04. - Lười Đọc Sách (done)

4/8/15
04. - Lười Đọc Sách (done)
  • thảm trải lớn hơn cả của nước Anh và Ai len cộng lại, và trong thực tế, toàn bộ ngành kinh doanh thương mại và công nghiệp của chúng ta lớn đến mức các khoản thanh toán của ngân hàng thành phố chúng ta năm ngoái, giá trị khoảng 37 tỷ đôla, đã được trả cho trái phiếu tự do của cả đất nước này.

    Nhưng các bạn thân mến, trong khi chúng ta đang rất tự hào về sự phát triển kỳ diệu của ngành công nghiệp của chúng ta, và tự hào về việc là một trong những trung tâm y học, nghệ thuật và giáo dục lớn nhất của đất nước, chúng ta vẫn còn cảm thấy một niềm tự hào lớn hơn rất nhiều, đó là chúng ta có nhiều ngôi nhà riêng biệt hơn bất cứ thành phố trên thế giới. Ở Philadenphia, chúng ta có 397.000 ngôi nhà riêng biệt, và nếu các ngôi nhà này được sắp xếp trong cùng một lô đất rộng 25 foot, xếp sát nhau trong một hàng dọc, hàng dọc đó sẽ phủ kín mọi con đường đi từ Philadenphia đến Toà thị chính của thành phố Kansas, sau đó đến Denver, một quãng đường dài tới 1.881 dặm.

    Nhưng điều mà tôi muốn các bạn đặc biệt quan tâm đến, đó là tầm quan trọng của sự thật rằng hàng vạn các căn nhà này do những người lao động của thành phố chúng ta là chủ và sử dụng, và khi một người sở hữu mảnh đất anh ta đang sống, không có gì có thể ảnh hưởng tới anh ta.

    Philadenphia không phải là mảnh đất phì nhiêu cho chủ nghĩa vô chính phủ của châu Âu phát triển, bởi vì các hộ gia đình của chúng ta, các tổ chức giáo dục của chúng ta và các ngành công nghiệp khổng lồ của chúng ta đã được tạo ra từ tinh thần người Mỹ thực sự, tinh thần đó được sinh ra tại thành phố này và được truyền lại từ đời cha ông chúng ta. Philadenphia là thành phố mẹ của đất nước này, và là thành phố sáng lập ra sự tự do của đất nước này. Đây là thành phố mà lá cờ đầu tiên của nước Mỹ đã được may, là thành phố Quốc hội đầu tiên của Mỹ đã từng họp, là nơi Bản Tuyên ngôn độc lập được ký kết, là thành phố của di tích được người Mỹ yêu quý nhất- Chuông Tự do, đã truyền sức sống cho hàng vạn người, vì thế chúng ta tin rằng-chúng ta có nghĩa vụ thiêng liêng không chỉ đơn thuần là thờ phụng thần bò vàng, mà còn truyền bá tinh thần Mỹ, và giữ gìn ngọn lửa tự do chảy mãi, và với sự cho phép của Chúa trời, chính phủ của Washington, Lincoln và Theodore Roosevelt sẽ mãi là nguồn cảm hứng cho toàn nhân loại.

    Chúng ta hãy cùng phân tích bài nói trên, xem xét cách cấu trúc, và cách bài nói đạt được hiệu quả. Trước tiên, bài nói đó có phần mở đầu và phần kết thúc. Đây là trường hợp hiếm có- hiếm hơn rất nhiều so với bạn tưởng. Bài nói bắt đầu một cách thẳng thắn, không mất nhiều thời gian và ngôn từ.

    Bài nói có sự mới mẻ và mang dấu ấn cá nhân. Người nói bẳt đầu bài nói của mình bằng cách nói vài điều về thành phố của mình mà những người nói khác không thể nói về thành phố của họ; ông ta đã chỉ ra rằng thành phố của ông ta là nơi đã sinh ra đất nước.

    Ông khẳng định đó là thành phố rộng nhất và đẹp nhất trên thế giới. Nhưng lời khẳng định đó chỉ mang tính chung chung, sáo rỗng; nếu đứng một mình nó sẽ chẳng thuyết phục được mấy người. Người nói hiểu được điều đó; vì thế ông giúp khán giả của mình hiểu rõ hơn độ rộng lớn của Philadenphia bằng cách nói rằng Philadenphia “có diện tích bằng cả Milwaukee và Boston, hay Paris và Berlin cộng lại”. Cách so sánh này rất rõ ràng và cụ thể. Và nó cũng rất thú vị. Nó gây ngạc nhiên. Và bản thân nó đã ghi điểm cho người nói. Nó diễn tả được ý của tác giả tốt hơn cả một trang dài đầy những số liệu thống kê.

    Tiếp theo, ông tuyên bố Philadelphia “được biết đến ở mọi nơi là công xưởng lớn nhất của thế giới”. Điều này nghe có vẻ hơi cường điệu đúng không? Nghe nó như lời truyền giáo vậy. Nếu ông ta chuyển ngay sang nói vấn đề thứ hai, ông ta sẽ không thuyết phục được một khán giả nào. Nhưng ông đã không làm như vậy. Ông dừng lại và liệt kê các sản phẩm đứng đầu thế giới của Philadenphia: “hàng len, hàng da, hàng sợi, hàng dệt may, mũ nỉ, vũ khí, công cụ, pin dự trữ, tàu thép”.

    Bạn sẽ thấy những điều này nghe càng giống thuyết giáo hơn, phải không?

    Philadenphia “xây dựng đường ray xe lửa di động mỗi hai giờ một ngày, và hơn một nửa dân số của đất nước vĩ đại này đang lái những chiếc xe sản xuất tại Philadenphia”.

    “Ồ, những điều đó trước đây tôi chưa được biết”, chúng ta tự nhủ. “Có thể ngày hôm qua tôi cũng đã lái một chiếc xe như thế. Ngày mai, tôi sẽ quan sát và tìm hiểu xem chiếc xe tôi lái được sản xuất ở thành phố nào”.

    “Một nghìn điếu thuốc mỗi phút..., những đôi tất cho tất cả dân số của cả đất nước này”.

    Chúng ta lại vẫn cảm thấy còn ấn tượng hơn nữa... “Có thể loại xì gà mà tôi ưa thích cũng đã được sản xuất tại Philadenphia... và cả những chiếc tất mà tôi đang mang nữa”.

    Người nói đã làm gì tiếp theo? Liệu có phải ông quay trở lại vấn đề quy mô của Philadenphia mà ông đã đề cập đến ở trên và bổ sung thêm một số dẫn chứng mà trước đó ông đã quên mất? Không, không hẳn là như vậy. Ông vẫn bám vào chủ đề đó cho đến tận khi đã hoàn thành bài nói và sẽ không quay trở lại thêm một lần nữa. Chúng tôi rất biết ơn về điều đó, thưa ngài diễn thuyết. Liệu có gì rắc rối và lộn xộn hơn việc một người nói cứ thao thao nói về một điều gì, sau đó nhảy sang vấn đề khác rồi lại vòng lại nói điều đã nói lúc ban đầu, thất thường như con dơi đang bay lúc chạng vạng tối vậy? Tuy nhiên đã có rất nhiều người nói bị mắc phải sai lầm này. Thay vì đề cập đến các vấn đề trong bài nói của mình theo trật tự 1, 2, 3, 4, 5, anh ta lại nhắc đến chúng như đội trưởng đội bóng đá gọi số các cầu thủ của đội mình vậy-27, 34, 19, 2. Không, thậm chí còn không được như vậy. Anh ta đề cập đến các vấn đề theo thứ tự như sau: 27, 34, 27, 19, 2, 34, 19.

    Tuy nhiên, người nói này đã đi thẳng vào vấn đề theo lịch trình thời gian, không nghỉ, không nhắc lại vấn đề trước, không chuyển hướng sang trái phải, như một đầu máy xe lửa mà ông đã nhắc tới trong bài nói của mình.

    Tuy nhiên, trong toàn bộ bài nói của ông vẫn có một điểm yếu nhất: Ông tuyên bố “Philadenphia là trung tâm y học, giáo dục, nghệ thuật lớn hơn đất nước”. Ông chỉ tuyên bố suông như vậy, sau đó chuyển sang các vấn đề khác- chỉ mười hai từ để minh họa cho lý lẽ này, để biến nó thành sống động và được mãi ghi nhớ trong tâm trí người nghe. Tất nhiên là không thể. Đầu óc con người không hoạt động như các chốt của các cái bẫy bằng thép. Ông đã dành quá ít thời gian để nói về điểm này, nó quá chung chung, mờ nhạt, và có vẻ không gây ấn tượng cho chính bản thân người nói, do đó đối với người nghe, sự ấn tượng chỉ là con số không. Vậy phải làm thế nào? Ông ta nhận ra rằng ông ta có thể xây dựng điểm này bằng cùng một kỹ thuật mà ông vừa dùng để minh họa cho ý kiến Philadenphia lả công xưởng của thế giới, ông ta biết điều đó. Và ông cũng ý thức được rằng ông luôn có trong người đồng hồ tính giờ, và ông chỉ có năm phút, không thêm một giây nào; vì thế ông chỉ đề cập lướt qua lý lẽ này hoặc nếu không ông phải giảm dung lượng của các lý lẽ khác trong bài nói của mình.

    “Ở Philadenphia có nhiều căn hộ riêng biệt hơn ở bất cứ thành phố nào trên thế giới”. Làm thế nào người nói có thể khiến lập luận này trở nên ấn tượng và thuyết phục hơn đối với người nghe? Trước tiên ông đưa ra con số: 397.000. Tiếp theo ông minh họa rõ con số đó: “và nếu các ngôi nhà này được sắp xếp trong cùng một lô đất rộng 25 foot, xếp sát nhau trong một hàng dọc, hàng dọc đó sẽ phủ kín mọi con đường đi từ Philadenphia đến Toà thị chính của thành phố Kansas, sau đó đến Denver, một quãng đường dài tới 1.881 dặm”.

    Các khán giả có thể quên con số trước tiên ông đã ra ngay khi ông kết thúc câu nói, nhưng còn bức tranh minh họa ông đã vẽ ra? Chắc chắn là họ sẽ không thể quên được.

    Có thể thấy có rất nhiều dẫn chứng cụ thể trong bài nói này. Nhưng chúng không phải là cách bài nói được tạo ra. Người nói mong muốn tạo ra một điểm nhấn, để làm rung động trái tim và khuấy động cảm giác của những người nghe. Vì thế trong suốt thời gian diễn thuyết không ngừng, tác giả đã sử dụng các công cụ cảm xúc. Ông nói về ý nghĩa người chủ sở hữu của những căn hộ đối với tâm hồn của thành phố. Ông tán dương “Philadenphia là cái nôi của nền tự do kiểu Mỹ”. Tự do! Một từ thần kỳ, một từ chứa đầy xúc cảm, tình cảm mà vì nó hàng triệu người đã hy sinh mạng sống của mình. Bản thân cụm từ này đã mang nghĩa tốt, nhưng nghĩa đó còn tốt lên nhiều lần khi một lần nữa được người nói làm mạnh thêm thông qua các sự kiện và tài liệu lịch sử, rất đỗi thân yêu và thiêng liêng, làm rung động trái tim những người đang lắng nghe... “Đó là thành phố nơi lá cờ đầu tiên của nước Mỹ được may; là nơi Quốc hội đầu tiên của nước Mỹ họp; là nơi Bản Tuyên ngôn độc lập được ký...Tháp chuông Tự do... nhiệm vụ thiêng liêng...., để làm lan tỏa tinh thần Mỹ... để giữ ngọn lửa của tự do cháy mãi, để với sự cho phép của Chúa, chính phủ của Washington, Lincoln và Theodore Roosevelt sẽ mãi là niềm cảm hứng cho toàn nhân loại”. Đó thật sự là đỉnh điểm của bài nói.

    Như trên là chúng ta đã phân tích quá nhiều bài nói trên. Nhưng nếu xét về quan điểm mang tính xây dựng, đáng ngưỡng mộ ở chỗ bài nói trên đã có thể trở thành nỗi buồn, có thể dễ dàng đi đến chỗ vô ích nếu nó được thể hiện với cách thức không chứa cả tâm hồn và sức sống của người nói. Và người nói đã phát biểu như khi ông viết bài nói đó vậy, trong đó có tất cả cảm xúc và sự nhiệt tình xuất phát từ sự chân thành sâu sắc. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi bài nói này giành giải nhất, giành được chiếc cúp Chicago.

    Cách giáo sư Conwell tổ chức bài nói của mình.

    Như tôi đã nói ở trên, không có bất cứ quy định chính xác nào có thể giải quyết vấn đề về sự sắp xếp tốt nhất. Không có bất cứ mẫu thiết kế hay kế hoạch, bảng biểu nào có thể phù hợp với tất cả, hoặc thậm chí chỉ là đa số bài nói; tuy nhiên dưới đây có một vài kế hoạch cho các bài nói có thể sử dụng được trong một số trường hợp. Giáo sư Russell H. Conwell, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Những cánh đồng kim cương” trước đây đã từng cho tôi biết rằng rất nhiều trong vô số bài nói của ông đã được viết dựa trên dàn ý sau:

    1. Hãy nêu dẫn chứng.

    2. Biện luận cho dẫn chứng đó.

    3. Yêu cầu hành động.

    Nhiều người, đã nhận thấy dàn ý này rất hữu ích và khuyến khích:

    1. Chỉ ra điều gì đó là sai.

    2. Chỉ ra cách sửa chữa điều đó.

    3. Yêu cầu sự hợp tác.

    Hoặc với một cách khác:

    1. Đây là tình huống cần phải sửa chữa.

    2. Chúng ta phải làm như thế này, như thế kia trong tình huống đó.

    3. Bạn cần phải giúp đỡ do những lý do như sau.

    Dàn ý này có thể được viết theo dạng sau:

    1. Bảo đảm sự chú ý đầy thích thú.

    2. Giành được sự tự tin.

    3. Nêu các dẫn chứng của bạn; nói cho mọi người hiểu sự đúng đắn của ý kiến đề xuất của bạn.

    4. Gián tiếp gợi ý các lý do khiến mọi người hành động.

    Những người nổi tiếng đã thực hiện bài nói của mình như thế nào?

    Cựu Thượng nghị sỹ Albert J. Beveridge đã từng viết một cuốn sách rất ngắn nhưng hữu ích mang tên “Nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng”. “Người diễn thuyết phải làm chủ được chủ đề anh ta đang nói”, vị chính khách này nói, “Điều đó có nghĩa là mọi dẫn chứng phải được thu thập, sắp xếp, nghiên cứu, phân loại một cách có hệ thống- không chỉ là các con số để một bên, mà bên kia còn có các nguyên liệu khác cho bài nói. Và phải chắc chắn được rằng đó là những dẫn chứng, chứ không đơn thuần là các giả thuyết và những đánh giá chưa qua kiểm nghiệm. Sẽ chẳng được gì nếu chỉ đưa ra giả thuyết”.

    “Bởi thế cho nên hãy kiểm tra và xác minh lại mọi đề mục nhỏ. Điều này có nghĩa là phải nghiên cứu hết sức cẩn thận, để chắc chắn, nhưng làm như thế nào?- có phải bạn đang dự định thông báo, giới thiệu và khuyên những người khác cũng là công dân như bạn? Có phải bạn đang không tự cho mình là một người lãnh đạo?”.

    “Đã tổng hợp và sắp xếp theo thứ tự các dẫn chứng của bất kể một vấn đề gì, hãy tự nghĩ ra cho bản thân bạn giải pháp cho các dẫn chứng được đưa ra. Và do thế bài nói của bạn sẽ có tính nguyên bản và sức mạnh cá nhân - điều này là quan trọng và bắt buộc. Sau đó viết ra các ý kiến của bạn rõ ràng và hợp lý hết mức bạn có thể”.

    Nói cách khác, hãy trình bày cả hai mặt của các dẫn chứng, và sau đó trình bày kết luận mà đã được các dẫn chứng trên làm rõ và định nghĩa.

    Khi được yêu cầu giải thích phương pháp của mình, Woodrow Wilson đã nói “ Tôi bắt đầu với một danh sách các chủ đề mà tôi muốn nói, sắp xếp chúng trong đầu theo mối liên hệ tự nhiên giữa chúng- sau đó tôi ghép phần khung vào với nhau, sau đó tôi viết nhanh các chủ đề đó ra. Hoàn thành việc này, tôi tự sao lấy một bản, thay đổi cách dùng từ, sửa lỗi câu và thêm vào các ý mà tôi đã có”.

    Thoedore Roosevelt đã chuẩn bị bài nói theo phong cách của riêng mình: Ông đào xới mọi khía cạnh của các dẫn chứng, xem xét lại chúng, đánh giá chúng, xác định lại các điều phát hiện ra từ các dẫn chứng đó, quay trở lại với kết luận của ông với cảm giác chắc chắn là các dẫn chứng của ông là không thể lung lay được.

    Sau đó, với một tập các ghi chép trước mặt, ông bắt đầu đọc to và ông đọc rất nhanh để bài nói được trôi chảy, tự nhiên và mang tâm hồn của cuộc sống. Sau đó ông chuyển sang bản đánh máy của bài nói đó, ôn lại, thêm hoặc bớt ý, đánh dấu bài nói bằng đầy các nét bút chì, sau đó lại đọc to lên một lần nữa. Ông từng nói “Tôi không thể đạt được điều gì nếu không lao động cật lực và thiếu đi sự luyện tập óc phán đoán tốt nhất của mình, bên cạnh đó là việc lên kế hoạch cẩn thận và làm việc trong một thời gian dài.”

    Thông thường ông gọi một số người lắng nghe ông đọc bài nói của mình để nhận xét. Ông từ chối tranh luận với họ hiểu biết của ông về những điều ông vừa nói. Trong tâm trí ông luôn sẵn sàng sắp xếp các ý và sẵn sàng một cách không thể hủy bỏ được. Ông muốn được kể cho nghe, không phải biết nói mà là biết cách để nói. Cứ lặp đi lặp lại, ông đọc lại các bản sao đánh máy của mình, cắt, sửa chữa và hoàn thiện bài nói của minh. Đó là những bài nói chuyện đã được in trên báo. Tất nhiên, ông không nhớ hết những bài này. Ông phát biểu theo lối ứng khẩu. Vì vậy thường có sự khác nhau giữa bài diễn thuyết do ông nói so với bản được in trên báo. Nhung việc đọc to và xem kỹ lại bài nói là một sự chuẩn bị tốt. Nó giúp ông trở nên quen thuộc hơn với các nguyên liệu mà mình đang có, theo thứ tự của các quan điểm. Nó giúp ông tạo ra sự mềm mại và chắc chắn và đánh bóng thực tế là ông khó có thể đạt được điều đó dưới hình thức khác.

    Ngài Oliver Lodge đã từng nói với tôi ràng việc đọc to các bài nói của mình một cách nhanh chóng và chắc chắn, giống như đang nói chuyện thực sự với khán giả và ông phát hiện ra đó là cách chuẩn bị và luyện tập tuyệt vời.

    Rất nhiều người học về diễn thuyết đã tìm ra cách đọc to bài nói của mình lên để thu vào máy ghi âm, sau đó lắng nghe lại tất cả những điều đó là rất rõ ràng.

    Việc luyện tập viết ra những gì bạn định nói sẽ buộc bạn phải nghĩ. Điều đó sẽ làm rõ các ý kiến của bạn. Điều đó cũng sẽ giúp bạn ghi nhớ các ý kiến đó. Nó cũng sẽ giúp đầu óc bạn tập trung hơn. Việc chọn từ ngữ diễn tả của bạn cũng sẽ được cải thiện.

    Trong cuốn Hồi ký của mình, Benjamin Franklin cũng đã kể lại cách ông cải thiện việc chọn từ ngữ diễn đạt, cách dùng từ lưu loát, và cách ông tự dạy bản thân mình phương pháp sắp xếp các ý tưởng. Câu chuyện về cuộc đời ông là một tác phẩm văn học kinh điển nhưng nó lại không giống các tác phẩm kinh điển khác, nó rất dễ đọc và rất thú vị. Đó là một kiểu viết tiếng Anh đơn giản và rõ ràng. Bất cứ ai muốn trở thành nhà văn hay người diễn thuyết có thể sử dụng dễ dàng và rất bổ ích tác phẩm này. Tôi nghĩ là bạn sẽ thích đoạn mà tôi trích dẫn sau đây:

    Vào lúc đó tôi bắt gặp một tập lẻ của cuốn Spectator. Đó là tập thứ ba. Tôi chưa bao giờ từng đọc cuốn sách này. Tôi đã mua và đọc đi đọc lại cuốn sách đó với tất cả sự hào hứng say mê. Tôi nghĩ cách viết của tác giả cuốn sách đó thật hay và tôi ước gì có thể mô phỏng cách viết đó. Với suy nghĩ đó, tôi lấy giấy bút ra và viết những ghi chú ngắn về tình cảm của mỗi câu văn. Vài ngày sau đó tôi không đọc lại cuốn sách đó và cố hoàn thiện lại những gì viết trong giấy, bằng cách cố diễn đạt lại những ghi chú đó sao cho dài và đủ ý như tác giả như ý đó được diễn đạt trong cuốn sách nhưng bằng từ ngữ của riêng tôi. Sau đó tôi so sánh bài viết của mình với nguyên bản trong cuốn sách, tự phát hiện và sửa chữa những lỗi trong bài viết của tôi. Và tôi đã học được rất nhiều từ ngữ, sự nhanh nhạy trong việc thu thập và sử dụng các từ ngữ đó, điều mà tôi nghĩ rằng tôi nên làm từ trước nếu tôi muốn viết thơ; và do có rất nhiều từ có cùng ý nghĩa như nhau nhưng có độ dài khác nhau, để thích hợp với ngữ cảnh, hoặc có những âm điệu khác nhau nên khiến tôi phải không ngừng tìm tòi, những từ đó ăn sâu vào tâm trí tôi và dần dần tôi có thể làm chủ được những từ ngữ đó. Bởi thế cho nên tôi đọc một vài cuốn sách và cố gắng dựng lại chúng bằng ngôn ngữ của mình. Đôi khi tôi cũng bị nhầm lẫn giữa các ghi chép với nhau, nên phải mất vài tuần cố gắng sắp xếp lại các ý theo trật tự thích hợp nhất trước khi bắt tay vào viết thành câu hoàn chỉnh và tái hiện lại toàn bộ câu chuyện. Việc làm này đã dạy cho tôi phương pháp sắp xếp các ý tưởng. Bằng cách so sánh bài viết của tôi với câu chuyện gốc, tôi phát hiện ra nhiều lỗi của mình và tự sửa chữa những lỗi đó; và đôi khi tôi được cảm thấy thực sự thích thú vì với một lượng từ nhất định mà tôi đã học được, tôi đã có đủ may mắn để cải thiện phương pháp sử dụng ngôn ngữ, và điều này khích lệ tôi nghĩ rằng sau này tôi có thể trở thành một tác giả người Anh nổi tiếng, đó là tham vọng thật sự của tôi.

    Đánh bài với những ý kiến của mình

    Trong chương trước, tôi đã khuyên bạn nên ghi chép những chú ý nhỏ. Sau khi đã có rất nhiều ý tưởng và viết hết chúng ra các mẩu giấy, hãy chơi bài với những ghi chép này - phân chúng ra thành các tập có liên quan đến nhau. Những tập chú ý này nên thể hiện hầu hết những ý chính trong bài nói của bạn. Chia các tập này thành các phần nhỏ hơn. Hãy sàng lọc và gạn bỏ hết những ghi chú không cần thiết và chỉ giữ lại những ghi chép có thể sử dụng được. Ngay cả trong những ghi chép đã được giữ lại này vẫn có một số bị loại ra. Không ai thành công mà sử dụng hết tất cả những ghi chép mà anh ta thu thập được.

    Không nên ngừng luyện tập cho đến khi hoàn thành bài nói- thậm chí khi đó người nói vẫn nên tiếp tục suy nghĩ các ý tưởng, phát triển và sàng lọc các ý tưởng đó.

    Một người nói giỏi khi kết thúc bài nói thường nhận thấy rằng có bốn phiên bản khác nhau cho bài nói của anh ta: Một phiên brn do anh ta chuẩn bị, một phiên bản mà anh ta trình bày, một phiên bản bài nói của anh ta trên báo chí và một phiên bản mà anh ta ước được trình bày khi đang trên đường về nhà.

    Liệu tôi có được sử dụng các ghi chú hay không?

    Cho dù là người nói ứng khẩu rất xuất sắc, nhưng sau khi vào Nhà Trắng, Lincoln đã không bao giờ thực hiện một bài diễn văn nào, ngay cả những bài nói chuyện thông thường với các thành viên trong nội các của mình nếu như ông không viết cẩn thận tất cả các ý trước khi trình bày. Tất nhiên, ông được phép đọc diễn văn nhậm chức của mình. Văn phong viết trong văn kiện lịch sử này tất nhiên là quá quan trọng nên không thể thực hiện theo kiểu ứng khẩu. Nhưng khi trở lại Illinois, Lincoln không bao giờ sử dụng dù chỉ là những ghi chú nhỏ khi thực hiện bài nói của mình. "Vì nó sẽ gây mệt mỏi và mơ hồ cho người nghe", ông nói.

    Và liệu ai trong số chúng ta, dù chỉ là mong muốn, thực hiện trái với những gì Lincoln đã làm? Có phải việc không ghi chú sẽ làm mất đi một nửa niềm hứng thú của bạn đối với bài nói của mình? Có phải việc đó không ngăn cản, hoặc ít ra là gây khó khăn, cho mối liên hệ và sự thân tình quý giá giữa người nói và người nghe? Có phải nó sẽ giúp không gây ra không khí giả tạo? Liệu việc đó có không ngăn cản các khán giả cảm thấy rằng người nói rất tự tin và có năng lực dồi dào?

    Việc ghi chú trong quá trình chuẩn bị, tôi xin nhắc lại, là một công việc khá vất vả và tỷ mỷ. Bạn có thể ước được đề cập đến chúng khi bạn tự thực hành bài nói một mình. Bạn có thể sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi bạn có mang gì đó trong túi áo khi phải đối diện với đám đông khán giả. Tuy nhiên, chúng chỉ như những chiếc kìm, rìu, cưa.. ở bờ biển Pullman, chúng là những công cụ được sử dụng trong trường hợp khẩn cấp, khi bạn gặp nguy hiểm, bị đe doạ đến tính mạng mà thôi.

    Nếu bạn phải sử dụng các ghi chú, hãy viết chúng thật vắn tắt và viết bằng chữ trên giấy. Sau đó đến nơi nói chuyện trước khi trình bày và giấu những ghi chép đó trong một cuốn sách nào đó trên bàn. Liếc qua những ghi chép đó khi cần thiết, gắng sao cho các khán giả không nhận ra yếu điểm của bạn.

    Tuy vậy nhưng trong một số trường hợp việc sử dụng các ghi chép lại là một quyết định khôn ngoan. Ví dụ, một số người trong lần đầu nói trước đám đông sẽ rất hồi hộp và thiếu tự tin, do đó họ không thể nhớ được những gì họ đã chuẩn bị. Kết quả thì sao? Bài phát biểu của họ bị lạc đề; người nói quên sạch những gì mình đã chuẩn bị rất cẩn thận, họ như đang đi trên xa lộ mà bị sa lầy vậy. Tại sao những người này không mang theo một số ghi chép hết sức cô đọng trong những lần trình bày đầu tiên? Một đứa trẻ thường bám vào ghế khi chúng mới tập đi, nhưng điều đó thường không kéo dài lâu.

    Không nên ghi nhớ nguyên văn bài nói của mình

    Không nên đọc và nhớ bài nói của mình theo kiểu từng từ một. Điều đó rất tốn thời gian và nó thường có kết quả không hay. Tuy vậy, một số người đọc thấy những dòng này sẽ thử áp dụng phương pháp đó; và nếu họ làm thật, khi họ đứng lên, họ đang nghĩ về điều gì? Về thông điệp mà họ muốn đưa ra trong bài viết? Không, họ sẽ cố gắng nhớ lại chính xác từng từ ngữ của bài nói mà họ đã chuẩn bị. Họ sẽ nghĩ ngược lại, chứ không phải hướng về phía trước, đi ngược lại quy trình của đầu óc con người. Cả buổi nói chuyện hôm đó sẽ trở thành cứng nhắc, nhạt nhẽo, ít màu sắc và không sống động. Tôi khẩn thiết yêu cầu các bạn không nên tốn thời gian và công sức để làm việc này.

    Khi bạn có một cuộc phỏng vấn kinh doanh quan trọng, liệu bạn có ngồi và cố nhớ lại đúng nguyên văn những gì bạn dự định sẽ nói? Có hay không? Đương nhiên câu trả lời là không. Bạn sẽ suy nghĩ cho đến khi các ý chính hiện ra rõ ràng trong đầu bạn. Bạn có thể ghi một vài ghi chú nhỏ hoặc tham khảo các bài nói chuyện khác. Bạn có thể sẽ tự nói với bản thân rằng "Tôi sẽ nói về điểm này, điểm này. Tôi sẽ nói vấn đề này chắc chắn sẽ được thực hiện do các lý do sau..” Sau đó bạn sẽ liệt kê những lý do đó cho chính bản thân mình và minh hoạ chúng bằng những trường hợp cụ thể. Đó không phải là cách bạn chuẩn bị cho một buổi phỏng vấn kinh doanh hay sao? Tại sao không thử áp dụng phương pháp này trong việc chuẩn bị một bài nói?

    Tướng Grant tại Appomattox

    Khi tướng Lee yêu cầu tướng Grant đưa ra những điều kiện đầu hàng, vị tổng tư lệnh Liên quân quay ra hỏi tướng Parker tài liệu viết. Tướng Grant ghi lại trong cuốn nhật ký của mình như sau: “Khi bắt đầu đặt bút viết, tôi không biết bắt đầu như thế nào cả. Tôi chỉ biết trong đầu tôi định viết gì, và tôi mong muốn thể hiện rõ được ý tưởng của mình để không có sự hiểu lầm khi đọc.”

    Thưa tướng quân Grant, ông không cần phải biết từ đầu tiên. Ông đã có ý tưởng, ông đã có niềm tin. Ông có những điều mà ông rất muốn nói ra và nói ra một cách rõ ràng. Kết quả là ngôn từ ông hay dùng quen thuộc tự hiện ra trong trí óc ông. Điều này cũng đúng với tất cả những người khác. Nếu bạn nghi ngờ nhận xét này, hãy xúc phạm một người nào đó và khi anh ta đáp trả bạn sẽ thấy anh ta diễn đạt cảm xúc của mình rất mạch lạc và xúc tích.

    Hai nghìn năm trước đây, Horace đã viết

    Đừng tìm kiếm ngôn từ, mà hãy chỉ tìm kiếm ý tưởng và dẫn chứng.

    Và kết nối chúng lại thì ngôn từ sẽ tự khắc xuất hiện.

    Sau khi bạn có ý tưởng rõ ràng trong đầu rồi, hãy tập dượt bài nói từ đầu cho đến cuối: nhẩm trong đầu, suy nghĩ về bài nói khi bạn đang đợi một ấm nước sôi, khi bạn đang đi trên phố, và khi bạn đang đợi thang máy. Hãy tìm một căn phòng trống và đọc to bài nói cùng với các cử chỉ điệu bộ cần thiết, cùng với năng lượng và sức sống. Canon Knox Little ở Canterbury thường nói một nhà truyền giáo không bao giờ có thể nêu bật ý bài nói của mình trừ khi ông ta diễn tập nó khoảng sáu lần. Vậy liệu bạn có thể hy vọng truyền tải được nội dung bài nói của mình trừ khi bạn đã diễn tập bài đó nhiều lần? Khi bạn tập, hãy tưởng tượng có khán/thính giả thật sự đang ngồi nghe. Hãy tưởng tượng đến mức làm sao khi thực sự có khán/thính giả thật thì bạn cảm thấy bình thường như lúc đang diễn tập.

    Tại sao có người lại nghĩ Lincoln “cực kỳ lười nhác”

    Khi bạn thực hành bài nói của mình theo cách này, bạn đang sử dụng cách thực hành của rất nhiều diễn giả nổi tiếng. Loyd George, khi còn là thành viên của nhóm tranh luận ở thị trấn nơi ông sinh ra (tại xứ Wales), thường đi dọc các con đường, nói và ra điệu bộ với những cái cây và cọc hàng rào.

    Tổng thống Lincoln, khi còn trẻ, thường đi ba mươi, bốn mươi dặm để nghe một diễn giả nổi tiếng, ví dụ như Breckenridge. Ông trở về nhà từ các cuộc diễn thuyết đó với với tâm trạng hết sức xúc động và quyết tâm trở thành một nhà diễn thuyết. Ông tập hợp những người công nhân đồng nghiệp lại trên cánh đồng, trèo lên một cái bục và diễn thuyết và kể cho họ nghe về những câu truyện. Những người chủ của ông rất tức giận, tuyên bố rằng ông là kẻ “cực kỳ lười nhác”, rằng các câu chuyện cười và bài phát biểu của ông đang đầu độc những người công nhân khác.

    Asquith có được thành công đầu tiên của mình khi là một thành viên năng động của Hiệp hội Tranh luận Liên đoàn tại Oxford. Sau này, ông tự sáng lập ra một tổ chức tương tự như vậy. Woodrow Wilson học phương pháp diễn thuyết tại một hiệp hội tranh luận. Henry Ward Beecher cũng vậy. Cả nhà diễn thuyết nổi tiếng Burke cũng thế. Antoinette Blackwell và Stone cũng không là ngoại lệ. Elihu Root luyện tập tại một câu lạc bộ văn chương tại YMCA ở New York.

    Hãy nghiên cứu nghề nghiệp của những diễn giả tiếng tăm và bạn sẽ tìm ra một chân lý là tất cả họ: họ đều thực hành. HỌ THỰC HÀNH. Và những người mà có nhiều tiến bộ nhất là những người thực hành nhiều nhất.

    Không có thời gian để thực hành ư? Vậy thì hãy làm những gì mà Joseph Choate thường làm. Ông ta mua một tờ báo vào buổi sáng và trùm tờ báo lên đầu để không ai có thể làm phiền ông cả. Và, thay vì đọc những vụ xì-căng-đan ầm ỹ, những tin tức giật gân trong ngày, ông nghĩ về bài nói của mình và lên kế hoạch cho nó.

    Chauncey M. Depew có một cuộc sống khá năng động, ông vừa là chủ tịch một hãng đường sắt, vừa là một Thượng Nghị sỹ. Tuy nhiên, điều đặc biệt là hầu như tối nào ông cũng có một bài diễn văn. “Tôi không để việc đó ảnh hưởng đến công việc của tôi”, ông nói, “Tất cả các bài nói đều được chuẩn bị sau khi tôi từ văn phòng về nhà vào buổi chiều”.

    Chúng ta mỗi ngày ai cũng có một vài tiếng đồng hồ có thể làm những gì chúng ta muốn. Chính do điều kiện sức khỏe không tốt nên Darwin chỉ dành vài tiếng đó để làm việc. Chỉ ba tiếng làm việc mỗi ngày được sử dụng một cách khôn ngoan đã khiến ông trở thành người nổi tiếng.

    Theodore Roosevelt trong thời gian ở Nhà Trắng thường để dành gần như cả buổi chiều để có một loạt các cuộc phỏng vấn năm phút. Tuy nhiên ông luôn mang theo một cuốn sách để tranh thủ đọc trong ít phút rảnh rỗi giữa các cuộc phỏng vấn đó.

    Nếu bạn quá bận và phải chịu nhiều áp lực về thời gian, hãy đọc cuốn “Cách sống trong 24 giờ mỗi ngày” của Arnold Bennett. Lấy trong đó ra khoảng một trăm trang, để chúng trong túi xách và mang ra đọc mỗi khi rãnh rỗi. Cuốn sách đó sẽ giúp bạn biết cách tiết kiệm thời gian và bạn sẽ làm được nhiều thứ hơn trong một ngày.

    Bạn cần phải có thời gian thư giãn và thay đổi chút ít so với công việc hàng ngày của bạn. Và luyện tập các bài nói của bạn chính là để nhằm mục đích đó. Hãy cùng gia đình bạn chơi trò nói ứng khẩu ngay tại nhà của bạn.

    TỔNG KẾT

    1. “Nghệ thuật của chiến tranh”, Napôlêông đã từng nói, “là môn khoa học trong đó không ai thành công được mà không tính toán và suy nghĩ kỹ càng". Đó là sự thực về việc diễn thuyết cũng như bắn súng. Một bài nói chuyện là một chuyến đi biển. Nó cần phải được lên kế hoạch rõ ràng. Những người nói nào bắt đầu từ chỗ không có gì cả sẽ chẳng tiến được đến đâu.

    2. Không có một quy định hoàn chỉnh nào về việc sắp xếp các ý kiến và cấu trúc chung cho các bài nói. Mỗi bài nói đề cập đến những vấn đề riêng của nó.

    3. Người nói nên đề cập hết mọi khía cạnh của vấn đề đang được nhắc đến và không nên nhắc lại vấn đề đó một lần nữa. Bài nói về Philadenphia đã từng đoạt giải là một minh họa rõ nét cho ý kiến trên. Không nên nhảy từ vấn đề này sang vấn đề khác sau đó lại quay trở lại vấn đề ban đầu như chú dơi bay loạng quạng trong buổi chiều tà.

    4. Giáo sư Conwell thường xây dựng các bài nói của mình dựa trên dàn ý sau:

    a. Hãy nêu dẫn chứng.

    b. Biện luận cho dẫn chứng đó.

    c. Yêu cầu hành động.
    :rose::rose::rose: