03. trang 43 -59 - Lười Đọc Sách (done)

12/8/15
03. trang 43 -59 - Lười Đọc Sách (done)
  • Nhàn và nhã

    Sau cuộc thế chiến thứ nhất, tại nhiều quốc gia con người được xã hội bảo đảm cái quyền có công ăn việc làm. Sau khi được quyền làm việc, con người đòi quyền ăn chơi. Và xã hội vội soạn luật để công nhận cho con người quyền ăn chơi.

    Thật vậy, sau cuộc thế chiến thứ hai, bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, Điều 24 có ghi: "Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và nhàn tản...".

    Một cuộc điều tra lý lịch cho thấy quyền hưởng nhàn của nhân loại mới xuất hiện trên hai mươi năm nay. Nghĩa là mới toanh. Vậy trong hàng triệu năm loài người thí thân làm hùng hục? Không! Con người không khờ khạo đến thế: họ đã hưởng nhàn từ lâu trước khi có quyền.

    Một hôm, tôi gặp ở An Túc một em bé thượng du trên mười tuổi, bị phỏng khá nặng. Thấy tội nghiệp, hỏi thăm cho biết nguyên do vì sao xảy ra tai nạn, được trả lời rằng em ham vui, rượu say túy lúy, lăn quay ra ngủ, đá đổ ngọn đèn, bị thiêu cháy. Em bé gặp nạn trong cảnh nhàn lạc. Và cha anh của em, bao nhiêu đời tổ tiên của em đã sống cảnh nhàn lạc ấy: đến mùa, thu hoạch hoa màu xong, suốt mấy tháng mưa rừng đổ xuống mịt mù, họ khoanh tay ngồi bên bếp lửa, hút thuốc uống rượu, lơ mơ, hờ hững nhìn ngày tháng trôi qua...

    Trong xã hội nông nghiệp trước kia, các cụ chúng ta cũng thưởng nhàn chu đáo:

    "Tháng giêng ăn tết ở nhà,
    Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè"...

    Khiếp! Hết phần tư của một năm rồi. Dễ không có luật lao động nào rộng rãi đến thế: một ngày nghỉ, ba ngày làm. Trung bình mỗi tuần lễ hai ngày chủ nhật.

    Hỏi Alfred Sauvy đặc điểm của thời đại này là cái gì, ông cụ đáp gọn: "Tốc độ". Tốc độ với sự nhàn tản khó lòng đi đôi với nhau, khó có sự chung sống chân thành. Cho nên về cái "quyền" thì có thể hỏi thăm ở thời đại này, nhưng về cái "thuật" nhàn tản thì nên tìm về các thời kỳ trước.
    Và - điều kỳ lạ - là nên tìm về Đông phương.

    * * *​

    Nhàn tản không hẳn là ở nể. Nhàn không phải là không làm một việc gì. Kiến trúc sinh lý của con người đòi hỏi phải có sự hoạt động: không hành quân, không đánh máy công văn, thì đọc Kim Dung, thì đánh xì phé, đi chọi gà, đi bơi v.v. Bắt một người ngưng chỉ mọi hoạt động là hành hạ người ấy.

    Cho nên nhàn tản cũng là một hoạt động. Lắm khi còn là hoạt động dữ dội hơn lúc làm việc. Một ông giám đốc ngồi ở phòng giấy, cười với người này, bắt tay người khác, hút thuốc, uống rượu, tiếp khách: thế lại là bận rộn với công việc, lại kêu vất vả. Phóc ra sân ten-nít, ông ta mặc xà lỏn áo cánh, chạy nhảy dưới nắng như điên, mồ hôi mồ kê nhễ nhại: thế mà ông ta đang thưởng nhàn đấy.

    Vậy khác nhau chẳng qua ở chỗ làm việc là hoạt động vì nhu cầu sinh nhai mà nhàn tản là hoạt động vì nhu cầu sinh lý.

    Sự thưởng nhàn ở xã hội Đông phương chúng ta ngày xưa cũng không loại trừ hoạt động. Nhưng các cụ chúng ta dường như chưa bao giờ chọn những cách thừa nhàn đến vã mồ hôi.

    Cái chơi của Tây phương ngày nay là đá banh, là phóng xe, là bơi thuyền, là ôm nhau nhảy nhót hò hét v.v... Các thú chơi cổ truyền của ta là: chăm nom một cây kiểng suốt vài mươi năm, truyền tử lưu tôn một gốc cây lùn trong vài ba thế kỷ để mấy đời con cháu thay nhau gọt tỉa, là nhắp chén trà, là tìm cách bày một hòn đá cho hợp với cảnh vườn v.v... Trong năm, những ngày mưa là những ngày thừa thãi nhiều thì giờ nhất. Để tiêu cho hết khoản thừa thãi ấy, một người Á Đông không cần phí sức: "Mùa xuân mưa nên đọc sách, mùa hè mưa nên đánh cờ, mùa thu mưa nên lục những đồ cất trong rương, mùa đông mưa nên uống rượu" (4). Lặng lẽ như thế, âm thầm như thế.

    Đố kỵ thứ nhàn quần quật, thứ nhàn đẫm mồ hôi, tiền nhân chúng ta chọn một thứ "nhàn" thế nào cho nó “nhã".

    (4) Lâm Ngữ Đường, Một quan niệm và sống đẹp, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, nhà xuất bản Tao Đàn, 1965, trang 310.

    * * *​

    Cái nhàn quần của Tây phương hiện đại làm cho xã hội bận rộn thêm, và gây tốn kém vô kể. Cách đây mười năm, Raymond Cartier đã tính thường niên Hoa Kỳ chi phí vào sự nhàn du mất ba mươi lăm tỉ Mỹ kim, tức là gấp đôi lợi tức tổng quát về canh nông, gấp bảy lần tổng số thương vụ về kỹ nghệ xe hơi trong toàn quốc. Tổ chức những chuyến bay cho khách du lịch, dựng khách sạn ở các bãi bể, xây hồ tắm, cất rạp xi-nê, lập "ba" v.v..., cả xã hội bù đầu vì chuyện nhàn du. Nhàn du thành ra một cái cớ để băng xăng nhặng xị lên. Trong khi ấy kẻ mở rương đồ cũ ra, vừa tẩn mẩn soạn từng món, vừa bồi hồi với từng kỷ niệm, kẻ ấy chẳng quấy rầy một ai, chẳng làm tốn kém của xã hội một xu.

    Kể ra, trong lịch sử, đôi bên đã nhiều lần học cách "chơi" của nhau. Tây phương học của chúng ta tục uống trà. Nhưng từ cái trà trong Trà kinh của Lục Vũ, trong Trà thư của Okakura Kakuzo, đến cái trà vắt chanh thêm đường của Âu Tây, sự cách biệt xa như giữa tiếng đàn thánh thót trong phòng với tiếng thanh la của Sơn Đông mãi võ ngoài chợ. Chúng ta cũng có học của Tây phương tục uống cà-phê. Nhưng khi về với chúng ta thì cà-phê nhẩn nha nhỏ từng giọt trong sự chờ đợi nâng niu, còn ở Hoa Kỳ anh bạn Ký giả Lô Răng ngán ngẩm trước cảnh vặn rô-bi-nê cho cà-phê trong cái lò tổ bố chảy vào ly tồ tồ. (4)

    Thành thử mỗi bên đã biểu lộ phong thái riêng của mình trong cái tập tục chung. Một tấm gương in hai khuôn mặt hoàn toàn khác nhau.

    * * *​

    Có thể vì tạng thể và tâm hồn người Tây phương khác chúng ta, khiến họ ham những động tác mạnh mẽ hung bạo, ghét sự chùng chình đủng đỉnh, khiến họ lúc nào cũng xông pha, tích cực. Cũng có thể chẳng qua vì cái "tốc độ" trong nếp sống của xã hội kỹ nghệ in dấu lên tâm hồn họ. Quen sống với chương trình, giờ giấc, trong tiếng động ồn ào, rốt cuộc họ thừa nhàn một cách tất tả.

    Dầu sao, đến giai đoạn lịch sử này thì đang xảy ra cái điều tai hại là họ lôi cuốn ta theo họ.

    Ở khắp các nước Á Đông, cuốn sách của Mễ Phí dạy phép ngắm nghía đá đẹp đã thành vô dụng từ lâu. Cuốn Trà kinh của Lục Vũ cũng chỉ còn được khách phong lưu Á Đông dành cho một địa vị tôn kính từa tựa như tín đồ Hồi giáo đối với sợi râu của Ma-hô-mết.

    Cuối thế kỷ này, nhờ sự tiến bộ kỹ thuật, các quốc gia tân tiến kêu rằng họ đạt tới nền văn minh của nhàn du. Thiên hạ hân hoan trước kỷ nguyên mới. Nhưng là kỷ nguyên của thứ nhàn du theo cái lối nhảy lên xe phóng như ma đuổi đi Saint Tropez, đi Nice, đi Vũng Tàu, Long Hải v.v... nằm xếp hàng dày khít, rồi đớp thịt cá ào ào, nốc rượu với cà-phê ừng ực... Thứ nhàn du làm bở hơi tai. Thứ nhàn du sốt ruột.

    Tạng thể và tâm hồn của con người, nếp sống của xã hội từ nghìn năm xưa, đã khiến chúng ta phân biệt tiện nghi, dật lạc với an nhàn, khiến chúng ta quan niệm ngốn ngấu không phải là nhàn, nhâm nhi mới là nhàn.

    Quan niệm ấy, phân biệt ấy, sắp vất đi cả. Vâng, hiện thời chúng ta hãy còn nhấp trà và cà-phê khác Âu Mỹ, nhưng cứ cái đà này thì chẳng mấy chốc sẽ hòa đồng!

    Hùng hục đuổi theo chiều hướng văn minh Tây phương, chắc chắn rồi chúng ta cũng sẽ chộp được cái quyền nhàn du. Tha hồ hí hửng. Bấy giờ chỉ thiếu có cái cốt cách thanh nhã để thừa nhàn, thế thôi.

    12-1969​


    Đạo và đời

    Mấy lúc sau này, nhiều người tự nhận mình theo một thứ đạo, gọi là đạo "thờ cúng ông bà".

    Nghĩ lại mình, tôi bỡ ngỡ: hóa ra lâu nay vẫn theo đạo mà không hay. Như ông Jourdain làm tản văn bốn mươi năm...

    Kịp đến khi biết tới, thì cái đạo đã đến hồi suy vi. Không phải tôi dám bảo liều lĩnh rằng thế hệ này không hiếu thảo bằng các lớp trước. Nhưng việc thờ có thể tiếp tục tồn tại mà việc cúng thật khó duy trì được như xưa. Nhất là ở đô thị.

    Và nguyên nhân chỉ vì bây giờ chợ gần nhà.

    Cách chúng ta một thế kỷ, một hôm có bạn đến nhà chơi bất thần không báo trước, cụ Yên Đổ đã kêu trời:

    "... Trẻ thì đi vắng, chợ thì xa.
    Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
    Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
    Cải chửa ra hoa, cà mới nụ,
    Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa"...

    Nghe bảo thuở nhỏ nhà cụ nghèo. Trong bài thơ này có nói đến ao sâu, vườn rộng..., không phải cảnh túng bấn. Vậy có lẽ bài này được viết khi cụ Yên Đổ đã từ quan. Một ông tiến sĩ từng làm đến tổng đốc, mà gặp khách vào lúc bất ngờ còn bối rối đến thế, huống hồ thường dân trong làng.

    Cụ Yên Đổ kể lể hơi nhiều thành ra nghe có vẻ như cụ muốn đùa bạn một tí, kỳ thực, chỉ nguyên một chuyện "chợ thì xa" đã rắc rối phiền hà.

    Ở thôn quê cảnh xa chợ lại là thông thường. Nhà cách chợ năm bảy cây số, phần lớn là đường bờ ruộng, ngoằn ngoèo, luôn luôn phải đi bộ, không có xe cộ gì.

    Chợ đã xa, lại không họp thường xuyên. Phải chờ năm ngày mới đến một phiên chợ. Vì thế mua được món ăn người ta phải liệu tìm cách nấu thế nào để có thể dùng được nhiều ngày. Phải chăng vì vậy mà trong các món ăn của dân tộc, món kho rất nhiều? Trên một thực đơn Tây khó gặp món kho, còn chúng ta, nào là cá kho, thịt kho, tôm kho, tép kho... Món kho Việt Nam thật phong phú. Có nhiều cách thức kho, trong đó lắm cách tinh vi, điêu luyện. Tôi có anh bạn người Huế thỉnh thoảng lại nhận được một hộp cá bống kho tiêu của bà cụ thân sinh gửi vào Sài Gòn: kỹ thuật kho cá xuống đến con dâu, có lẽ bà cụ đã nhận thấy không còn tin tưởng được nữa.

    Món kho truyền thống liệu rồi nó có còn tiếp tục đứng vững trước sự phát triển của văn minh đô thị? Đó cũng là một vấn đề nữa, nhưng lần này không thể nhẩn nha: Chúng ta đang bận nói chuyện chợ búa và cúng giỗ.
    Chợ xa là một cái bất tiện. Cái bất tiện khác nữa là khách khứa ở thôn quê đến nhà chơi thường lưu lại khá lâu.

    Hoặc bà con, hoặc bạn bè, họ đều có quyền chiếm của ta cả buổi, cả ngày, mỗi lần đến thăm viếng. Như thế, một phần là vì thì giờ trong xã hội nông nghiệp không quá thiếu thốn chật hẹp: người ta làm và nghỉ theo mùa màng thời tiết chứ không theo giờ khắc của chiếc đồng hồ lạnh lùng đếm từng phút từng giây trên vách các phòng việc và xí nghiệp ngày nay. Phần khác trong tình trạng giao thông trước kia ở thôn quê làm sao có thể vụt đến vụt đi trong chốc lát? Ngoại trừ những kẻ láng giềng, ở làng trên xóm dưới lúc nào cũng dễ dàng gặp mặt, thì không nói làm gì. Chứ còn bà con thân thuộc ở khác tổng khác quận, từ thời đại Khổng tử cho đến thời đại cụ Yên Đổ, đều không hay phóng Honda hay ngồi xe tắc-xi đi thăm nhau. Họ phải cất công lội bộ hàng buổi. Cho nên đến rời họ cần nghỉ ngơi. Những bậc đã có tuổi tác lại càng phải nhẩn nha lâu hơn.

    Vì thế tiếp khách bằng cơm nước là thường, là cần.

    Khách du lịch bây giờ thỉnh thoảng kháo nhau về đức tính hiếu khách của một số dân tộc chậm tiến mà họ gặp đó đây trên thế giới: khách đến nhà bao giờ cũng sẵn sàng cơm nước cho ăn, giường màn cho ngủ. Thiết tưởng đó chẳng qua là những tập tục cần thiết của một thời còn lưu lại: vào thời không có quán xá, không có lữ điếm, nếu tập thể không buộc nhau có thái độ đối xử như thế thì kẻ lỡ độ đường sống làm sao được? Cụ Nguyễn Trãi từng giải thích cho người nhà hiểu rằng sự "thết đãi rượu trà" đối với bạn hữu là "của gửi chồng ta đi đường".

    * * *​

    Tiếp người phải có cơm nước thịnh soạn, mà món ăn không phải bất cứ lúc nào cũng mua được. Đã vậy, trong chế độ xã hội ngày xưa ai nấy đều nặng tình gia tộc. Chim có tổ người có tông, bà con họ hàng phải năng tới lui thăm viếng.

    Nếu mỗi lần thăm viếng nhau, mỗi lần gây bối rối cho nhau thì kẹt quá. Cụ Yên Đổ làm được thơ để tạ từ, chứ người khác đã không có bữa ăn lại không có cả thơ sẽ hổ thẹn biết bao.

    Trong hoàn cảnh ấy, cúng giỗ là giải pháp tuyệt diệu. Bà con có dịp tề tựu thăm nhau, gia chủ có điều kiện để chuẩn bị cuộc tiếp đón chu đáo, chi phí đãi đằng cũng được tiên liệu để khỏi có ai bị thiệt thòi. Mảnh ruộng hương hỏa gọi là trích ra lo việc tổ tiên, nhưng tổ tiên chỉ chịu cái tiếng, để cho con cháu hưởng cái miếng. Và miếng ăn nhỏ nhặt ấy, một đấng tiền nhân, vừa thực tế vừa ranh mãnh, đã khéo xếp đặt kín đáo, nhờ đó mà củng cố được tình thân trong họ hàng từ đời nọ qua đời kia.

    * * *​

    Trong gia đình tôi có những bậc tuổi tác, những bậc đã từng lo việc cúng giỗ quá nửa thế kỷ rồi, nhưng từ ngày rời xóm làng về đô thị cũng đâm ra mất cả hào hứng trong việc cúng giỗ linh đình. Cúng để mời ai? Ai đến tham dự? Họ hàng sống tản mác khắp nơi, lâu lâu có người ghé thăm: kẻ dạy học thì ghé vào dịp nghỉ hè nghỉ lễ, quân nhân ghé vào dịp nghỉ phép, kẻ buôn bán ghé nhân một chuyến đi mua hàng, công chức ghé nhân một kỳ hội nghị v.v... Gặp nhau, nếu cần ăn uống thì hoặc kéo nhau đi ăn tiệm, hoặc ra chợ mua thức ăn về nhà, lúc nào cũng sẵn.

    Cúng giỗ, có một hồi người ta cho là hủ tục tốn kém, đem ra chỉ trích, xúi bỏ đi, mà không ai bỏ. Lại đến một thời nó được nâng lên thành cái đạo tôn quý cần bảo tồn, thì hình như vừa gặp lúc khó bảo tồn.

    Một tập tục ra đời trong hoàn cảnh xã hội nông nghiệp, mất hoàn cảnh ấy nó suy tàn. Cúng giỗ không ngã trước sức tấn công của tư tưởng "cấp tiến"; mà khi chợ búa và tiệm ăn nhích đến gần nhà, tự nhiên nó lặng lẽ rút lui. Nhảm thật: cúng giỗ là chuyện đạo lý, văn hóa, tín ngưỡng, tức là cao siêu; còn tiệm ăn với chợ búa chẳng qua là những cái phàm tục.

    "Cúng" là hình thức bên ngoài, "thờ" nặng về ý nghĩa bên trong. Bên ngoài đã suy sụp, liệu bên trong có sẽ mãi mãi nguyên vẹn? Chỉ e cảnh đời biến đổi, lẽ đạo cũng không khỏi suy vi. Kể cả đạo thờ cúng ông bà.

    12-1969​


    Ông và cháu


    Tết đến, dù là Tết khắc khổ, dù là Tết kiệm ước, đây đó vẫn quần áo se sua. Thì ra tạo nên sự sung túc của quốc gia là khó, mà hãm lại sự phô trương một cảnh sung túc giả tạo cũng không dễ.

    Tần mần muốn biết xem trước kia đồng bào ta đã ăn mặc ra sao. Trước, không phải là thời Hồng Bàng, là thời Trọng Thủy Mỵ Nương: xưa như thế thành ra quá xưa, cơ hồ không còn liên quan gì với chúng ta. Chỉ mong ngược lại độ trăm năm, tìm biết về thế hệ người Việt cuối cùng trước khi Pháp đến xâm chiếm xứ này.

    Về lớp người ấy, Trần Trọng Kim cho biết: "Cách ăn mặc thì chỉ có đồ vải đồ nâu, người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thường thì đóng cái khố, có đi đâu mới mặc cái quần vải dài đến đầu gối”. (5)

    Thiết tưởng ngày Tết chiếc quần ấy cũng không thể dài hơn. Người nghèo khổ là đa số. Đa số dân ta trước kia cơ cực đến thế sao?

    Nếu phải nói luôn đến cái thiểu số sung túc nữa thì cũng chẳng có gì rực rỡ. "Người sung túc mới có vài cái áo nâu đen và vài cái quần hoặc nhuộm nâu hoặc để trắng, chứ không được mặc đồ gấm đồ vóc và đi giày". (6)
    Như thế, quang cảnh đám đông thuở ấy trong những hội hè, những cuộc vui ngày xuân, có vẻ ảm đạm, so với các đám đông đầy màu sắc sặc sỡ ngày nay.

    Trong tranh, trong truyện, trong kịch tuồng thời xưa, chúng ta không gặp những nhân vật như thế. Trái lại, chỉ có những áo mão xênh xang, lụng thụng, chỉ có một cảnh phong lưu sang trọng. Dần dà, trong cảm tưởng mơ hồ, chúng ta đồng hóa người xưa với những đào kép phục sức cầu kỳ trên sân khấu hát bộ.

    Văn nghệ phong kiến khỏe tuyên truyền quá, gây cho đời sau một ảo tưởng quá đẹp, khiến chúng ta khi nhìn xuống cái khố - vốn thuộc vào cuộc sống thường nhật thuở ấy - bỗng đâm ra ngỡ ngàng.

    * * *​

    Trước đây trăm năm ông bà chúng ta kham khổ hơn chúng ta ngày nay, sự tiến bộ dĩ nhiên không do cuộc thống trị của Pháp đem lại cho ta. Mà là do văn minh kỹ thuật đem lại, chung cho cả loài người.

    Một tác giả đã cho rằng vua Louis XIV ở thế kỷ 17 không sung sướng bằng một người thợ bây giờ bên xứ ông, vì trong điện Versailles thời ấy không có chút tiện nghi nào: phòng rộng, gió lộng càng thêm lạnh buốt. Cho đến đầu thế kỷ 19, thường dân bên Pháp hạng nghèo suốt đời vẫn chỉ có một đôi giày, gặp dịp quan trọng như hội hè tiệc tùng mới xách theo, tới nơi bỏ giày xuống xỏ chân vào. Cha chết để giày lại cho con như một gia bảo. (7)
    Ở Pháp, ở Nhật, ở Nga, ở đâu đâu trong khoảng trăm năm qua đều có những đổi thay ngoạn mục, đem lại nhiều tiện nghi cho con người. Thì ở ta cũng thế, không thể khác.

    Nhưng văn minh một thế kỷ nay không phải chỉ có những đổi thay ấy. Trong cuộc sống Việt Nam, có thể để ý đến một phương diện ngộ nghĩnh hơn của văn minh.

    Sách Đại Nam nhất thống chí của Cao Xuân Dục (8) có ghi tên mấy liệt nữ ở tỉnh Bình Định. Một liệt nữ tên là Nguyễn Thị Phiêu, năm mười lăm tuổi, bị một tên cường bạo là Trần Văn Kiên toan hãm hiếp, đã cực lực chống cự, và bị bóp cổ chết; do đó năm Minh Mạng nguyên niên được vua nêu thưởng. Một liệt nữ khác tên là Bùi Thị Tâm, bị người ở trong ấp là Võ Đăng Hy bức bách thông gian, đã mắng nhiếc và bị đâm chết; do đó năm Minh Mạng thứ 16 được vua nêu thưởng.

    Chuyện như vậy mà không lạ lùng sao?

    Gái bị hiếp rồi chống lại, rồi bị giết, vứt thây hoặc trong nghĩa địa, hoặc dưới lòng sông, hoặc trong phòng ngủ khách sạn v.v..., những tin tức ấy bây giờ chúng ta gặp hàng ngày trên báo. Nếu có kẻ nào đề nghị ông đô trưởng thưởng huy chương, bội tinh cho các nạn nhân, hẳn ông đô trưởng cho là kẻ ấy định đùa mình.

    Một đàng, việc xảy ra trong gang tấc mà viên chức sở tại không buồn để ý đến; một đàng, cũng việc ấy, xảy ra ngoài ngàn dặm, tận nơi thôn ấp xa xôi hẻo lánh, mà nhà vua cứu xét khen thưởng. Người ta tưởng chừng sống hai nền văn minh khác nhau! Có ai ngờ cả hai trường hợp đều diễn ra trên cùng một quốc gia, chỉ cách xa nhau có đôi ba thế hệ.

    * * *​

    Vào thời kỳ lớp người mà chúng ta gọi bằng ông cố bà cố, người Việt Nam nhìn sự việc ở đời khác bây giờ nhiều quá.

    Bây giờ nhìn nhau chỉ thấy những công dân, thuở ấy xã hội ăn ở với nhau như trong gia tộc.

    Nhà cầm quyền nhìn dân như công dân, cho nên chỉ thưởng phạt về thái độ của họ đối với nghĩa vụ quốc gia, chứ không xen vào đời tư của họ. Có những huy chương cho người nghĩa quân anh dũng, có bội tinh cho người công chức cần mẫn, có bằng tưởng lệ, bằng danh dự để khuyến khích lòng tận tâm với công vụ; mà không có những khuyến khích gìn giữ tiết trinh, ăn ở hiếu đễ v.v...

    Tiết trinh, hiếu đễ v.v... là đức tốt của con người, không phải của người công dân; là chuyện luân lý, không phải chuyện pháp luật. Ve mặt luân lý, kẻ nào tốt kẻ ấy tha hồ yên ổn với lương tâm, tha hồ hưởng sự kính trọng khâm phục của đồng bào; nhưng nhà nước thì không can thiệp đến. Trao một bằng thưởng về phẩm hạnh tốt cho ông nọ bà kia? Bộ nhà nước muốn chơi cha sao chớ? Nhà nước có phải gồm những bậc đạo cao đức trọng đâu? Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Phiêu, bà Nguyễn Thị Tâm v.v..., ông đô trưởng thời nay chỉ cần tóm cổ trừng phạt hai tên đàn ông về hành vi làm thiệt đến tính mạng kẻ khác, làm quấy động cuộc sống an ninh của xã hội. Tức là trị hai công dân bất hảo, chứ không phải trị hai con người sút điểm về đạo đức. Đã không trị người kém đạo đức, tất nhiên không thể khen người cao trọng về đạo đức.

    Đứng ở quan điểm ấy, chúng ta thấy vua quan ngày trước xử sự có phần lẩm cẩm. Như tuồng lẫn lộn cả pháp lý với đạo đức, cả việc nước với việc nhà. Xử sự không hẳn ra vua ra quan, mà có lúc lại như cha như mẹ. Trị đứa xấu nết một phát để răn dạy, rồi khen đứa ngoan ngoãn mấy câu để khích lệ. Khen đàn bà nết na, khen con có hiếu với mẹ cha, khen vợ biết chung thủy với chồng v.v... tức những chuyện tư riêng trong gia đình người ta, chuyện tư cách phẩm hạnh cá nhân của người ta.

    Nhà nước như thế không những lo cai trị, mà còn lo dạy dỗ. Một thế hệ ý thức quyền bình đẳng giữa mọi người sẽ bất bình về một quan niệm nhà nước "kẻ cả" như vậy. Nhưng các thế hệ đã chấp nhận quan niệm ấy thì có lẽ lại cảm thấy không khí đầm ấm trong một khung cảnh xã hội gia tộc.

    * * *​

    Tết đến, chiều ba mươi ta có tục cúng một bữa để rước ông bà.

    Nếu ông bà về thực, trong cuộc đối diện, trước những tiện nghi, những xa hoa trong đời sống vật chất của chúng ta, hẳn là ông bà không khỏi mừng cho con cháu ăn nên làm ra, mỗi ngày một khá. Còn chúng ta thì rầu lòng ái ngại trước những cái quần ngắn quá gối của ông bà.

    Ngược lại, biết đâu ông bà lại không âm thầm ái ngại nhìn con cháu sống bơ vơ giữa một xã hội vô tình, trong đó giữa mọi người chỉ có một liên hệ pháp lý?

    1-1970​
    :rose::rose::rose: