035. Trang [0380-0391] - @hangoc(done)

24/8/15
035. Trang [0380-0391] - @hangoc(done)
  • Lấy Khâm sai thống binh cai cơ Trần Công Tín làm Phó trưởng chi chi An võ, Cai cơ Cao Văn Quế và Võ Văn Nhẫn làm Trưởng hiệu, theo sự thống quản của tướng quân thượng đạo Nguyễn Long.

    Sai hàng tướng là đại Đô đốc Trương Văn Luân mộ những dân ngoại tịch từ Ma Li đến Phù My lập làm thuộc quân, theo Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành sai khiến.

    Lưu thủ Phiên Trấn là Nguyễn Đức Thịnh tuổi già xin nghỉ việc; lấy Khâm sai cai cơ chánh Tiền chi dinh Tả thủy là Tống Phước Ngoạn thay.

    Định hạn ra thú cho lính trốn. [Ai trốn] từ mùa đông năm Mậu ngọ về trước, trong một tháng nếu đến thú ở quân thì được miễn tội, vẫn được sung đội ngũ cũ. Quá kỳ mà không ra thú thì cho dân sở tại bắt ra, lấy quân pháp trị tội.

    Tháng 3, hoàng tử và các quan văn võ sai người đem tờ khải đến thành Diên Khánh, tiến lễ mừng khánh đản(1. Khánh đản: Lễ sinh nhật.1) (ngày mồng 1 tháng ấy) của Đông cung (20 cân sáp ong).

    Ban 32 điều quân chính. Dụ rằng : “Việc binh là việc chính trị lớn của nhà nước. Người xưa nói rằng : Quân có tiết chế không thể thua. Cho nên sai tướng tất phải kỷ luật. Nay quân chính đã sửa định, tướng sĩ các ngươi phải nên kính vâng, chớ có vượt quá. Phàm kỷ cương của nhà nước duy có thưởng với phạt. Ai phạm phép ta, dù là kẻ công lao hay họ hàng cũng không tha, chớ bảo là ta không răn sớm”.

    1. Trong quân không được la ồn. Làm trái, ở diễn trường thì trị 100 roi, ra trận thì chém đầu để răn bảo mọi người.

    2. Khi hành quân không được tự tiện lìa bỏ hàng ngũ. Có người nào lẫn vào đội ngũ nào thì đội ngũ ấy phải giải nộp ngay ; hoặc binh đinh ở ngũ nào trốn thiếu, thì ngũ trưởng phải trình với quản quan để lấy tên khác sung vào, ai ẩn giấu thì đồng tội. Làm trái, ở diễn trường và đồn sở thì trị 100 roi, ra trận thì chém đều để răn bảo mọi người.

    3. Khi hành quân không được mang theo đàn bà con gái và người thuật sĩ tán nhảm về điều tốt xấu làm rối loạn quân tình. Làm trái thì chém đầu để răn bảo mọi người.

    4. Thắng địch không được giết chóc thẳng tay. Như địch hàng phục, bắt giải nộp thì có quân công, tự tiện giết thì trị tội nặng.

    5. Khi thắng trận vào dinh lũy giặc không được tự tiện lìa khỏi hàng ngũ, tản ra các nơi để cướp bóc, làm trái thì chém đầu để răn bảo mọi người. Của cải bắt được thì đợi sau chia đều. Voi ngựa, khí giới, thuyền ghe, lương thực thì sung công để dùng vào việc quân việc nước.

    6. Quân giặc tan vỡ chạy trốn vào trong thôn xóm thì không được tìm bắt giết chóc, hại đến dân thường, làm trái thì trị tội nặng.

    7. Phàm đàn bà con gái và của cải của dân gian không được xâm lấn cướp bóc, làm trái thì chém đầu để răn bảo mọi người.

    8. Phàm ra trận bị chết, người có quan chức thì con được tập ấm, tùy tài bổ dụng, người không có quan chức thì con được miễn binh dao.

    9. Quân số không được thay đổi giả dối. Sổ ngạch các đội giao cho lại dịch coi giữ, lại dịch thay đổi giả dối thì bị tội chém; người cai quản dụng tình thay đổi giả dối, lại dịch biết mà tố cáo ngay thì miễn tội, tội ở người cai quản.

    10. Trong quân không được đánh bạc uống rượu. Như đánh bạc ở

    đồn sở thì không kể quan hay dân, đều trị 100 roi, tiền mặt bắt được trong sòng thì thưởng cho người tố cáo. Uống rượu thì quan bị xử nặng, lính cũng trị 100 roi và sung làm đầu bếp. Ra trận thì đều chém đầu để răn bảo

    mọi người.

    11. Thám tử ở đất địch về, tướng hiệu không được đón đường hỏi chuyện, thám tử cũng không được tiết lộ công việc. Làm trái đều chém. Như việc có quan hệ cơ mật mà người ngoài biết được thì bắt tội thám tử.

    12. Trong quân kiện nhau thì cho đầu đơn ở người sở quản, xử đoán không công bằng thì tùy việc nặng nhẹ mà xử phạt. Như trong quân mà chửi nhau đánh nhau thì ngoài xử phạt. Như trong quân mà chửi nhau đánh nhau thì ngoài sự xét xử phải trái mỗi người đều bị 100 roi để răn.

    13. Khi hành quân mà bỏ mất khí giới, ai bắt được thì phải nộp quan, người bỏ mất thì trị 100 roi, đình tiền gạo lương một tháng để thưởng cho người bắt được.

    14. Bắt được quân địch hay người đi đường, họ có muốn đến bày tỏ tình hình của địch thì phải giải đến thống tướng ngay. Lúc thống tướng hỏi nhỏ, trưởng chi trưởng hiệu trở xuống đều không được dự nghe. Làm trái đều chém đầu để răn bảo mọi người.

    15. Khi trời tối đóng quân, hễ gần đất địch thì làm đồn thực, xa thì làm đồn tạm, không được ở lẫn nhà dân mà khó ứng phó với địch. Làm trái thì quan sở quản bị trị tội nặng.

    16. Ra trận mà lùi chạy thì chém. Những chi, hiệu, đội, thập, ngũ nào mà lùi chạy thì người trưởng chi, trưởng hiệu, cai đội, đội trưởng, ngũ trưởng đều bị chém đầu để răn mọi người. Nếu Trưởng chi bị thất lạc, thì các Trưởng hiệu cùng thuộc viên trong chi phải chịu đồng tội; Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng, Ngũ trưởng bị thất lạc, thì Cai đội ở trong hiệu, Đội trưởng ở trong đội, Ngũ trưởng ở trong thập, binh đinh ở trong ngũ, đều chịu đồng tội. Bị tên đạn mà chết thì không kể.

    17. Binh đinh ra trận mà co lùi thì cho ngũ trưởng chém ngay trước quân. Ngũ trưởng mà co lùi thì cho đội trưởng chém ngay trước quân. Cai đội, Trưởng hiệu, Trưởng chi đều theo phép đó mà làm, ai dung tha thì bị đồng tội.

    18. Ra trận khi người nào bị tên đạn bắn bị thương, các quân đều không được hoảng chạy, phải đem người bị thương đi chữa thuốc. Làm trái cũng chém.

    19. Khi ra quân thì phải chiếu theo quân tịch tra điểm toàn số. Nếu quan sở quản dụng tình che giấu thì đồng tội với người trốn không ra trận.

    20. Những tướng sĩ đi đánh trận xa, người có quan chức thì vợ con giao cho quan địa phương giúp đỡ, binh lính thì vợ con giao cho dân sở tại giúp đỡ. Nếu mang theo làm bận rộn ở nơi đường sá thì chém đầu để răn bảo mọi người.

    21. Những nơi đóng quân trên đường thủy, hết thảy thuyền buôn không được đậu lẫn lộn vào, ai có vợ con làm nghề buôn bán cũng không được cho ở lẫn. Làm trái thì chém đầu để răn bảo mọi người.

    22. Quân đi tuần và quân mai phục, khi gặp giặc tức thì nổ súng báo hiệu, ở nước thì sai một chiếc thuyền chạy báo, ở bộ thì một ngũ quân chạy báo. Phàm đến đồn dinh thì không được kéo thẳng vào cửa quân, phải do người giữ cửa xét thực, chỉ cho một người đầu mục vào báo thống tướng, thuộc tướng không được hỏi riêng. Làm trái đều chém để răn bảo mọi người.

    23. Khi thủy quân đánh nhau, nếu giặc lùi chạy xuống sông thì phải nhảy xuống nước vớt lên để giải nộp. Làm trái thì có tội.

    24. Bọn giặc bỏ thuyền mà chạy và vứt bỏ của cải, bắt được bao nhiêu thì do trung quân phái người thu giữ, đợi sau phân cấp, nếu ai giành lấy mà bỏ giặc không đuổi thì chém ngay để răn bảo mọi người.

    25. Tướng sĩ có người đau ốm, từ trưởng chi trở xuống đều phải thăm hỏi chữa thuốc.

    26. Quân khí có hư hỏng, súng có bị thấm ướt, thì người giữ có tội.

    27. Tướng sĩ không được tự tiện lìa bỏ dinh ngũ, từ Thống tướng cho đến Trưởng chi Trưởng hiệu, nếu có việc mà phải lìa bỏ dinh cách đêm thì cho cử người tạm quản. Làm trái, ở đồn sở thì tội nặng, ra trận thì dùng quân pháp. Cai đội, Đội trưởng và binh lính đi trong 1 ngày, Cai đội, Đội trưởng thì do Trưởng hiệu, binh lính thì do Đội trưởng cấp bài; đi cách 1 đêm, thì Cai đội, Đội trưởng do Trưởng chi, binh lính do Trưởng hiệu cấp bằng; đội thập đều cử người tạm quản. Quá kỳ mà không trở về thì có tội; ai tư tình dung túng thì đồng tội.

    28. Trong dinh quân đương đêm có báo động cùng có hỏa tai thì các dinh đều phải mang khí giới, sắp bày hàng trận, chờ nghe sai phái, nếu làm huyên náo rối loạn thì chém đầu để răn bảo mọi người.

    29. Các quân diễn tập, cần phải tinh tường chín chắn, mỗi tháng một lần khảo duyệt, có thưởng phạt theo thứ bực khác nhau.

    30. Tướng hiệu không được sai riêng quân sĩ, làm trái thì có tội; như việc gì có thể sai được, thì cho hỏi trưởng chi trưởng hiệu mới được sai phái.

    31. Tướng hiệu không được tiết lậu cơ sự. Các quân trong ngày thường thì khí giới lương thực cần phải dự bị để chờ khi có việc sai phái. Như có mệnh lệnh thì chỉ thống tướng vâng theo, các sĩ tốt không được dự nghe và bàn bạc lung tung. Làm trái thì xử tội nặng.

    32. Hẹn họp mà đến sau thì chém đầu để răn bảo mọi người; ở trường thao diễn cũng trị tội nặng.

    Sau lại định rõ thêm 4 điều nữa:

    1. Sĩ tốt tòng chinh, nếu ai tự tiện vào nhà dân, hãm hiếp đàn bà con gái và cướp lấy của cải, thì chém ngay, rao trong quân. Nếu vào đất giặc mà có người đem của cải biếu riêng, dám công nhiên nhận lấy, việc phát giác thì người chánh phạm bị xử chém ngay. Còn những viên tiếp nhận, từ trưởng chi trở xuống đều trị 50 roi và giáng một bậc.

    2. Ra trận đối địch, tướng sĩ có ai bắt được quân giặc, cứ mỗi một người thì thưởng tiền 5 quan, bắt được hộ quân, quán quân, đô ty, đô úy của giặc thì thưởng tiền 20 quan, bắt được đô đốc giặc thưởng tiền 100 quan, bắt được quận công giặc thưởng tiền 1.000 quan; như bắt được người có quan chức mà không có quản binh thì thưởng 1 phần 3. Ngoài ra bắt được thuộc tướng của giặc thì đều lấy đó mà suy ra. Chém được thủ cấp cũng y lệ mà thưởng, lại thêm cho tước trật theo thứ bậc khác nhau. Nếu giặc bị thương vì tên đạn mà nhận làm công mình và nó tự đến đầu hàng thì không được thưởng. Nếu bắt được khí vật mà tự tiện quẳng đi thì trị 100 roi, truất làm quân đầu bếp. Nếu không phải lúc ra trận mà tự tiện bắt người giết người thì chiếu theo quân chính trước mà trị tội.

    3. Những người thể sát và tham quân, như thấy sĩ tốt thật có tội lỗi mà che giấu riêng cho nhau, không đem tố ra, thì đều đồng tội với kẻ phạm.

    4. Bản quân chính mới định, ban hành cho các quân mỗi vệ một đạo. Cứ 10 ngày một lần, quan quản phải họp quân sở thuộc để giảng rõ ý nghĩa, khiến sĩ tốt thêm nhớ, ở đồn bảo hoặc ở dọc đường cũng thường như thế. Làm trái thì tội ở người sở quản. Thiếu mặt một lần là trị 100 roi. Trải ba lần mà sĩ tốt vẫn lờ mờ không nhớ được, thì tội cũng như thế.

    Lấy Thị thư viện Trương Minh Thành làm Thị thư viện phụng chỉ, Câu kê Chính dinh là Phan Tiến Cẩn làm Cai bạ Chính dinh Đồ gia.

    Chánh thống Hữu đồn quân Thần sách là Trần Văn Tín có tội bị miễn chức; lấy Tống Viết Phước làm Chánh thống Hữu đồn. Dụ rằng: “Làm vua dùng người, lấy sở trường mà bỏ sở đoản. Ngươi trước vì câu nói mà mắc lỗi, ta hãy tha cho. Sau nên tự tu tỉnh, cái ơn đặc biệt không có thể được luôn. Ngươi nên nghĩ đó”.

    Lấy Khâm sai cai cơ Trung quân là Phạm Văn Hiến làm Chánh trưởng chi Hùng võ, Cai đội Tiền quân là Nguyễn Đình Nguyên làm Phó vệ vệ Địch võ.

    Triệu Khâm sai thuộc nội cai cơ hành lưu thủ Vĩnh Trấn là Nguyễn Văn Thịnh về; lấy Khâm sai cai cơ Nguyễn Văn Thiện làm Lưu thủ Vĩnh Trấn.

    Vua thấy dân Phiên Trấn nhiều người hay kiện vượt bực, sắc rằng từ nay phàm kiện tụng phải do quan công đường xét xử. Nếu còn có oan uổng chưa phục tình thì mới cho tới Hình bộ xin xử lại.

    Vua cử đại quân đi đánh Quy Nhơn, lưu Khâm sai cai đội hoàng tử thứ hai là Hy trấn thủ Gia Định. Cho Khâm sai thuộc nội cai cơ quản Trường đà kiêm Hộ bộ là Nguyễn Văn Nhân làm Khâm sai thuộc nội chưởng cơ, hiệp cùng Hình bộ Nguyễn Tử Châu và nguyên Lễ bộ kiêm Đốc học Nguyễn Thái Nguyên cùng giúp mọi việc binh dân. Sai Công bộ Trần Văn Thái đốc thúc đóng chiến thuyền để sẵn chuyên chở, Hộ bộ Trần Đức Khoan trông nom tiền thóc thuế lệ, Giám thành sứ Tô Văn Đoài hộ vệ cung thành, Hiệu úy Tiền chi Trung quân là Hoàng Văn Khánh và Vệ úy vệ Hùng uy làm Trần Đại Luật phòng giữ nội ngoại kinh thành.

    Dụ hoàng tử Hy và các thần liêu rằng : “Công việc và quyền hành của nhà nước, binh dân làm trọng nhất. Người xưa họp bàn ở đài, ở các, mưu đoán giúp nhau, là bởi thế đó. Nay xa giá đi xa, trọng địa căn bản ủy cho thần liêu các ngươi. Vậy nên khuya sớm siêng năng, sao cho công việc ổn thỏa. Từ nay về sau, quan võ từ hàng Vệ úy hiệu úy, quan văn từ hàng Hàn lâm chế cáo trở lên, mỗi buổi sáng vào khắc đồng hồ thứ nhất phải tề tập ở công thự mà làm việc, cuối giờ tỵ thì lui, nếu gặp phải việc quan trọng hơn thì không theo hạn ấy. Lại đều theo từng ngày mà ghi chép, chuyển đệ cho ta xem để xét việc chăm hay lười, rõ việc được hay hỏng”.

    Lại dụ bọn Nguyễn Văn Nhân rằng : “Ta không thể hằng ngày phụng dưỡng Từ cung, bọn khanh nên cùng con ta thay mặt, cứ ba ngày một lần thăm sức khỏe cho yên lòng ngài”.

    Rồi đó xa giá xuất chinh. Bọn Nhân giúp Hoàng tử Hy giữ then khóa, vững căn bản, điều quân cấp lương không từng thiếu thốn ; lại khuyên việc nông tang, nghiêm cấm uống rượu, trong hạt đều được yên ổn.

    Sai Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành điều bát bộ binh các đạo đi trước ra Diên Khánh; sắc cho Đông cung Cảnh nghiêm sức cho các đồn ở ba đèo cẩn thận việc quan phòng, cấm việc đi lại, không được để lộ

    tăm hơi.

    Vua thân đốc binh thuyền ra cửa biển Cần Giờ. Sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền sở bộ tiến trước, Cai cơ Nguyễn Văn Thịnh và Tham tri Hộ bộ Trịnh Hoài Đức chở quân lương đi theo.

    Mùa hạ, tháng 4, thuyền vua đến vũng Cù Huân, dừng ở thành Diên Khánh, khiến đội Tiểu sai dâng biểu về Gia Định để thăm sức khỏe Từ cung. Từ đó đại binh tới đâu thẳng đó, bèn dâng thư chạy về trình bày.

    Sai Nguyễn Văn Thành thống quản tướng sĩ Tiền quân kiêm dinh Tiên phong và năm cơ voi thuộc vệ Hùng võ quân Thần sách, cùng cả quân Xiêm, tiến lấy Phú Yên, Nguyễn Văn Tánh, Đặng Trần Thường và Nguyễn Đức Xuyên đều theo điều bát.

    Lấy Phó thống Trung đồn quân Thần sách là Nguyễn Đình Đắc làm Phó tướng Tả quân, hiệp cùng phó tướng Nguyễn Công Thái quản suất tướng sĩ dinh Tả quân, cho theo Đông cung Cảnh điều bát để hộ giá đi đánh giặc; lưu tướng quân thượng đạo Nguyễn Long ở trấn giữ Diên Khánh, Lưu thủ Bình Khang là Nguyễn Xuyền giữ kho tạm Cù Huân, trưng gọi hương binh hai phủ Bình Khang và Diên Khánh chia nhau phòng thủ.

    Thuyền vua tiến đến Thị Nại, thẳng vào cửa biển. Sai Chưởng Hậu quân Võ Tánh và Chưởng Hữu quân Nguyễn Hoàng Đức đem quân đóng ở Phú Trung. Lại sai quân các vệ Hữu đồn quân Thần sách qua đò Càn Dương, đánh giặc ở Cựu Phụ [Gò cũ] hai trận đều thắng. Quân ta thừa thắng tiến đóng ở Trúc Khê. Thái phủ giặc là Lê Văn ứng giữ quân ở Thốc Lộc không dám đánh. Trước là Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu và Tư đồ Võ Văn Dũng thấy ứng là người bề tôi yêu của Nguyễn Quang Toản cậy thế kiêu ngạo lộng quyền, mưu muốn giết đi. Quang Toản sai Đại tổng quản Lê Văn Thanh lưu giữ Quy Nhơn, Diệu mưu với Dũng rằng: “Thanh là người của đảng ta, ứng là thù của ta. Nay Thanh giữ Quy Nhơn, nếu lại sai ứng đến thì ứng tất là không lợi cho Thanh. Bọn ta theo đấy đem quân vào cửa biển Thị Nại, mật hẹn với Thanh, hễ nghe hiệu súng ở cửa biển thì nói dối ứng đó là quân Gia Định, khiến ứng đi ra một mình, nhân đó đánh úp, thì sẽ giết ngay được ứng”. Diệu bèn nói với Quang Toản rằng Quy Nhơn là nơi trọng địa căn bản, nên có một vị thân thần trấn giữ, xin sai ứng. Khi ứng đã đi, Diệu, Dũng lại xin đem thủy binh tiến theo, đem mưu ấy bảo Thanh trước. Chợt quân ta đến cửa Thị Nại nổ ba tiếng súng. Thanh ngờ là quân của Diệu, Dũng nên không phòng bị. Xin ứng đi cự chiến. ứng ra thành ngần ngừ không tiến. Do đó quân ta tiến, không bị gì ngăn cản. Kịp khi Thanh biết thì trở tay không kịp nữa, bèn cùng ứng đem đồ đảng chia đóng ở Thốc Lộc và Đê Phụ để cùng quân ta chống giữ. (Phú Trung, Càn Dương, Cựu Phụ, Trúc Khê, Thốc Lộc, Đê Phụ đều là tên đất).

    Vua nghe tin quân của tướng giặc Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đến Quảng Nam, bảo các tướng rằng : “Muốn lấy được thành, trước phải đánh quân cứu viện”. Bèn sai Chánh thống Tả đồn Hậu quân Lê Văn Duyệt và Binh bộ Nguyễn Đức Thiện đem tướng sĩ Tả đồn và Hậu đồn thẳng tới Tân Quan(1. Tân Quan: Tức là Tam Quan tỉnh Bình Định.1), đóng giữ các đường hiểm yếu đèo Cung Quăng và Thạch Tân [Bến Đá] để chặn viện binh của giặc, Đại đô đốc quản chi Hiển võ là Đoàn Văn Cát đem quân sở thuộc giữ hai bảo Thái An và Vĩnh Thuận để làm thanh thế xa, Nguyễn Văn Trương đem thủy binh chia cho các thuyền sai đi tuần ở phần biển Quảng Ngãi.

    Sai Khâm sai cai cơ tri Đồ gia là Phạm Văn Nhung và Tham tri Lễ bộ Nguyễn Cửu Hanh đi khắp bốn thuộc (An Nghĩa, Nhân Ân, Hà Nghiêu, Hà Bạc) huyện Tuy Viễn phàm thóc lương ở các trại công điền biệt thực(2. Công điền biệt thực: Có lẽ là ruộng công do nhà nước hưởng chứ không quân cấp cho dân, tức như quan điền. 2) của giặc chưa nộp cho giặc thì y theo lệ năm Bính thìn mà trưng thu, tạm chứa ở đồn Hàm Thủy [Nước mặn].

    Võ Tánh và Nguyễn Hoàng Đức đánh giặc ở Thị Dã [Đồng Thị]. Thiếu úy giặc là Trương Tiến Thúy thua chạy. Bắt được 13 thớt voi. Quân giặc chết và bị thương rất nhiều. Đuổi đến cầu Tân An, chém được Đô đốc giặc là Nguyễn Thực. Vệ úy vệ Ban trực hữu quân Thần sách là Tôn Thất Nông chết trận (năm Minh Mệnh thứ 5 truy tặng Thống chế).

    Đại đô đốc giặc là Lê Chất hàng. Chất người huyện Phù Ly, Bình Định, là thuộc tướng của Tư lệ giặc Lê Trung, từ khi Trung bị giết, Chất sợ vạ tới mình, ngầm vào Quy Nhơn theo Đại tổng quản Lê Văn Thanh. Thanh vốn trọng tài của Chất, giữ ở dưới màn. Đến bấy giờ đem 200 người bộ thuộc đến quân Võ Tánh đầu hàng. (Mùa xuân năm Đinh tỵ, Phó tướng Tiên phong Nguyễn Văn Tánh đóng giữ Diên Khánh, Chất sai người đưa thư cho Tánh xin làm nội ứng, rồi việc không thành, tới nay thế cùng xin hàng). Chất là người rất thiện chiến ở trong đảng giặc. Vua đã từng nghe tiếng, đặc biệt vỗ về để dùng, sai theo Võ Tánh điều khiển. Từ đó tướng giặc là bọn đại Đô đốc Võ Đình Giai, Nguyễn Văn Điểm, đô đốc Lê Văn Niệm, Hồ Văn Viện, Trần Văn Lân, đô úy Mai Gia Cương, Nguyễn Văn Trí, nối nhau đến hàng, không kể xiết được. Vua đều sai chiêu tập quân cũ để theo đi đánh giặc.

    Quân Lê Văn Duyệt đến Đạm Thủy [Nước ngọt] đánh đốt kho lương của giặc, chém được tướng là Đại đoàn luyện Giảng (không rõ họ), gửi thủ cấp đến thành tại báo thắng trận. Vua thưởng cho 1.000 quan tiền. Duyệt lại tiến binh đến Thạch Tân [Bến Đá], chia đặt các đồn.

    Sai Khâm sai thống binh cai cơ chi ứng nghĩa là Nguyễn Tiến Huyên và Tham mưu Nguyễn Tử Chính đến bảo Thạch Tân theo Lê Văn Duyệt để giữ hai xứ là Hôn Cốc [Hang tối] và Sa Lung (tên núi), phủ dụ những sách người Đê để nghiêm phòng quân ngoại viện [của giặc].

    Nguyễn Văn Thành đánh bảo Hội An của giặc phá được, Tham đốc giặc là Phạm Văn Điềm đầu hàng. Thu phục được dinh Phú Yên. Tin báo đến, vua dụ giục Thành tiến quân để tiếp nhau với các đạo quân của Võ Tánh.

    Lấy hàng tướng là Đô đốc Nguyễn Văn Thiệu làm Chánh trưởng chi Tiền chi Tiền quân, Khâm sai tổng nhung cai cơ Phan Tiến Bảo làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Tả chi Phan Tiến Quý làm Chánh trưởng chi, Trưởng hiệu Trần Văn Hòa làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Tiền chi Hoàng Văn Long làm Chánh trưởng chi Hữu chi, Khâm sai thống binh cai cơ Phan Tiến Sơn làm Phó vệ vệ Lương võ.

    Sai Khâm sai đô đốc quản chi Hùng võ là Nguyễn Kế Nhuận cứ ngạch quân cũ của ba xã Nha Phiên, Đàn Lâm và Sơn Quả đòi đến biên thành đội ngũ, cho đến bảo Trúc Khê theo Nguyễn Hoàng Đức sai bát đánh giặc.

    Cho Cai cơ Nguyễn Văn Thụy làm Khâm sai thượng đạo tướng quân, Cai đội Lưu Phước Tường làm Khâm sai điển quân, hiệp cùng Tham mưu Nguyễn Hoài Châu và Tham quân Lê Văn Xuân đem quân sở thuộc 150 người mang quốc thư và quan vật (các thứ nhiễu sa gấm đoạn) theo đường thượng đạo sang chiêu dụ nước Vạn Tượng. Bọn Thụy mới đến nước Xiêm, vua Xiêm sắp sai tướng để cùng đi với Thụy, chợt xảy việc với Diến Điện, bèn hiến 5 vạn cân diêm tiêu để giúp quân dụng, lại cấp cho giấy thông hành qua thượng đạo và nói: “Giấy thông hành này rất đắc lực, ta sai người cầm giấy đi, đến đâu cũng có người cung ứng hộ tống không trở ngại gì”. Bọn Thụy về đến hành tại, đem việc tâu lên. Vua sai đi ngay, dụ rằng : “Việc quân không nề dối trá, chính có thể nhân cơ mà làm. Bọn ngươi đến nước Vạn Tượng nên phao tiếng là quân Xiêm cùng với quân ta do đường thượng đạo đánh Nghệ An, khiến cho quân giặc kinh sợ ngờ vực, không dám vét hết quân ra Bắc Hà vào cứu viện, như thế thì thành Quy Nhơn bị cô lập, sớm chiều hẳn vỡ. Đó là cái kế của Hán Cao tổ lưu Hạng Vũ vài tháng để được vạn toàn”. Bèn cho bọn Thụy áo mũ đều một bộ, 400 quan tiền, 1.000 đồng bạc Phiên [Tây]. Bọn Thụy từ tạ ra đi, dùng người Chân Lạp là ốc Nha Bô Dịch Lạch làm hướng đạo, bắt đầu đi từ bến Tầm Bông Me (địa đầu nước Chân Lạp), qua Khu Khảng đến U Bôn (địa đầu Vạn Tượng). Bọn tù trưởng Man đều hưởng ứng. Người Man Khu Khảng lại sai sứ là Khôn Thiêm Man Tôn đến cống (2 thớt voi đực, 6 tòa tê giác).

    Tháng 5, quân ta tiến sát thành Quy Nhơn.

    Ngự giá đến bảo Lãnh Vạn chia sai quân hai dinh Hậu quân và Hữu quân đóng đồn phía đông bắc, quân 2 dinh Tiền quân và Tiên phong đóng đồn phía đông nam, đều theo Võ Tánh điều bát, tùy cơ đánh tiễu. Vua thân cầm quân binh tiến đóng ở Tân Quan, phái thêm Phó tướng Tả quân là Nguyễn Công Thái và Nguyễn Đình Đắc, Chánh phó thống Hậu đồn quân Thần sách là Tống Viết Phước và Phan Văn Kỳ đóng đồn từ Cung Quăng đến Sa Lung, để phòng quân giặc vào tiếp viện.

    Giặc đánh vào bảo Sa Yển. Quân Xiêm của đạo Tiền quân rút lui. Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên đem quân và voi xông vào trận giặc, đạn bay trúng trán Xuyên, Xuyên liền bọc vết thương rồi lại đánh. Giặc thua chạy. Bắt được hơn 20 thớt voi. Giặc lại đánh vào bảo Phước Hậu. [Quân ta] lại đánh vỡ, bắt được và chém chết rất nhiều. Tin thắng trận báo lên. Vua thưởng cho Xuyên 600 quan tiền, cho tướng sĩ 4.000 quan.

    Sai Phó tướng Tả quân Nguyễn Công Thái gọi họp đội binh((1) Đời Tây Sơn đổi ấp làm đội, biến dân làm binh. 1) các xã ba thuộc huyện Tuy Viễn để theo việc quân.

    Lấy Thư ký Phạm Xuân Quang làm Tham mưu dinh Hậu quân, Thư ký điển quân Trần Quang Thái và Tham luận Bùi Văn Định theo lệ năm

    Bính thìn mà thu thuế ruộng ở huyện Tuy Viễn, Phù Ly và Bồng Sơn.

    Đặt quan công đường dinh Phú Yên, lấy Hiệu úy Tả chi Trung quân là Hồ Đức Vạn làm Lưu thủ, Trần Minh Đức làm Cai bạ, Võ Đức Thông làm Ký lục (Đức Thông là người Phú Yên).

    Lấy Phó vệ úy vệ Ban trực hữu Hữu đồn quân Thần sách là Nguyễn Văn Uy làm Vệ úy, Cai đội Nguyễn Văn Đăng làm Phó vệ úy, hàng tướng là Đô úy Phạm Văn Chất làm Phó vệ úy vệ Uy võ, Đô úy Nguyễn Văn Trí quản vệ Tín uy.

    Tháng 6, Nguyễn Văn Thành đem quân qua sông Đào Lô [Lò gốm?], đánh cướp bảo Ưu Đàm của giặc. Lại sai Phó tướng Trương Tiến Bảo và các chi dinh Tiên phong tiến đánh giặc ở An Giá và Ngạc Đàm (đều là tên đất), đều đánh tan, giặc bỏ bảo chạy.

    Tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đến Quảng Ngãi, nghe quân ta đã giữ Tân Quan, liền bỏ thuyền lên bộ để tiến, có mấy vạn quân, cuốn đất mà đến. Vua lo số quân ta ít, mật khiến lui một ít. Lê Văn Duyệt và Tống Viết Phước đều nói: “Hai người chúng tôi ở đây, giặc không đủ phải lo!”. Rồi đó Diệu ở phía ngoài núi Thạch Tân [Bến Đá] giả làm thanh thế; Dũng thì đem đồ đảng từ Chông Hàm (tên đất) đi tắt mà xuống, toan đánh úp quân ta. Ban đêm lội qua khe nhỏ, trong rừng có một con nai chạy ra, người đi trước trông thấy kêu to lên rằng : “Nai!” Những người sau hoảng hốt kêu chuyền rằng : “Quân Đồng Nai” (Tục gọi lộc là nai, bọn giặc thường gọi quân ta là quân Đồng Nai, Lộc Dã tức Đồng Nai, thuộc Trấn Biên mà người ta gọi chung đất Gia Định là Đồng Nai, cho nên người Thanh cũng nhân tiếng thổ âm của ta mà gọi Gia Định là Nông Nại, tức na ná với Đồng Nai). Quân giặc đều sợ chạy cả, rơi vào hang hố rất nhiều. Viết Phước biết giặc sợ đêm, tự đem quân vài trăm người đuổi. Giặc cả vỡ, dày đạp lẫn nhau mà chết. Bắt được quân lính và khí giới không xiết kể. Tin thắng trận báo lên. Vua khen rằng: “Làm tướng phải nên như thế”. Thưởng cho Phước 3.000 quan tiền.

    Vua thấy những quân giặc bị bắt có người đội mũ mo cau thì hỏi. Họ đều trả lời rằng đó là nón của người đi đường, Vũ Văn Dũng bắt chước dùng làm nón cho quân. Bèn sai đưa tù binh đến cho Võ Tánh để cho giặc biết. Trong thành trông thấy đều mất vía.

    Sai Phó vệ úy vệ Túc trực là Nguyễn Văn Khiêm đem binh thuyền 20 chiếc tiến đánh thủy binh của giặc ở cửa biển Mỹ ý(1. Tức Mỹ á.1) (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), phá được, đuổi đến Sa Kỳ rồi trở về.

    Ngự giá đến Thạch Tân. Tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng lui quân đến đất Thanh Hảo. Bọn Kiểm điểm giặc Trần Viết Kết lại từ Thuận Hóa đem chiến thuyền đến họp. Vua bảo các tướng rằng : Võ Văn Dũng của giặc ra trấn Bắc Hà vốn đã nổi tiếng, nay bị quân ta đánh thua, không khỏi căm thẹn, thế nào cũng mưu đồ cách khác. Nhưng hắn dùng thủy quân hay đi đường thượng đạo cũng chưa biết được. Phải nên phòng bị nghiêm cẩn để chờ”. Bèn sai Phan Văn Kỳ quản hai vệ Tuyển phong hữu và Dương võ để giữ bảo Chông Hàm, Tống Viết Phước quản mười một vệ Hữu đồn và Tiền đồn, chia đi chiến thuyền đậu ở ngoài biển Mân Khê (tên đầm) để ngăn thủy binh của giặc.

    Quản vệ Phấn dực là Tống Phước Lương đánh phá được thống binh giặc biển Tề Ngôi là Phàn Văn Tài ở cửa biển Kim Bồng, đuổi đến Phú Yên lại đánh được,

    Trước là Tây Sơn chiêu nạp bọn đầu sỏ giặc biển, trao cho chức thống binh, muốn lợi dụng cái nghề thủy chiến của họ để chống quân ta, đến đây bị quân ta đánh thua, thế giặc thêm nhụt.

    Võ Tánh đánh phá được Thái phủ giặc là Lê Văn Ứng. Trước là Ứng nghe tin viện binh giặc đến, liền đem 6.000 quân tinh nhuệ và hơn 50 thớt voi, mưu đến ấp Tây Sơn Thượng thu chở quân lương để làm thế dựa nhau.:rose: