039. Trang [0423-0434] - @Chjrjdo (done)

31/10/15
039. Trang [0423-0434] - @Chjrjdo (done)
  • Mùa đông tháng 10, sai bốn dinh Gia Định và Bình Khang, Bình Thuận thu trước thuế năm Tân dậu.

    Võ Tánh mật sai người thân tín mang tờ biểu lén đến đánh tại. Vua lại sai thám từ lẻn vào trong thành thăm hỏi tướng sĩ; mọi người đều cảm động phấn khởi, nguyện xin ra sức liều chết.

    Đặt năm chi bình trấn thành Gia Định và binh hùng trấn ở bốn dinh, mỗi dinh một chi. Đông cung Cảnh thấy xa giá đi đánh giặc, binh các dinh Gia Định đều điều đi cả, xin lập thêm chi binh, chiêu mộ những quân trốn và những dân ngoại tịch bổ vào cho đủ canh giữ. Vua y cho. Rồi đó, dinh Vĩnh Trấn lấy cả những người dân chưa đến 18 tuổi, dân phần nhiều không chịu nổi. Đông cung nghe tin quở trách, ra lệnh phải theo ý nguyện của dân, không được làm sợ hãi.

    Sai Phạm Văn Nhân lường phái binh Thần sách giữ bảo núi Mã Cảnh [Cổ Ngựa]. Răn không được tự tiện bỏ bảo sở mà đi quấy nhiễu nhân dân. Làm trái thì chém bêu đầu cho mọi người biết.

    Bình Thuận bị bão. Phó tướng Hữu quân Nguyễn Văn Lợi coi chở tiền gạo ở Gia Định vừa đến vũng Ma Vằn thì thuyền bị úp đắm hết (mất hơn 1 vạn quan tiền và hơn 4 vạn phương gạo). Quân chở chết đuối hơn 100 người. Lợi dâng sớ xin chịu tội. Vua cho là sức người không thể cản nổi, nên đặt cách tha cho.

    Dinh thần Bình Khang dâng biểu xin lấy gạo thị nạp của bảy sách người Đê ở Đồng Hương là 10.000 phương để giúp quân nhu. Vua cho là được, hạ lệnh cho Tham tri Hình bộ Phạm Như Đăng và Thiêm sự Hộ bộ Hồ Thế Học hội làm. Nhưng thấy sách Cà Tuân rối động lại thôi.

    Quản dinh Tiên phong là Nguyễn Văn Tánh bệnh khỏi. Sai đem thuộc quân và ba đội Tả vệ, Hữu vệ và Hoàng kiếm đi giữ bảo La Thai, kiêm làm việc vận chở lương thực.

    Vua thấy quân ta cầm cự với giặc, quân nhu đương khẩn cấp, bèn sai Lưu thủ Lưu Tiến Hòa đến dinh Bình Thuận quản các quan công đường và chánh phó trấn Thuận Thành để đốc thu thuế và gạo thị nạp mà chở nộp. Dụ rằng làm thế nào cho có thêm lương thì cứ tiện nghi mà làm, không bó buộc theo lệ thường. Hòa đến Bình Thuận, dâng sớ xin quyền thu gạo thị nạp ở các nhà giàu và dân biệt nạp biệt tính. Dinh thần Bình Khang cũng xin như thế. Vua đều y cho (số gạo thị nạp ở Bình Thuận hơn 6.700 phương, ở Bình Khang hơn 6.500 phương).

    Lấy Khâm sai cai cơ Tiền dinh quân Thần sách là Lê Văn Ân làm Phó vệ úy vệ Long võ, Phó vệ úy vệ Diệu võ Tả dinh là Lê Văn Phong làm Vệ úy, Cai đội Nguyễn Văn Thống làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Định võ là Võ Thành Văn làm Vệ úy, Khâm sai cai đội Trần Văn Khoa làm Phó vệ úy, Cai đội Nguyễn Văn Thuận làm Phó vệ úy vệ Tuyển phong hữu, Phó trưởng chi Trung chi Kiến võ dinh Tiên phong là Trương Văn Chinh làm Chánh trưởng chi, Khâm sai cai cơ Nguyễn Văn Hậu làm Phó trưởng chi, Phó vệ úy vệ Nhuệ võ là Phạm Văn Quế làm Chánh trưởng chi Tiền chi Tráng võ, Khâm sai cai cơ Lê Văn Ngoạn làm Phó trưởng chi, Khâm sai cai cơ Cao Văn Lai làm Chánh trưởng chi Hậu chi Dực võ, Nguyễn Văn Hóa làm Phó trưởng chi, Khâm sai cai cơ Nguyễn Văn Phú làm Chánh vệ vệ Nhuệ võ, Nguyễn Văn Toán và Nguyễn Văn Dụ làm Phó vệ.

    Tháng 11, Ký lục Vĩnh Trấn là Nguyễn Tiến Bảo chết; lấy Hàn lâm viện Hoàng Kim Điềm làm Ký lục Vĩnh Trấn.

    Lấy Phó vệ úy vệ Túc võ Hữu dinh Thần sách là Trần Văn Phương làm Vệ úy vệ Võ uy, Chánh trưởng chi Tiền chi Tả đồn quân Ngự lâm là Võ Đình Duyên làm Chánh trưởng chi Trung chi, Trưởng hiệu Hồ Văn Uẩn làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Tiền chi Ngô Văn Vĩnh làm Chánh trưởng chi, Trưởng hiệu Hồ Văn Đức làm Phó trưởng chi, Trưởng hiệu Tả chi Man Đức Diên làm Phó trưởng chi, Chánh trưởng chi Trung chi Mai Gia Cương làm Chánh trưởng chi Hữu chi, Trưởng hiệu Trần Đức Bành làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Hậu chi Lương Văn Trạc làm Chánh trưởng chi, Trưởng hiệu Nguyễn Văn Chấn làm Phó trưởng chi, Trưởng hiệu Nguyễn Văn Tam và Nguyễn Văn Đoạt làm Phó vệ úy vệ Hưng võ, Phó vệ vệ Hoằng Vĩ Hữu quân là Lê Văn Minh làm Phó trưởng chi Tiền chi Phó vệ vệ Võ dũng là Lê Văn Do làm Chánh trưởng chi Hữu chi.

    Cai bạ Phú Yên là Trần Minh Đức ốm, sai Tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh hiệp cùng Lưu thủ và Ký lục tạm hành công việc công đường, trông nom các việc tiền thóc. Nhân Tĩnh dâng sớ xin theo số người biệt nạp biệt tính trong sổ đinh để quyền thu gạo lương giúp (hơn 15.800 phương). Vua y lời tâu, lại hạ lệnh thu thêm tô ruộng giúp, theo số chính cung mà thu.

    Sai Khâm sai cai cơ Phan Văn Tự giữ đường Hà Nghiêu. Hà Nghiêu là nơi núi khe hiểm trở, đường ngoặt nghèo như ruột dê, nhiều ngã đi thông, bọn gián điệp giặc thường qua lại ở đó, cho nên hạ lệnh nghiêm phòng.

    Nguyễn Văn Thành đánh bảo Chủ Sơn của giặc, mãi không phá được, sai người lấy người Man dẫn đường, dò được đường tắt ở phía tây nam có thể đánh úp vào lưng giặc, bèn vẽ địa hình rồi dâng biểu xin thêm quân để họp đánh. Vua xem biểu, mừng nói: “Quân giặc ở trong mắt ta rồi”. Tức thì sai Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt đều đem quân bản dinh và kiêm lãnh tướng sĩ Hữu dinh và Tiền dinh, tiến đến Thị Dã theo tiết chế của Thành; dụ cho Nguyễn Hoàng Đức và Mai Đức Nghị ở đạo Cù Mông sắp quân để chờ. Lại sai Lê Chất đi La Thai quản lãnh ba đội Tả vệ, Hữu vệ và Hoàng kiếm, sai Nguyễn Văn Tánh đem quân sở thuộc, đều đến quân thứ Thị Dã theo đánh giặc ; Phạm Tiến Tuấn thì thay giữ bảo La Thai, làm việc lương.

    Quân bọn Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt đến Thị Dã. Nguyễn Văn Thành sai Duyệt giữ bảo làm chính binh, tự mình đem các đạo quân làm kỳ binh đêm theo đường tắt vượt núi Bọt Khê, nhân mưa dầm xuyên qua Đăng Trại [Trại Đèn], quanh ra phía sau giặc, phóng lửa đốt trại sách. Giặc thảng thốt quay đánh. Duyệt huy động quân tiến sát trước bảo. Đầu và đuôi giáp đánh. Giặc vỡ chạy vào Kỳ Nguyên. Các quân thừa thắng đều tiến, đánh chém được đô đốc giặc là Hoan (không rõ họ), đuổi đến Tuần Dã [Đồng Tuần]. Tướng làm phản là Từ Văn Chiêu quay quân chống cự, quân tiền đạo ta hơi lùi. Thành và Duyệt tức thì đốc suất quân và voi sấn lại đón đánh, phá được. Chiêu thoát chạy. Đô đốc giặc Nguyễn Đức Thu đem thuộc hạ hơn 20 người ra hàng. Quân ta thu bắt được voi ngựa súng ống khí giới, giết và đánh bị thương nhiều không xiết kể. Tin thắng trận báo lên. Vua rất khen ngợi, tuyên dụ để ủy lạo, thưởng cho các quân 5.000 quan tiền, 200 đồng bạc tây, thưởng người Man dẫn đường 5 cái áo gấm, 3 tấm nhiễu, 5 tấm vải màu, và mắm muối các vật. Trong trận này Thành và Duyệt đều cắm cờ tướng trên bành voi mà chỉ huy các quân. Thành vốn thích rượu, sắp ra trận thì đem bầu ra tự rót uống, rót một chén đưa cho Duyệt. Duyệt không chịu uống, Thành cố ép nói: “Nay trời lạnh, uống một chén cho mạnh thêm lên!”. Duyệt nói: “Ai yếu nhát mới phải mượn rượu. Còn tôi thì trước mắt không thấy có giặc nào mạnh, cần gì đến rượu”. Thành có vẻ xấu hổ, do đó căm Duyệt.

    Nguyễn Văn Thành tiến quân đến Trường Dã [Đồng Dài], sai Tống Viết Phước đánh giặc ở núi Yên Tượng, lấy luôn được bốn bảo. Lại đánh các bảo Sinh Đàm và Sơn Trà của giặc, đều phá được. Do đó từ núi Lệ Thạch đến Hoa An, Hoa Lộc, quân giặc đều bỏ bảo, đêm trốn đi. Bộ binh ta hai đường liên lạc với nhau, bèn chia đặt đồn trại ở Lạp Quán và Vân Sơn.

    Sai hàng tướng là Nguyễn Đức Thu theo Nguyễn Đức Xuyên sai phái đánh giặc. (Thu là em của Đức Xuyên). Bọn làm phản ở Hữu đồn quân Ngự lâm là Trưởng hiệu Võ Văn Tục và Cai đội Nguyễn Văn Pháp (đô ty cũ của giặc) đều bị bắt tại trận tiền. Vua cho là chức bé nhỏ không thèm giết, tha cho về làng.

    Vua thấy trong bọn hàng tướng nhiều người trốn làm phản, duy Lê Chất bền lòng quy thuận, không như bọn kia, cho tiểu sai đi trạm đến quân thứ để thăm hỏi ; mẹ già và vợ con Chất ở Gia Định thì dụ cho lưu trấn thần thăm hỏi và cấp tiền lương nuôi nấng.

    Sai Thống chế Tả đồn quân Ngự lâm là Võ Đình Giai đem quân bản đồn theo Lê Văn Duyệt sai bát đánh giặc.

    Ra lệnh cấm các quân không được tự tiện giết người. Dụ Nguyễn Văn Thành và các tướng rằng : “Phép binh cốt ở uy nghiêm, trị nước cốt ở nhân thứ, cho nên vương giả dụng binh chỉ cần dẹp yên giặc cho dân yên nghiệp làm ăn, ra trận phải chém giết là bất đắc dĩ. Nay quân và dân trong hạt Quy Nhơn không biết lẽ thuận nghịch mà chống cự quân ta, chẳng qua chỉ vì một hai đứa đầu sỏ làm mê hoặc mà đến thế thôi. Bọn khanh nên thể lòng ta, nghiêm răn tướng sĩ, phàm đối trận đánh nhau mới được chém giết, bằng sau trận bắt được thì không được giết bậy một người nào. Còn như quân đến đâu hoặc phóng lửa hiệu để cho trong thành ứng theo thì cũng đốt ở nơi rừng rú vắng người, không được đốt phá nhà dân, để cho quan dân đều được yên lành. Làm trái thì lấy quân pháp trừng trị.

    Lại bộ Nguyễn Bảo Trí chết. Cho 2 cây gấm Tống, 300 quan tiền, sai con là Huấn đạo Nguyễn Bảo Bang đưa tang về Gia Định. Sắc cho bọn Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Tử Châu rằng phàm chi phí về việc tang đều lấy của công mà hậu cấp.

    Lưu thủ Trấn Biên là Nguyễn Đức Giảng có tội bị giết. Trước là các sách Man ở Trấn Biên quy phục, Giảng phụng mệnh đi vỗ về yêu sách quá chừng, dân Man khổ quá làm phản, đánh úp Giảng, Giảng thua chạy. Lưu trấn thần bắt Giảng bỏ ngục, tịch biên gia sản rồi đem tội trạng tâu lên. Vua sai giết, và dụ các sách Man rằng: “Triều đình thấy dân Man không yên, nên sai quan đến vỗ về. Giảng không tuyên dương đức hóa của triều đình, chỉ cầu lấy lời, vốn là cố tội. Nhưng dân Man các ngươi lại không đến tố cáo với triều đình, dám nổi lên làm loạn, thì tội ấy cũng đáng giết. Nay tạm xem là vì hoảng hốt mà tha thứ cho. Phạm kẻ nào bắt được những khí giới tài vật của nhà nước tức thì phải đem nộp trả. Nếu không tuân mệnh thì giết không tha”. Dụ đến, dân Man lại yên. Bèn lấy Khâm sai thống binh cai cơ trưởng chi Tả quân là Võ Tiến Đẩu làm Lưu thủ Trấn Biên.

    Ty Chiêm hậu dâng sớ nói : “Tháng giêng đầu năm có lệ chọn ngày tốt để ra quân. Xét từ ngày 15 về trước chỉ có ngày Kỷ mùi mồng 6 là tốt hơn cả, nhưng lại hiềm có lục hại nên chưa dám quyết”.

    Vua sai truyền dụ cho Lưu trấn thần Gia Định rằng: “Việc xuất quân là rất quan trọng, bằng chưa xuất quân thì ngày khánh tiết Vạn thọ không dám nổ súng, như thế sao cho thành lễ. Vả ngày lục hại((1) Lục hại: Hiệp kỷ biện phương có nói: Lục hại là bất hòa như Dần dữ Tỵ hại. Mão dữ Thìn hại và Tý dữ Mùi hại.) là tý hại mùi. Nay Đông cung làm chủ tướng, tướng mệnh ở tý thì có ngại gì. Cứ dùng ngày ấy ra quân, đừng câu nệ quá. Còn như các việc tiến lịch và ban lịch thì cứ chiếu lệ mà làm”.

    Tháng 12, lại sai Binh bộ Nguyễn Đức Thiện tới dinh Phú Yên quản quan công đường để đốc làm các công việc trưng thu tô thuế và vận chở quân lương. Vua nghe tin các đạo quân do Nguyễn Hoàng Đức quản và quân Chân Lạp nhiều người đi cướp bóc, dân chúng không được yên, dụ rằng: “Đương lúc can qua vội vã, nhiều việc không tiện cho dân, cho nên triều đình lập quân chính để răn sĩ tốt. Tất phải có lệnh thì làm, đã cấm thì thôi, đến đâu cũng không xâm phạm mảy may của dân, mới là quân của vương giả. Nếu ở chốn này không biết nghiêm cấm, thì chốn khác nghe tin, trong lòng ngờ sợ. Tuy có chỉ dụ mà xem là lời suông thì lấy gì mà tin được. Vậy từ nay nên đem lòng xem xét kỹ lưỡng, kẻ nào trái phép thì trị bằng quân pháp, cho thỏa lòng mong mỏi của dân”.

    Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Tôn Thọ Vinh chết. Cho một cây gấm Tống và sai dinh thần Phú Yên chi tiền kho để biện việc tang.

    Sai Phạm Văn Nhân đem quân sở thuộc và vệ Cung võ giữ bảo Lão Mác, Nguyễn Hoàng Đức rút quân ở bảo Lữ Quán về, chia bắt các đạo bắc cầu Tuần Giang để thông đường chở lương, tiện việc quân báo.

    Thống chế Tả đồn quân Ngự lâm là Võ Đình Giai ốm; lấy chánh trưởng chi Trung chi là Võ Đình Duyên tạm Lãnh quân, theo Lê Văn Duyệt đánh giặc.

    Vua cho rằng thuyền đánh cá đi biển rất nhanh tiện, sắc cho Gia Định và Bình Thuận phàm những thuyền đánh cá trong hạt chở được 70 phương gạo trở lên đều cho xếp gạo lương đợi khi tiện gió thì chở đến quân thứ, thuyền nào đến trước thì được thưởng công. Từ đó mọi người đều lo cố gắng, lương quân không thiếu.

    Quân giặc đánh bảo Ngũ thần vệ của Tả quân. Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên đem quân và voi đáp úp sau lưng giặc, bắt được hơn trăm người. Giặc lại phạm bảo Hữu dinh, Vệ úy Hùng uy là Trần Đại Luật và Vệ úy Hùng dũng là Nguyễn Tiến Lộc đem quân tiếp chiến, giặc thua to.

    Thành Bình Định bị vây lâu chưa giải được, mà cửa biển Thị Nại thì giặc đóng giữ thêm vững. Vua thường buồn bực không vui, than rằng : “Trời chưa muốn diệt giặc Tây Sơn chăng! Sao để cho tướng giỏi của ta bị khốn mãi ở đây!”. Bàn dùng kế hỏa công: Sai các quân lấy nhựa trám rưới vào củi và chứa vào hơn 20 chiếc thuyền con, đầu thuyền đều đóng đinh sắt, để chờ tiến đánh ; trước tiên đi thuyền vào giữa giặc, lấy móc câu móc thuyền của chúng rồi phóng lửa đốt. Hỏi các tướng, ai có thể làm việc này. Tống Viết Phước xin đi. Vua sắp y cho, mật báo với Nguyễn Văn Thành rằng: “Đó là chữ hỏa ở trong bàn tay ta”((1) Chiến thuật của Khổng Minh và Chu Du bàn tính trong cuộc đánh trận hỏa công ở Xích Bích với Tào Thái. Khi bàn thì Chu Du và Khổng Minh mỗi người viết chữ “hỏa” ở trong bàn tay rồi chìa ra. (Xem Tam quốc chí diễn nghĩa).1). Lại hạ lệnh ban đêm bày bộ binh làm ra vẻ cướp trại, khiến giặc không để ý đến mặt thủy. Thành mật báo cho Nguyễn Đức Xuyên. Vừa Xuyên bị ốm, có người quản đội Tiểu sai là Nguyễn Cửu Kỷ đem cho nhân sâm vua ban, Xuyên bảo Kỷ rằng: “Ta nghe chúa thượng muốn dùng hỏa công, Tống Viết Phước xin đi. Theo ý kiến của Xuyên, thì Phước dẫu dũng nhưng phải cái vội tiến, Lê Văn Duyệt thì dũng mà có mưu, nếu sai Duyệt đi thì việc chắc thành công”. Kỷ về tâu vua, vua bèn triệu Duyệt đến hành tại.

    Nguyễn Đức Xuyên dâng sớ nói: “Vệ úy vệ Hùng võ là Phan Công Nghĩa, vì quân tình không phục, xin cho phó vệ úy Võ Văn Giáo thay”. Vua y cho.

    Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Mai Đức Nghị chết. Sai đưa về Gia Định hậu táng. Trước kia Đức Nghị theo xa giá sang Xiêm, trong lúc bôn ba, bọn tòng thần như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt nói năng hành động có nhiều điều không giữ lễ độ, Đức Nghị ở sau thuyền, mình mặc áo rách mà lui tới vâng thưa, chưa từng thất lễ. Vua rất qúy trọng. Kịp khi lấy lại thiên hạ, vua từng dụ bảo hoàng tử thứ tư rằng : “Trước kia ta còn bôn ba, những bề tôi theo hầu lắm kẻ hoảng hốt nhầm lẫn, duy một mình Đức Nghị là giữ được lễ độ, không vì điên bái((2) Điên bái: nghiêng chúc xuống (điên: ngã nhào, bái: thịnh lớn)2) vội vàng mà đổi thái độ của mình.

    Thời xưa Triệu Tương Tử bàn việc thưởng công cho những người có dự trận Tấn Dương((3) Tương Tử nước Triệu (đời Xuân Thu) bị Trí Bá đánh phải chạy ra Tấn Dương. Sau giết được Trí Bá ở Tấn Dương (Tư trị thông giám, quyển I, “Chu kỷ”).3) thì cho Cao Hách là bực nhất. Trương Mạnh Đàm nói: “Cao Hách ở trong thành bị vây, chửa nghe thấy có bày được một chước gì hay làm được một việc gì, mà chiếm công đầu, nhận thưởng lớn, tôi trộm không hiểu”. Tương Tử nói: “Ta trong khi khốn ách, nhiều người hoảng hốt nhầm lẫn, chỉ một mình Cao Hách cử động kính cẩn, không mất cái lễ độ của người bề tôi. Công lao thì cần ở ngày nay, mà lễ độ thì để lại muôn đời, như thế thì Cao Hách được phần thưởng trên chẳng là đáng sao?”. Nay Đức Nghị một lòng cẩn trọng, không kém gì Cao Hách, ta rất qúy”. (Đức Nghị là người Hương Trà, năm Minh Mệnh thứ 5 được tòng tự ở Thế Miếu, Năm thứ 12 được phong Vĩnh Lại hầu).

    Sai Cai cơ Ngô Văn Hiến đem đội Toàn thắng ra đóng giữ miền thượng đạo Hưng Phước để thu thuế người Man.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển XIII - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Tân dậu, năm thứ 22 [1801] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 6), mùa xuân, tháng giêng, vua dừng ở hành tại Hòn Nan. Ban phát quân phục cho các quân.

    Lấy Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Hoàng Viết Toản làm Đô thống chế Hậu dinh, Phó vệ úy vệ Long võ Tiền dinh là Trần Văn Bảo làm Vệ úy, Cai đội Trần Văn Khánh làm Phó vệ úy, Phó vệ úy vệ Phấn võ là Võ Văn Kiên làm Vệ úy, Cai đội Nguyễn Văn Điểm là Phó vệ úy, Cai đội vệ Dương võ Tả dinh là Trương Công Thuyên làm Phó vệ úy.

    Sai Chưởng tiền quân Nguyễn Văn thành tiết chế bộ binh các đạo. Vua dụ Thành rằng: “Mới đây đại binh từ Thị Dã tiến đánh trèo non vượt biển, đướng sá cách trở, sợ khó quản cố được hết, nên đặc biệt hạ chỉ cho Tống Viết Phước và Lê Văn Duyệt kiêm lĩnh hai dinh Tiền và Hữu để cho có thống thuộc. Nay lũy giặc đã san bằng, các đạo đã liên lạc được, nếu quyền chỉ huy không có chuyên trách, hiệu lệnh không thống nhất, thì các quân vâng lệnh ở đâu? Từ nay về sau bốn dinh Trung Tiền Hữu Hậu đến đem quân sở bộ theo quyền tiết chế của khanh, Tống Viết Phước không được kiêm lĩnh như trước nữa. Lại như quân đạo Cù Mông trước là ủy cho Nguyễn Hoàng Đức một mình cáng đáng một mặt, nay địa thế đã nối liền, cũng cho khanh điều độ cả. Còn như việc phân phái đánh giữ thì nên điều bát tướng sĩ toàn dinh, chớ nên lẻ tẻ. Kẻ nào trái mệnh lệnh thì xử ngay theo quân pháp”. Lại dụ Nguyễn Hoàng Đức rằng: “Khanh là cựu tướng lão thành, triều đình vốn trông cậy. Nhưng nay quyền tiết chế bộ binh đã chuyên ủy cho Nguyễn Văn Thành, vậy từ sau có sự điều khiển thì khanh nên lấy Xã Tắc làm trọng mà nghe theo, chớ nên để ý đến chỗ kẻ cao
    người thấp”.

    Giặc vây thành Bình Định mấy vòng. Võ Tánh thừa ban đêm mở cửa đông ra ập đánh, đốt trại giặc cháy liền chừng một dặm. Quân giặc sợ lùi, sáng sớm lại họp thêm quân vây thành. Tin thám tử báo lên. Vua dụ Nguyễn Văn Thành rằng : “Đại binh tiến đánh đã lâu năm, tướng quân đánh luôn được luôn, nhưng sau đó lại dừng quân thì nó có thể được dịp mà đắp thành cao đào hào sâu để tự vệ. Lấy đó mà nghiệm, thì ta không sợ không thắng, chỉ sợ không chịu đánh thôi. Nay trong thành dám xông vây ra đánh là trông cậy có quân ta ngoại viện. Nếu ta cứ dừng quân mãi thì trong ngoài cách hẳn, nhân tâm tất là chờ ngóng. Tướng quân nên nhắm cơ hội mà tiến đánh để giải khổ cho tướng sĩ trong thành, thỏa tấm lòng gần xa quy phụ. Cái công bình định trông cả vào tướng quân. Ta lại chỉnh bị thủy binh để đợi. Nên sớm liệu đi”. Lại sai ghi tên những tướng của giặc bắt được đưa về hành tại để tùy tài lục dụng.

    Bãi bỏ sưu ruộng ở Phú Yên. Trước kia quân ta mới đến Phú Yên, dân phần nhiều sợ hãi tản đi, việc khiêng chở quân lương không đủ, bọn lưu thủ Phạm Tiến Tuấn, chiếu theo số đinh số điền bắt phu kể hàng vạn, dân mệt nhọc về vận chuyển, trốn tránh ngày càng nhiều. Vua nghe tin quở rằng: “Đã bắt phu theo người, lại bắt phu theo ruộng thì người ta chịu sao nổi?” Bèn hạ lệnh bãi đi, khiến chỉ căn cứ vào sổ đinh, trừ những người đã giúp gạo và những người phu trạm, còn chỉ được bắt đến 2.000 người phu đài tải là cùng, ngoài số ấy thì thay phiên, để cho dân được thư.

    Cấp tiền cho tướng sĩ các quân bị thương ở mặt trận lưu dưỡng ở Phú Yên, theo thứ bực khác nhau (Phó vệ 5 quan, cai đội 3 quan, phó đội 2 quan, lính 1 quan).

    Tham mưu Hậu quân là Trần Quang Thái quản đem binh các chi vệ Hậu quân lưu cư ở Gia Định đến quân thứ cho lệ theo Nguyễn Đức Xuyên đánh giặc.

    Tả tham tri Binh bộ là Trần Phúc Tuy chết.

    Cho Cao La Hâm Sâm người Chân Lạp 100 quan tiền.

    Thủy quân cả phá quân giặc ở cửa Thị Nại. Trước là Tư đồ giặc Võ Văn Dũng dùng hai chiếc thuyền đại hiệu Định quốc và hơn trăm chiếc thuyền chiến chặn đóng ngang cửa biển, lại dựng hai bảo ở bãi Nhạn Châu bên tả và ở núi Tam Tòa bên hữu cửa biển, đặt nhiều súng lớn, dựa thế cao chẹn chỗ hiểm để chống quân ta. Đến đây các quân làm xong chiến cụ hỏa công, vua mật định đêm hôm 16 cất quân đánh úp. Sai Tiền chi Hoàng Văn Khánh đem bộ binh lẻn xuống Da áo [Vũng Dừa], chờ khi hiệu lửa ở Tiêu Cơ phát thì đánh hãm lũy giặc, đặt mai phục ở sau núi để ngăn giặc. Lưu Phạm Văn Nhân giữ Cù Mông. Vua bèn thân đem thủy quân tiến phát. Trống canh ba qua Tiêu Cơ, bắt được lính đi tuần của giặc, biết được khẩu hiệu, tức thì sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phước Lương dùng thuyền nhỏ lẻn trước vào Hổ Cơ đốt đồn thủy của giặc. Lại sai Võ Di Nguy đi thuyền chấp lệnh thẳng tiến, Lê Văn Duyệt đốc quân tiếp theo. Giặc giữ bảo cự chiến, từ giờ dần đến giờ ngọ, tiếng súng vang trời, đạn bay như mưa. Di Nguy bị bắn chết. Duyệt cứ mặc kệ, càng thúc đánh hăng. Vua thấy sĩ tốt nhiều người tử thương, cho tiểu sai đến dụ cho tam lui. Duyệt thề chết, vẫy quân xông lên, giờ thân vào được cửa biển, dùng đuốc hỏa chiến thừa chiều gió phóng đánh thuyền đại hiệu của giặc. Quân Tây Sơn cả vỡ, chết rất nhiều. Dũng thua chạy. Thuyền Tây Sơn bị đốt cháy gần hết. Quân ta bèn giữ cửa Thị Nại. Người ta khen trận này là võ công to nhất. (Di Nguy người Phú Vang, năm Minh Mệnh thứ 1 được tòng tự ở Thế Miếu, năm thứ 12 phong Bình Giang quận công).

    Nguyễn Văn Thành nghe tin thắng trận, sai bộ binh các đạo chia đánh các đồn giặc ở Vân Sơn và Phú Trung. Nguyễn Đức Xuyên chém được đô đốc giặc tại trận là Nguyễn Hạch, bắt được 2 thớt voi và súng ống khí giới vô kể.

    Vua dừng ở trấn Thị Nại, sai phi báo tin thắng trận cho Gia Định, Phú Yên, Bình Khang và Bình Thuận đều biết; lại sai Lưu trấn thần ở Gia Định viết thư báo tin cho các nước Xiêm La và Chân Lạp.

    Nhân dân Bình Định nghe tin Thị Nại đã vỡ, sợ hãi chạy trốn.

    Vua dụ rằng: “Một năm nay bọn giặc tàn ngược, dân bị lầm than. Ta sở dĩ dấy quân là vì trăm họ, không phải là thích dụng binh mà cốt là để yên dân. Các ngươi cứ yên đừng sợ. Nếu quan quân có quấy nhiễu cướp bóc, cho các ngươi đến tố cáo, sẽ theo quân pháp trị tội ngay”.

    Mật sai cai đội Lê Văn Bản đến hai vũng Nam Bắc ngắm địa thế mà đặt đồn thủ để ngày đêm tuần xét, có gì gấp thì báo ngay.

    Tướng giặc Võ Văn Dũng đã thua, thu nhặt tàn quân hợp lại với Trần Quang Diệu, rồi sai Tư khấu Định giữ Thạch Tân, đô đốc Nguyễn Văn Ngũ giữ Đạm Thủy [Nước ngọt], đô đốc Võ Văn Sự giữ Tân Quan, để đề phòng quân ta tập hậu, lại phao ngôn là thề quân hẹn hết sức đánh thành.

    Vua được tin, sai người lẻn vào trong thành dụ Võ Tánh và Ngô Tòng Chu rằng: “Quân ta đánh úp được Thị Nại, bao nhiêu thuyền ghe của giặc đã thành tro tàn. Nay thế nó đã cùng, tất sẽ cắn lại. Bọn khanh nên khuyến khích quân lính, phòng bị nghiêm nhặt thêm, chớ vì thắng mà kiêu, chớ thấy lâu mà nản, chờ ta thừa cơ tính liệu, quyết một trận để thông với thành. Nên cố gắng lên”.

    Ghi công các tướng sĩ trận vong ở Thị Nại. Tặng Võ Di Nguy 2 cây gấm Tống, 2 trăm quan tiền, đưa tang về Gia Định. Sai Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Tử Châu thân trông coi việc tang. Cho phát tiền công vật công để hậu táng. Cai cơ phó dinh Tiền thủy là Hoàng Văn Định, Phó vệ úy vệ Dương võ Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Vinh Hựu và binh lính chết trận, tất cả hơn 600 người, đều được cấp tuất ưu hậu theo thứ bậc khác nhau.

    Cho Cai đội Hữu hiệu Trung chi Trung quân là Trần Văn Môn làm Trường hiệu khâm sai cai cơ. Vừa rồi ở trận Thị Nại, tướng sĩ đều mạo hiểm, ai cũng nguyện liều chết. Vua hạ lệnh ở trong quân rằng: “Tướng sĩ báo ơn nước, chính ở lúc này. Sống thì chung hưởng giàu sang, chết thì không quên ân điển. Nếu anh em cùng ở trong quân mà có quan chức thì anh mất em được kế tập, em chết anh được kế tập”. Môn cùng anh là Trưởng hiệu cai cơ Trần Văn Đạo đều tòng quân. Nay Đạo chết trận nên cho Môn tập chức.

    Cai bạ Phú Yên là Trần Minh Đức khỏi bệnh, cho làm việc dinh như cũ. Triệu Binh bộ Nguyễn Đức Thiện và Tham tri Ngô Nhân Tĩnh đến hành tại.

    Sai Lưu Tiến Hòa trở về Bình Khang, Võ Văn Lân trở về Bình Thuận, đều hành việc lưu thủ như cũ.

    Lấy Phó dinh Tả thủy là Trần Công Lại làm Quản dinh Tả thủy, Chánh Tiền chi Hoàng Văn Huân làm Phó dinh Tả thủy, Chánh Hậu chi dinh Tiền thủy là Nguyễn Văn Sĩ làm Phó dinh Tiền thủy, Chánh Tiên chi dinh Hữu thủy là Trần Văn Phước là Phó dinh Hữu thủy, Phó trưởng chi Hậu chi dinh Trung thủy là Trần Văn Phan là Chánh trưởng chi, Cai đội Lê Văn Duyên làm Phó trưởng chi, Cai đội Tiền chi là Đào Văn Xuẩn làm Phó trưởng chi Tiền chi, Cai đội Trung chi dinh Tiền thủy là Nguyễn Văn Lân làm Chánh trưởng chi Tiền chi, Lại Thế Nguyễn làm Phó trưởng chi Hậu chi, Cai đội Hậu chi Cao Văn Hân làm Chánh trưởng chi Hậu chi, Nguyễn Văn Quyến làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Tiền chi dinh Tả thủy là Phan Văn Tam làm Chánh trưởng chi, Cai đội Tống Văn Hiệp làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Hậu chi là Dương Công Trấn làm Chánh trưởng chi, Cai đội Nguyễn Văn Phú làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Tiền chi dinh Hữu thủy là Nguyễn Văn Khương làm Chánh trưởng chi, Cai cơ Lê Văn Tình làm Phó trưởng chi, Cai cơ dinh Hữu thủy là Đỗ Văn Tiến làm Chánh trưởng chi Hậu chi, Phan Văn Đức làm Phó trưởng chi.

    Nguyễn Văn Thành sai Tống Viết Phước đóng đồn ở Càn Dương. Giặc chia đường đánh úp. Vệ úy vệ Trung võ là Trần Văn Xung đánh nhau với giặc, chết ở chợ Chính Lộc. Phước thúc quân tiếp ứng, giặc hơi lùi, đuổi đến Thạch Cốc, gặp quân mai phục của tướng giặc Từ Văn Chiêu nổi dậy, quân ta vỡ chạy. Phó đô thống chế Phan Văn Kỳ và Vệ úy vệ Tín uy Nguyễn Văn Trí bị giặc bắt được. Vệ úy vệ Uy võ Hoàng Phước Bảo và Vệ úy vệ Cung võ Hoàng Văn Tứ đều chết trận. Phước bèn bỏ bảo Càn Dương, đến hành tại xin chịu tội. Vua tha cho, sai đem quân giữ bảo Hàm Thủy [Nước mặn].

    Vua đến Vân Sơn, thăm khắp đồn bảo các quân, ngày hôm sau lại trở về.