy. Nó làm sao đương đầu nổi với vị giấm pha vô ào ào? với vị đường? với mùi mù tạt? v.v... Trong chai nước chấm bánh cuốn ngày nay chẳng hạn, phần "tham dự" của nước mắm có được là bao mà đòi hỏi nào hương nào vị nào màu nào sắc cho rầy rà? Miễn mằn mặn và đủ "chất" là được rồi. Thế cho nên trong nhiều tiệm ăn quán nhậu, các chai tàu yểu, nước tưong, nước mắm Tàu đã thay thế ngang xương lọ nước mắm cổ truyền nặng mùi. Không thấy đó sao?

    Giữa cái thứ gọi là nước mắm Tàu, nó không khác nước muối là bao nhiêu, với thứ nước mắm muôn mùi nghìn vị của ta, mà vẫn xảy ra sự thay thế cho nhau được: quá xá rồi! Thành thử lúc này ăn mắm mà khen chê ngon dở, phân biệt mùi vị v.v... lại hóa ra là một sự lẩm cẩm lạc hậu, già nua, lỗi thời, lại lộ cái chân tướng của thế hệ tiền chiến, không theo kịp con người "hôm nay".

    Người Việt hôm nay, chắc chắn chả mấy chốc sẽ bắt kịp cái khả năng ăn mắm của những người ngoại quốc, bên Tây bên Mỹ. Tôi trót cười thầm ông bạn Đại Hàn đầy thiện chí: oan cho ông ta quá.

    * * *​

    Người Việt Nam mất đi cái tinh tế đối với nước mắm mà lạ ư? - Không đâu. Trong cái ăn cái uống của dân tộc đã có những thay đổi động trời hơn nữa. Chẳng hạn bây giờ đi đường khát nước, người Việt Nam trong các đô thị Việt Nam làm sao tìm được bát nước chè để uống? Chỉ có thể uống nước ngọt mà thôi: Coca, xá xị, nước cam, nước rau má, nước... sinh tố (!) v.v...

    Vào tiệm ăn xong, có tách trà Tàu để súc miệng. Nhưng còn tô nước chè Huế, chè vối, để giải khát cho khách bộ hành thì thật sự mất tích ở chỗ công cộng.

    Khảo sát những xã hội gồm nhiều giống dân di cư đến, như xã hội Hoa Kỳ, người ta để ý thấy một khi từ bỏ quê hương đến gia nhập vào xứ lạ, di dân thường thường rời bỏ y phục cổ truyền và ngôn ngữ dân tộc trước, rồi sau cùng mới chịu quên đi các món ăn dân tộc. Còn như chúng ta, chúng ta chẳng phải lưu lạc đi đâu, sống ngay trên đất nước, thế mà...

    "Vẻ chi ăn uống sự thường..." Cái chuyện người Việt có một ngày mất nước chè, phải giải khát bằng Coca, sinh tố v.v... sau những cuộc thảo luận đến khản cổ về những vấn đề văn hóa dân tộc, tình tự dân tộc v.v..., chuyện ấy mà cũng đã được tiền định? Gì mà chu đáo, oái oăm quá vậy?

    1972​


    Chè và văn minh

    Trong một bài thơ tả cảnh đêm hè ở Huế, Nam Trân kết thúc bằng bốn câu ngũ ngôn như sau:

    "Hai tay xách hai vịm,
    Một vài mụ le te,
    Tiếng non rao lảnh lót:
    Chốc chốc: 'Ai ăn chè'?"

    Tôi không nghĩ "tiếng non" là một lối nói điêu luyện, "chốc chốc ai ăn chè" là một câu thơ hay. Nhưng tôi nhớ đến Nam Trân, vì Nam Trân đã nhớ đến chè.

    Thơ Nam Trân có cái đặc điểm, là kệch cỡm, sống sượng. Lần này cái kệch cỡm lại được việc: bên cạnh trăng vàng, cành phượng, thuyền nan, tiếng hát trên sông Hương, điệu Nam Bình v.v..., ông chợt đưa ra hai vịm chè.
    Chè là một món ăn đặc biệt của Huế, nhất là vào những đêm hè.

    Chè là một món ăn rất ít khi được nhắc nhở đến trong những dịp bàn luận về món ăn.

    Tôi không có sẵn cuốn Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam và cuốn Tản Đà thực phẩm trong tay, nhưng tôi cũng không nhớ trong ấy có phần nào đáng kể dành cho món chè. Còn trong Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng thì quả là chè không có địa vị đặc biệt.

    Hãy tìm đến một người sành sỏi nữa, một nhân vật có thẩm quyền nữa: Vương Hồng Sển. Cụ Vương không hay khiêm tốn vờ vĩnh, cụ tự phê: "về phương diện 'ẩm thực' tôi không dám để cho thua ai". (1)

    Trong ba năm liền, cụ được mời ra dạy ở trường đại học Văn khoa Huế. Mỗi lần từ Sài Gòn ra Huế dạy học, cụ chọn một chương trình. Chương trình ăn uống. Ở Huế một tuần, có chương trình đủ một tuần. Chương trình ấy là một cái thực đơn mà cụ thảo "còn kỹ hơn nhà tướng vẽ họa đồ xuất chinh". Vậy không thể có sơ sót.

    Về sau, có lần cụ Vương công bố một trong những bản thực đơn ấy. Tôi xem kỹ: trong chín ngày, hai mươi bảy bữa ăn, không có một món chè nào. Có cháo lòng, bún bò, bún riêu, bánh khoái, cháo gan, tiết canh, cháo gà, nem nướng, bánh nậm, bê thui v.v... Đến một tách cà phê cũng được ghi. Nhưng chè thì không.

    Tôi nản chí. Đành không biết tìm đâu ra một kẻ ca tụng chè. Có lẽ đối với vị giác sành sỏi, cái mặn có giá hơn cái ngọt chăng?

    Giới thưởng thức coi tuồng rẻ rúng, nhưng giới chế tác thì không thể quên. Trong sách Những món ăn nấu lối Huế của Hoàng Thị Kim Cúc có mười một món chè.

    Chừng ấy thiết tưởng chưa đủ, có lẽ còn xa mới đủ các thứ chè ở Huế. Chè Huế rất phong phú, nhiều thứ nấu thật công phu. Tôi chưa vội vàng nói thẳng đến cái ngon của nó, bởi vì đó là vấn đề rắc rối. Vị giác chúng ta mang thành kiến địa phương rất nặng. Nó ngoan cố hẹp hòi. Mối kỳ thị giữa rau giá với rau muống tìm chính nghĩa trong cái chủ quan đáng ghét của vị giác. Bởi vậy nói bô bô với "toàn thể đồng bào" rằng chè Huế tuyệt ngon, tất bị nhiều người ngờ vực, không chừng còn bị mỉa mai; tuy nhiên, đối với những ai đã kịp làm quen với các món ăn miền Trung, thì giá trị của chè Huế không cần chứng minh.

    Chè bán trong vịm, chè chứa trong nồi, luôn luôn đun nóng, chè múc sẵn vào chén đặt lên nhiều lớp trẹt xếp chồng lên nhau v.v... thứ nào cũng đều có cái ngọt tế nhị, thanh tao. Nhưng đều chưa phải là tinh hoa của chè Huế. Người Huế ăn ngoài đường phố ít hơn ăn trong nhà. Do đó những thức ăn nấu khéo nhất, tinh nhất, phải tìm mà nếm trong các cỗ gia đình.
    Món ăn Huế không hay ra ngoài gia đình, càng không hay đi xa ngoài địa phương. Phở Bắc vào Sài Gòn đã lâu, phát triển đã nhiều, còn bún bò Huế chỉ vừa xuất hiện lác đác. Món mặn còn thế, huống hồ món ngọt, ít quan trọng hơn. Cho nên chè Huế phía Bắc hình như chỉ ra đến Quảng Trị, phía Nam có lẽ chỉ vào đến Quảng Nam.

    Thế rồi nó gặp khó khăn. Vậy mới tội nghiệp.

    Đối thủ của nó là hộp trái cây. Từ ngày lính Mỹ qua nhiều, đồ hộp càng lan tràn. Tràn cả từ trong quân đội ra ngoài. Và từ đó, mỗi khi vào tiệm muốn ăn cái gì ngọt ngọt, thay vì hỏi thứ chè nấu nưóng lâu lắc tỉ mỉ, người ta bằng lòng với một ly thơm, hay táo, hay nho v.v... thêm vào mấy cục đá. Đồ hộp, đá lạnh giản tiện quá, khỏi phải đun nấu gì, mà cất giữ bao lâu cũng được, không thiu, không chua, không mốc... Chè Huế thành ra một thứ xa xí phẩm, kênh kiệu, khó tánh. Nó bị đào thải. Dần dần, nó mất hết tri kỷ. Trong "thiên hạ", mấy ai còn cái lưỡi tinh tế để phân biệt cái ngọt sang trọng của nó với cái ngọt phàm phu tục tử của trái cây đóng hộp ướp đá nữa.

    Người ta không nghe nói kim chi của Đại Hàn, pho mát của Âu Mỹ tiêu diệt một món ăn mặn nào của người Việt. Chè vẫn là thứ gặp rủi ro hơn cả.
    Tôi không nghĩ rằng chè sẽ mất tích. Nhưng ngay bây giờ, từ Đà Nẵng trở ra nó đã sa sút trông thấy. Sa sút ghê gớm, so với cái thời oanh liệt mà nó cất "tiếng non" lảnh lót trong thơ Nam Trân.

    Chè bị văn minh kỹ thuật đánh ngã, cái đó dĩ nhiên. Sức mấy mà nó không ngã? Ông lão Cornille cùng với cái cối xay gió của ông ta đã ngã như thế cách đây một thế kỷ trong một thiên truyện của Alphonse Daudet.


    Cái rét đô thị

    Một hôm, trời chạng vạng tối, cơm nước xong, tôi ngồi trên gác nhìn xuống, lơ đãng theo dõi đám trẻ con giỡn chơi ngoài đường. Bỗng để ý đến ông cụ ở căn nhà đối diện bên kia đường: ông cụ đến nhà bên cạnh, vào nhà, nói mấy lời với gia chủ, rồi trở ra ngay, xong lại đến một nhà kế cận khác, vẫn chỉ nói mấy lời rồi trở ra. Từ xa nhìn xem điệu bộ của chủ và khách, đều có vẻ gì trịnh trọng, khang khác, không giống như những cuộc tiếp xúc thường nhật trong dịp mượn nhau cái búa cái kềm v.v...
    Sáng hôm sau, hỏi ra thì được biết ông cụ đã dọn nhà sang khu phố khác: đêm ấy ông cụ chào xóm giềng để ra đi.

    Ông cụ đã sống ở đây hơn mười năm, thế mà khi bỏ xóm rời nhà, vẫn chỉ thấy cần từ biệt có hai người. Việc mất đi một gia đình diễn ra lặng lẽ âm thầm: tôi nhờ tình cờ mà được chứng kiến, còn bao nhiêu bà con trong xóm phải nhiều ngày sau mới để ý đến sự vắng mặt của gia đình ông cụ nọ.

    Tôi vốn lớn lên ở thôn quê, cho nên trước một việc như thế lấy làm ngỡ ngàng: đời sống của con người ở thành phố sao mà nó nhỏ quá, nó vô danh quá; tình liên hệ giữa người thành phố sao mà lạt lẽo hững hờ quá. Ông cụ nọ quen nếp sống xưa còn có lời ly biệt; đến như lớp trẻ, thường khi hoặc nhập vào khu phố hoặc vụt rời khỏi khu phố tuyệt không hề chào hỏi giã biệt ai cả.

    Từ thôn quê ra thành thị, con người càng dồn sát gần nhau lại càng lạnh lùng dửng dưng với nhau.

    * * *​

    Ấy là chúng ta chỉ sống ở đô thị của một nước kém mở mang. Bên Âu Mỹ, tại những xã hội kỹ nghệ cực thịnh vượng, đô thị phát triển hơn, cuộc sống gấp rút hơn ở ta gấp năm gấp mười lần, thì con người mới ăn ở làm sao!

    Người ta nhận thấy bên Tây phương số người tự tử mỗi ngày mỗi gia tăng. Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, mỗi năm có trung bình nửa triệu vụ quyên sinh; ở Pháp, theo lời bác sĩ Jean-Pierre Soubrier thì cứ trong bốn người chết có một người chết vì tự tử. Và đối với tuổi thanh niên, 88% trường hợp tự tử là do những nguyên nhân liên quan đến sự khó khăn trục trặc trong cuộc sống giữa xã hội mới. Hoặc không thích ứng được với nhịp sinh hoạt quá nhanh, hoặc cân não mệt mỏi căng thẳng, hoặc không còn chỗ nương tựa tinh thần vi mất hết niềm tin v.v... Nhưng nguyên nhân nổi bật, quan trọng hơn cả, là sự cô đơn.

    Biết được căn bệnh của người chán đời trong thời đại mới là như thế, kẻ chữa bịnh đã chọn một phương tiện giản dị: máy điện thoại. Hiệp hội "S.O.S. amitié" (2) ở Pháp với chiếc máy điện thoại số 825.70.50 đã cứu không biết bao nhiêu mạng người. Chỉ cần lắng tai nghe, thế cũng đủ làm cho một người hết chán đời. Chỉ vì không tìm được một ai để trò chuyện, hàn huyên, sau những giờ làm lụng buồn nản, thế mà con người không kham nổi cuộc sống. Pierre Olivier, người điều khiển hội "S.O.S. amitié", sau nhiều năm kinh nghiệm trong nghề đã để ý thấy vào khoảng sáu giờ chiều thường có nhiều tiếng gọi từ các trạm xe: giờ ấy, bước chân ra khỏi sở làm, nghĩ đến cảnh tượng thui thủi lê chân về căn phòng trống trải, bơ vơ, không bầu bạn, trải qua một đêm dài nhạt nhẽo v.v..., người ta đâm ngại ngùng, sợ hãi. Ngày thứ Sáu mỗi tuần cũng là ngày có nhiều khách hàng gọi điện thoại để cà kê lẩm cẩm cho vơi bầu tâm sự. Bởi vì trước mặt họ là thứ Bảy và Chủ nhật, tức ngày nghỉ. Tức một khoảng trống mênh mông, hãi hùng.

    * * *​

    Thiên hạ trầm trồ trước những sự lạ ngoạn mục như đổ bộ nguyệt cầu. Có biết đâu rằng quanh mình vẫn đang diễn ra những sự lạ còn quan trọng hơn, vì có liên hệ thân thiết với đời sống con người: chẳng hạn cái chết cóng vì cô đơn. Trong lịch sử quả đất có những thời kỳ băng giá làm chết loài khổng tượng. Phải chăng đến đây là thời kỳ băng giá làm chết loài người?

    Câu chuyện có vẻ viển vông.

    Nước đang có giặc tùm lum, loay hoay như gà mắc đẻ không biết kết thúc chiến tranh cách nào, mà vội vạch chương trình kinh tế hậu chiến, ông giáo sư họ Vũ đã viển vông. Nước còn 90% dân số làm ruộng mà đã lo đến nỗi sầu cô đơn của đô thị kỹ nghệ, không nhảm nhí quá sao?

    Nhưng đặc tính con người vẫn là viển vông, là nhảm nhí. Ở đất mà cứ trằn trọc tính chuyện lên trăng, sống hôm nay mà cứ mơ chuyện ngày mai, ngày kia. Thế gọi là vừa đi vừa ngước nhìn. Chỉ có con người vừa đi vừa ngước nhìn. Các loài động vật khác đều đi gục đầu xuống đất.

    Vả lại, quả thực chúng ta có 90% dân số sống bằng ruộng đất chăng? Đâu có! Đó là một câu chuyện cũ kỹ truyền tụng từ xưa, không còn đúng nữa. Sài Gòn hơn hai triệu dân: như thế cứ trong bảy người dân trên toàn quốc có một người ở thủ đô. Lại còn Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, trên bốn mươi tỉnh lỵ khác. Chắc chắn hiện thời trong ba người dân Việt Nam ít ra cũng có một người ở thành phố. Coi vậy mà chúng ta cũng không xa căn bệnh của thời đại kỹ thuật bao nhiêu.

    Trên một trang báo cũ in ở Sài Gòn cách đây không chừng đã hơn một năm, tình cờ tôi nhặt được mấy lời rao sau đây:

    "Chuộc 20.000đ. - Ai bắt hay mua được con chó phốc nhỏ màu đen, tay chân, má, lông mày màu vàng đậm, mõm dài, răng đều, hàm dưới gãy một răng cửa, tai đứng, đuôi cụt sát đít, đầu nhỏ hơn đít, lùn chân, dài chừng hai gang tay, tên là Phi Phi, chó cái. Tôi không con, bốn năm không xa một ngày, ngủ chung một giường. Tôi có chuyện, gửi đường Nguyễn Huệ, nó nhớ tôi đi kiếm bị lạc ngày (...) Tôi khóc mỗi ngày, mắt không thấy đường, bác sĩ không cho tôi khóc, tôi như khùng, như mẹ mất con. Ai nuôi nó thông cảm sự đau khổ của chúng tôi mang ngay đến, đi đường X... vào đường Y... bên tay trái, hẻm thứ hai, số..., tôi cam đoan giữ lời hứa danh dự 20.000đ. Nếu thích nuôi chó, tôi xin biếu một con chó nhỏ hơn. Ai thấy đâu chỉ giùm, tôi xin biếu 10.000 đồng".

    Nỗi niềm khắc khoải không thể an ủi được như thế chỉ có giữa một đô thị đôi ba triệu người. Nếu người đàn bà nọ sống tại xóm làng nhỏ hẹp, dân cư thưa thớt, nhất định tình lân lý láng giềng đã lấp đầy khoảng trống do sự mất tích một con chó gây ra.

    Không thể nói chúng ta chưa biết đến cái rét của đô thị.
    :rose::rose::rose: