0014.01.04 Trang [037]-[048] (Lichan đánh máy và soát lỗi xong)

21/8/15
0014.01.04 Trang [037]-[048] (Lichan đánh máy và soát lỗi xong)
  • http://www.mediafire.com/view/z7ow4ifa57upxzq/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00004.pdf

    mặt quan trọng của sáng tạo nghệ thuật , miễn là nghiêm túc thì cần được trân trọng. " Tất nhiên, không có những nhà văn nào mà hoàn toàn không đi chệch các chuẩn mực, những nhà văn như vậy sẽ đáng chán vô cùng. Khi mà con người đã được bồi dưỡng để biết cái chuẩn mực, thì con người cũng bắt đầu cảm thấy được tất cả cái hay đẹp của hiện tượng đi chệch chuẩn mực một cách có lý do ở các nhà văn giỏi "(1)
    Có những sáng tạo thành công được nhiều người bắt chước, thành phổ biến, được xã hội chấp nhận và trở thành chuẩn mực mới. Vùng trời mà Hồ Chủ tịch dùng thay cho không phận, Hội chữ thập đỏ mà Hồ Chủ tịch đã dùng thay cho Hội hồng thập tự(2) đang ngày càng được dùng phổ biến là một thí dụ.
    Nhưng cũng có những sáng tạo thành công mà không phổ biến. Đó là " những từ ngắn ngủi, sản sinh ra với sự cần thiết nhất thời và chết đi khi sự cần thiết đó không còn nữa; nó không phải là những từ " chết trong trứng ", nó đã sống một lúc và có thể hồi sinh cùng với hoàn cảnh tạo ra nó "(3). Đó là những cách kết hợp từ, cách

    (1) tiếng Nga (E.V.Secba) : Tiếng Nga ( Những vấn đề tranh luận trong ngữ pháp tiếng Nga ). Dẫn theo tiếng Nga ( Một số vấn đề lí luận về trau dồi lời nói ), tạp chí tiếng Nga ( Những vấn đề ngôn ngữ học ) 1966, số 5, tr.9.
    (2) Hồ Chủ tịch đã đầu tiên dùng vùng trời trong một lệnh thưởng huân chương quân công, kí ngày 7-8-1964 ( xem "Nhân dân",8-8-1964), và đã đầu tiên dùng Hội chữ thập đỏ trong thư gửi đồng bào các tỉnh bị bão lụt ở miền Nam, ngày 17-11-1961( xem " Nhân dân", 17-11-1964 ).
    (3) A. Damesteter ( A. Đacmextơte ): La vie dé mots ( Đời sống của các từ ),in lần thứ 14, Pari, 1923, tr.116
    Note: trang 37

    đặt câu, gắn liền với một hoàn cảnh nhất định. Nguyễn Du đã viết :
    Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
    Nách tường bóng liễu bay ngang trước mành.
    ( Truyện Kiều )
    Mặc dầu sau này nách tường cũng được các nhà văn khác dùng :
    Hoa mai vàng....nở bên nách tường lối đi......(1).
    nách tường vẫn không được dùng phổ biến và không thành chuẩn mực . Cũng vậy, hiên ngang Cuba không thành chuẩn mực. Chính vì những từ ngữ, cách nói này không thành phổ biến, không thành chuẩn mực, nên chúng giữ được cái giá trị mãi mãi của chúng; mỗi lần gặp lại chúng, người ta vẫn cảm thấy chúng là mới, là sáng tạo.
    Bất cứ một sáng tạo thành công nào trong ngôn ngữ cũng đều đáp ứng những đòi hỏi thực tế của việc diễn đạt tư tưởng, tình cảm, và không mâu thuẫn với những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ.
    Nhưng dù với những nhà văn rất lớn, phần thật sự sáng tạo cá nhân trong lĩnh vực ngôn ngữ cũng không là bao so với phần sử dụng ngôn ngữ " theo như đã có sẵn ", nghĩa là gần như lặp lối nói mà mọi người đã thường nói và đang nói hằng ngày. Sự sáng tạo thường chỉ thể hiện một số từ, ngữ nhất định nào đó, như những bông hoa điểm trên một bức tranh mà cái nền làm bằng những câu, lời thông thường.
    Ngoài sự sáng tạo, một nguồn quan trọng làm giàu thêm cho ngôn ngữ là sự vay mượn của các ngôn ngữ

    (1) Nguyễn Tuân : Xuân nở trên dòng Gianh và sông Tuyến, trong tập ký tự và bút kí Tuyến Lửa, Hà nội, 1966, tr.11-- Thí dụ về nách tường là mượn của đồng chí Bùi Khắc Việt trong tập này ).

    nước ngoài. Tiếng Việt không những vay mượn nhiều từ, mà còn vay mượn nhiều cách diễn đạt của tiếng Hán, tiếng Pháp.v.v.., và sự thật không nên phủ nhận là sự vay mượn đó đã góp phần quan trọng làm cho nó giàu đẹp thêm, trong sáng thêm.
    Lĩnh vực văn hoá, văn học , khoa học là một lĩnh vực không những có sự kế thừa trong nội bộ dân tộc, mà còn có sự giao lưu giữa các dân tộc, sự giao lưu này ngày càng rộng rãi hơn. Ngôn ngữ văn hoá là công cụ văn hoá của dân tộc thì đồng thời cũng là công cụ giao lưu văn hoá giữa các dân tộc. Giữa ngôn ngữ văn hoá của các dân tộc, sự tiếp xúc ngày càng nhiều, vay mượn giữa các ngôn ngữ là hiện tượng không những tất nhiên, mà còn cần thiết, nhìn về yêu cầu của chức năng công cụ văn hoá cũng như của chức năng giao lưu văn hoá của ngôn ngữ. Nhưng vay mượn chỉ có thể là một biện pháp bổ sung để làm giàu đẹp một ngôn ngữ, chứ không thể là biện pháp chủ yếu. Trong vấn đề ngôn ngữ cũng vậy, phải nêu cao tinh thần tự cường dân tộc, tinh thần tự lực cánh sinh, và đây cũng là vấn đề đường lối cơ bản xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc. Chỉ nên vay mượn khi nào thật sự cần thiết, sau khi sử dụng và phát huy đầy đủ cái vốn sẵn có. Vay mượn là để bổ sung cho sáng tạo, và ngay trong vay mượn cũng cần có " sáng tạo " : phải vay mượn một cách có chọn lọc, cân nhắc, vay mượn một cách thông minh, dựa trên yêu cầu thực tế và khả năng tiếp thu của ngôn ngữ mình mà vay mượn, và " dân tộc hoá", đồng hoá yếu tố vay mượn, biến cái của người thành của ta. Chỉ sự vay mượn như thế mới là hợp lí và mới có tác dụng tốt đối với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Nếu coi vay mượn là biện pháp thứ nhất, biện pháp chủ yếu để làm giàu ngôn ngữ, và nếu vay mượn một cách máy móc, sống sượng, ào ạt thì tác dụng có thể ngược lại : sự sáng tạo bị hạn chế, khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ không được phát huy, chuẩn mực của nó bị đảo lộn, sự trong sáng cũng như sức sống của nó bị giảm sút; sự giàu thêm chút ít về lượng sẽ không bù được cho sự nghèo đi về chất, và ngôn ngữ sẽ trở thành nghèo nàn, què quặt. Tiếng Việt " chính thức " trong vùng Mỹ-nguỵ ở miền Nam đang lâm vào cái tình trạng đó. Trong bài " diễn văn " ngắn của tên "bộ trưởng quốc gia giáo dục " chính quyền nguỵ Sài-gòn, thấy đầy dẫy những từ Hán-Việt không cần thiết : Vui mừng thập bội, cử chỉ đầy ưu ái, thanh niên hiếu học, lòng tri ân, giao hoàn, sự hợp tác huynh đệ, dụng cụ tân tiến, sự hiện diện, nhận chân giá trị, v.v..(1). Điều đó cũng không đáng lấy làm lạ, vì có bao giờ những kẻ bán nước lại có thể thật sự yêu tiếng mẹ đẻ, để biết trân trọng giữ gìn nó?
    Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một việc làm tích cực nhằm bảo vệ và phát triển ngôn ngữ dân tộc của chúng ta.
    Nó là một việc làm tự giác, dựa trên lòng yêu nước và yêu quý tiếng mẹ đẻ, trên nhận thức cách mạng rằng con người có quyền và có khả năng làm chủ cái công cụ ngôn ngữ của mình, trên quyết tâm làm cho tiếng Việt phát triển tốt hơn nữa. Việc làm này còn dựa trên những hiểu biết khách quan, khoa học về ngôn ngữ, về tiếng Việt, về điều kiện, yêu cầu, chiều hướng phát triển của nó. Ở đây, vừa có vấn đề đường lối, quan điểm, vừa có vấn đề khoa học, kiến thức. Không có đường lối quan điểm đúng thì đặt sao được đúng vấn đề, nói gì đến giải quyết vấn đề? Nhưng không có kiến thức khoa học thì

    (1) Xem " Văn hoá nguyệt san " ( Sài-gòn ), tập XII, quyển 5, ( tháng 5-1963 ), phần phụ trương, tr. XVIII - XIX.

    khi giải quyết những vấn đề cụ thể, khó tránh khỏi lúng túng và mâu thuẫn, khó quán triệt được đường lối, quan niệm đúng.
    Quyết định là đường lối. Đường lối của chúng ta, ở đâu cũng vậy và ở đây cũng vậy, là đường lối của chủ nghĩa Mác-Lênin, và ở đây cũng vậy cần đấu tranh trên hai mặt, chống hoặc đề phòng hai khuynh hướng sai lầm : khuynh hướng khách quan chủ nghĩa, để mặc ngôn ngữ phát triển một cách " tự nhiên ", và khuynh hướng chủ quan, gò sự phát triển của ngôn ngữ theo những yêu cầu chủ quan của mình. Khuynh hướng chủ quan dẫn đến cái gọi là " chủ nghĩa thuần tuý " trong ngôn ngữ, với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng đều là phiến diện.
    Xác định được đường lối, quan điểm đúng , thì tránh được chủ nghĩa khách quan. Nhưng muốn tránh chủ nghĩa thuần tuý, thì có đường lối quan điểm đúng rồi, lại còn phải có những hiểu biết đầy đủ, khoa học, có cái nhìn toàn diện. Vấn đề ngôn ngữ rất phức tạp, tiếng Việt của chúng ta lại chưa được nghiên cứu nhiều. Cần tìm hiểu, học tập, nghiên cứu tiếng Việt của chúng ta nhiều hơn nữa, để có cơ sở vững chắc giải quyết tốt những vấn đề ngôn ngữ mà cuộc đấu tranh cách mạng hoàn thành giải phóng cả nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội đang đề ra cho chúng ta.

    LÊ XUÂN THẠI

    MẪU MỰC* VÀ PHÁT TRIỂN

    Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thực chất là một cuộc đấu tranh về hai mặt : đấu tranh cho việc nói và viết đúng mẫu mực và đấu tranh cho tiếng Việt phát triển lành mạnh. Hai mặt đấu tranh đó liên quan chặt chẽ với nhau bởi vì mẫu mực của ngôn ngữ và sự phát triển của ngôn ngữ không thể tách rời nhau được.
    Chúng ta viết và nói đúng mẫu mực tức là dùng tiếng Việt đúng với ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt văn học hiện đại. Người Việt chúng ta có lẽ không ai đến nỗi nói " nồi đồng " thành ra " nồi tồng ", nói " cái bơm " thành " cái pơm ". Chỉ những người nước ngoài ( hoặc một người dân tộc thiểu số anh em nào đó ) do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ mới vấp phải những lỗi như thế khi nói tiếng Việt. Nhưng ở một số địa phương miền Bắc vẫn còn nói " nòi ruột " chứ không nói " lòi ruột", "lẫn lộn " thì nói thành " nẫn nộn ", nói " ruyệt binh " chứ không nói " duyệt binh ", người Nghệ-Tĩnh không phân biệt thanh hỏi, thanh ngã và thanh nặng v.v...Từ nay về sau còn cần phải tiếp tục uốn nắn cách phát âm cho những người này. Không những cần phải phát âm đúng mà còn phải dùng từ đúng với ý nghĩa, với màu sắc tu từ mà xã hội qui định. Về ngữ pháp cũng vậy,

    * Mẫu mực : trước nay thường dùng tiêu chuẩn.

    muốn diễn đạt tư tưởng, chúng ta phải nói thành câu, nhưng không được đặt câu tuỳ tiện mà phải theo đúng qui tắc chung. Qui tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ có tính chất khái quát, tính chất trừu tượng, và mỗi qui tắc chỉ có tính chất tương đối mà thôi. Nếu không chú ý đến điều đó thì có thể nói và viết sai mẫu mực. Tiếng Việt có kiểu cấu tạo từ nhà + danh từ. Như nhà văn, nhà báo, nhà thơ ,nhà triết học, nhưng lại không nói " nhà nhạc, nhà hoạ ". Nếu một người nước ngoài nào đó mà chưa học tiếng Việt một cách thấu đáo, thì có thể từ khuôn mẫu cấu tạo từ nói trên mà đi đến chỗ sai. Cách gọi tên của người Việt-Nam chúng ta là : từ chỉ quan hệ xã hội đặt trước họ và tên : anh Nguyễn Văn Ba, ông Lê Đình Bốn v.v...., hoặc đặt trước tên : anh Ba, ông Bốn v.v..., chứ không có lối kết hợp từ chỉ quan hệ xã hội với riêng từ chỉ họ : " anh Nguyễn ", " ông Lê ". Nhưng trong thực tế chúng ta lại quen nói : Bác Hồ, Bác Tôn, Cụ Huỳnh. Có thể nói rằng cách gọi như thế là không mẫu mực được không? Mẫu mực lắm chứ. Cho nên mẫu mực không những bao gồm những cái hợp qui tắc chung, mà còn bao gồm cả những cái ngoại lệ được xã hội quen dùng nữa.
    Nói và viết phải đúng mẫu mực, nhưng mẫu mực không ngăn cản ngôn ngữ phát triển. Chưa nói đến việc sáng tạo thêm những mẫu mực mới, cứ dựa trên những mẫu mực cũ cũng có thể phát triển được tiếng nói của chúng ta. Những ví dụ sau đây có thể chứng minh được điều đó :
    Có thể dựa vào những khuôn mẫu cấu tạo từ sẵn có để cấu tạo nên rất nhiều từ mới. Tiếng Việt có một hệ thống khuôn mẫu cấu tạo từ rất hoàn chỉnh của mình. Có một số khuôn mẫu không còn ( hoặc còn rất ít ) khả năng sinh sản ( như khuôn mẫu cấu tạo từ lấp láy ) nhưng hiện nay tuyệt đại đa số từ tiếng Việt vẫn ra đời theo khuôn mẫu sẵn có ( khuôn mẫu cấu tạo từ ghép ). Về mặt cú pháp cũng vậy, trong khuôn khổ các qui tắc sẵn có vẫn có thể tạo nên nhiều cách diễn đạt mới. Qui tắc vốn có của tiếng Việt là tính từ đặt sau động từ để phụ nghĩa cho động từ : hát hay, cày giỏi, v.v...nhưng trước kia vẫn chưa có cách nói như: làm tốt, xây dựng mới, sửa chữa lớn, đi thăm hữu nghị,v.v....Bây giờ thì các cách nói đó đã xuất hiện, nhưng cái kiểu kết hợp thì không có gì mới. Từ khi có yếu tố sự ra đời để danh hoá hoạt động và tính chất, cách diễn đạt của tiếng Việt ta được phong phú thêm :
    Bộ đội được nhân dân ủng hộ => Bộ đội được sự ủng hộ của nhân dân.
    Châu Á thức tỉnh làm đế quốc Mĩ run sợ => Sự thức tỉnh của châu Á đã làm đế quốc Mĩ run sợ
    Mặc dầu thế ta vẫn thấy kết cấu cú pháp của loại thứ hai chỉ là loại kết cấu cũ -- kết cấu cụm từ chính phụ : danh từ + của + danh từ, chứ không là loại kết cấu mới.
    Nhưng không phải tất cả mọi cái được sáng tạo ra trên cơ sở mẫu mực cũ đều trở thành cái mẫu mực. Chỉ có những cái được xã hội công nhận, được xã hội quen dùng thì mới là cái mẫu mực. Trong tiếng Việt, có một số từ chỉ công cụ, đồng âm với từ chỉ hành động, động tác liên quan tới việc sử dụng công cụ đó :
    Cày ( động từ ) và cày ( danh từ )
    Cuốc ( động từ ) và cuốc ( danh từ )
    Quạt ( động từ ) và quạt ( danh từ )
    Bơm ( động từ ) và bơm ( danh từ )
    Cũng có người dựa vào qui tắc đó rồi từ cái từ chỉ công cụ là đèn pin mà đặt ra động từ là " pin " ( với nghĩa là " bấm đèn pin " ; hoặc từ danh từ bom mà đặt ra động từ " bom" ( với nghĩa là thả bom. Ví dụ : " hôm qua máy bay Mĩ đến bom ở vùng này "). Động từ " pin " và " bom "được một số người dùng , nhưng chưa được đông đảo người trong xã hội dùng, chúng chưa phải là những mẫu mực. Nhiều danh từ khác của tiếng Việt cũng biến thành động từ hoặc tính từ, như " thịt một con lợn " ; " sao anh triết lí đến thế ? " ; " anh ba tâm lí lắm ". Các động từ như thịt, tâm lí, triết lí đã trở thành mẫu mực. Nhưng hiện nay có một số danh từ được một số người dùng làm động từ như " cơ sở " , " văn nghệ " không trở thành mẫu mực : " Chúng tôi cơ sở trên những sự thực vừa xảy ra để đi đến kết luận " hoặc : " Nào các đồng chí, thử văn nghệ lên một bài xem sao ".
    Như trên đã nói, có thể dựa vào mẫu mực cũ để phát triển ngôn ngữ. Nhưng kết cấu của ngôn ngữ gồm nhiều mặt, nhiều hệ thống liên hệ chặt chẽ với nhau, và ràng buộc lẫn nhau. Trong tiếng Việt cũng vậy, không phải chỉ có một khuôn mẫu cấu tạo từ, không phải chỉ có một kiểu cấu tạo câu mà có nhiều kiểu cấu tạo câu. Do đặc điểm này của kết cấu nên trong sự phát triển của ngôn ngữ đã đẻ ra hai tình trạng đáng chú ý sau đây :
    1) Một số hiện tượng này của ngôn ngữ ra đời do tác động của hệ thống này, một số hiện tượng khác ra đời do tác động của hệ thống khác. Không có hệ thống nào có tính chất tuyệt đối, bao trùm tất cả. Ví dụ : hiện nay trong tiếng Việt, để chỉ người đứng đầu một đơn vị, một tổ chức, có một số từ cấu tạo theo kiểu Hán : hiệu trưởng, bộ trưởng, viện trưởng.v,v..; bên cạnh đó lại có một số từ cấu tạo theo kiểu từ ghép tiếng Việt : trưởng ban, trưởng họ,v.v..Chúng ta không nên dựa vào kiểu cấu tạo từ tiếng Việt để đặt ra câu hỏi : " Vì sao không nói : trưởng hiệu, trưởng bộ, trưởng viện ? ". Cũng không nên dựa vào kiểu cấu tạo từ tiếng Hán để đặt ra câu hỏi : " Vì sao không nói : ban trưởng, họ trưởng? "
    2) Có khi một sự vật mới ra đời trong xã hội, nó được mang nhiều tên khác nhau. Đó là vì một số người đặt tên cho nó theo kiểu kết cấu này nhưng một số người khác lại đặt tên theo kiểu kết cấu khác. Người đứng đầu một cửa hàng có thể gọi là trưởng cửa hàng, nhưng nhiều khi người ta vẫn gọi là cửa hàng trưởng ( trong danh sách những người ứng cử đại biểu quốc hội khoá ba tại Hà-nội -- " Nhân dân ", 7- 4 - 1964 ). Cũng có thể là trong một thời gian trước đây thường dùng một số từ theo kết cấu tiếng Hán, bây giờ muốn cho Việt-nam hơn, người ta lại sáng tạo ra những từ khác cùng nghĩa nhưng theo kiểu cấu tạo tiếng Việt. Tuy nhiên, không phải từ cùng nghĩa theo kiểu cấu tạo từ tiếng Việt ra đời là có thể lập tức đẩy từ Hán - Việt vào " viện bảo tàng ngay được. Có khi " chúng song song tồn tại " ngay trong một câu văn của tác giả :
    " Tôi thường nghĩ đến Vích-to Huy-gô; có lẽ trên đời ít có những thi sĩ nào làm nhiều bài thơ trung bình tốt như Huy-gô, nhưng cũng ít có thi sĩ nào trong văn học Pháp có nhiều bài thơ thành tựu hơn Vích-to Huy-gô; nếu cần kể nhà thơ lớn nhất của văn học Pháp, thì phải kể Vích-to Huy-gô " ( Xuân Diệu: Mấy vấn đề thơ ca chống Mĩ cứu nước hiện nay ).
    " Cuối tháng 5-65 trên đường hoả tuyến khu bốn, tôi đã dừng lại ở phòng bưu điện Sầm-sơn, trước khi qua phà Ghép. Lúc này tôi đã viết bài lục bát " Em choàng lưới mũ cho anh ", nói vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào tuyến lửa. Có câu thơ "Một người chiến đấu với hai tâm hồn " ( Xuân Diệu : Tác phẩm đã dẫn ).
    Dĩ nhiên là chúng ta khuyến khích xu hướng dùng từ theo kiểu cấu tạo từ Viêt-nam, nhưng cũng không thể vì thế mà vội vàng đi đến kết luận là các từ như cửa hàng trưởng, thi sĩ, hoả tuyến hiện nay không còn tính chất mẫu mực nữa.
    Chúng ta có thể phát triển ngôn ngữ trong khuôn khổ mẫu mực cũ. Nhưng đó chỉ là một mặt của sự phát triển. Sự phát triển của ngôn ngữ còn có một mặt khác sâu sắc hơn tức là sự thay đổi, sự phát triển của kết cấu ngôn ngữ. Về ngữ âm chẳng hạn, tiếng Việt chúng ta có một hệ thống âm vị riêng với một số lượng âm vị nhất định. Nhưng hiện nay ta đã thấy trong hệ thống âm vị đó xuất hiện những âm vị mới như nguyên âm o dài ( cái xoong, cái boong tàu). Trong hệ thống khuôn mẫu cấu tạo từ tiếng Việt, chúng ta thấy bên cạnh các khuôn mẫu cấu tạo từ lấp láy, từ ghép, v.v....đã xuất hiện khuôn mẫu cấu tạo từ theo lối thêm phụ tố :
    Phụ tố cái : cái đẹp, cái hay, cái thương,v.v...
    Phụ tố sự : sự thức tỉnh, sự cướp bóc, sự ủng hộ, v.v...
    Phụ tố phó : đại đội phó, tiểu đoàn phó, tiểu đội phó, v.v...
    Về cú pháp cũng vậy, có nhiều kiểu câu phức hợp ra đời. Công thức " nếu như.....thì..." ngoài cái công dụng chỉ điều kiện ra, gần đây còn dùng để nối hai ý song song có liên quan với nhau. Ví dụ :
    " Nếu như trong chiến đấu, ý chí kiên cường đánh địch và quyết thắng địch trở thành lẽ sống của mỗi tập thể và cá nhân anh hùng Việt-nam, thì trên mặt trận sản xuất, tinh thần đó cũng được biểu hiện sâu sắc : xung phong, dũng cảm, gương mẫu và sáng tạo trong lao động sản xuất " ( Lê Thanh Nghị -- Phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược ).
    Kiểu đặt thành phần phụ sau danh từ với giới từ với để chỉ thuộc tính của sự vật cũng là một kiểu mới trong tiếng Việt:
    " Chừng nào thì xuất hiện cây đước với vòm lá xanh rì của nó, chừng nào thì rễ đước bắt đầu bén đất bệ tháp Hồ Gươm ! " ( Anh Đức -- Bức thư Cà Mau ).
    Trên sân khấu là khung cảnh êm ả của một bản miền ngược với một túp lều lá cọ, một cái sân đất và đầu ngõ, một cây bưởi ". ( Hồng Hạnh -- Mùa thi ).
    Nhưng sự phát triển của kết cấu ngôn ngữ có liên quan gì đến kết cấu đại đồng không? Có. Và nó đã biểu hiện ra dưới các mặt sau đây :
    1. Mâu thuẫn giữa kết cấu ngôn ngữ đồng đại với nhu cầu giao tiếp và diễn đạt của xã hội là nguyên nhân của sự phát triển. Nhu cầu giao tiếp và diễn đạt của xã hội ngày càng tăng, đòi hỏi phải có một công cụ tinh vi hơn, tế nhị hơn, phong phú hơn, chặt chẽ hơn, chính xác hơn, nhưng kết cấu đồng đại của ngôn ngữ không hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu đó, vì thế nó phải phát triển. Như chúng ta đã biết, trong tiếng Việt trước đây ý bị động và chủ động nhiều khi không được rõ ràng. Sau này người ta đã dùng yếu tố bị, được, v.v...để chỉ ý bị động. " Tôi được biết " ( chỉ ý bị động ) khác nghĩa với " tôi biết " ( chỉ ý chủ động ).
    2. Kết cấu đồng đại quyết định con đường phát triển của ngôn ngữ. Sự phát triển không được đối lập với đặc tính của kết cấu đồng đại. Tiếng Việt chúng ta thường dùng hư từ hoặc trật tự của từ để biểu thị quan hệ ngữ pháp, chứ không dùng lối biến cách, biến ngôi như trong tiếng Nga. Do đó ta không lấy làm lạ khi thấy số lượng hư từ trong tiếng ta ngày càng nhiều.
    3. Chất liệu để cấu tạo nên những hệ thống mới, những yếu tố kết cấu mới phần nhiều dựa trên những chất liệu đã có sẵn trong kết cấu cũ. Ví dụ: Giới từ của là do danh từ của bị hư hoá về ý nghĩa mà có. Yếu tố sự lúc đầu là một danh từ có nghĩa là việc, nhưng qua quá
teacher.anh thích bài này.