04. TVTPM-vancuong7975(xong)Wiki

8/12/15
04. TVTPM-vancuong7975(xong)Wiki
  • Link PDF

    Link Google Docs

    Link Word Online


    Trái lại tôi muốn được chiến đấu ngay! Fabrixơ kêu lên như vậy với vẻ mặt u uất, mà chị căng tin coi như một dấu hiệu tốt. Tiếng đại bác nhặt hơn và hình như dịch lại gần. Nó bắt đầu tạo nên như là cái phần trầm liên tục trong một cuộc hòa tấu, tiếng này tiếp liền tiếng kia không có khoảng cách nào và trên phần trầm tấu liên miên nghe như tiếng suối xa ấy, người ta phân biệt tiếng súng trường bắn từng loạt.

    Đến lúc ấy, con đường luồn vào một lùm cây rừng. Chị bán hàng căng tin thấy ba bốn người lính cánh mình chạy hết sức nhanh về phía chị. Nhanh nhẹn, chị nhảy xuống và chạy trốn ở cách đường mười lăm hai mươi bước, nấp vào hố một gấc cây lớn mới đào. "Nào, ta thử xem ta có phải là đứa hèn nhát hay không chứ! Fabrixơ tự nhủ. Anh dừng lại bên chiếc xe chị căng tin bỏ trống và rút gươm chờ. Bọn lính không để ý tới anh, cứ chạy dọc theo khu rừng, về phía bên trái con đường.

    Chị căng tin trở về xe, vừa thở vừa nói một cách bình tĩnh:

    • Lính bên mình đấy... Nếu con ngựa của anh tế được thì anh hãy chạy lên phía trước, đi hết khu rừng thử xem có ai trên đồng bằng không.
    Không đợi bảo lần thứ hai, Fabrixo bẻ một cành cây, tuốt hết lá, dang thẳng cánh quất ngựa. Con ngựa khổ tế lên một đoạn rồi trở lại với nước kiệu nhỏ quen thuộc. Chị hàng cho ngựa mình phi lên và thét bảo Fabrixơ.

    • Thôi, dừng lại chứ, dừng lại!
    Lát sau cả hai ra khỏi khu rừng. Đến mép đồng họ nghe tiếng ồn ào dữ dội, đại bác, súng trường nổ tứ phía, bên phải, bên trái, đằng sau. Lùm cây họ vừa ra khỏi mọc trên một mô đất cao hai ba thước, cho nên họ nhìn thấy khá rõ một góc chiến trường. Tuy nhiên không có ai cả trên đồng cỏ tiếp giáp khu rừng. Một hàng dài cây liễu dày và rậm rạp viền cánh đồng cỏ về phía bên kia, cách chỗ họ khoảng một nghìn bước. Một lần khói trẳng lơ lửng trên hàng cây liễu, thỉnh thoảng lại cuốn lên trời. Chị căng tin lúng túng:

    • Đố mà biết trung đoàn nào ở chỗ nào! Không nên vượt thẳng qua đồng cỏ. Nhân thể chú em này - Chị nói với Fabrixơ - nếu chú gặp một lính địch, chú hãy thích nó với mũi gươm, chớ chém sả đấy nhé!
    Lúc đó chị hàng trông thấy bốn tên lính chúng ta đã nói đến, chúng từ khu rừng chui ra đồng, về phía trái con đường. Một tên cưỡi ngựa.

    • Chú em trúng tủ rồi đấy, chị nói với Fabrixơ.

    • Ê! này này! Chị hét lên bảo tên cưỡi ngựa - hãy đến đây uống một cút rượu đã.
    Bọn lính đến gần.

    • Đoàn 6 khinh binh ở đâu?

    • Đằng kia kìa, đi chừng nãm phút thì tới, ở trước con sông đào dọc hàng liễu. Đại tá Macông vừa tử trận đó.

    • Anh có muốn bán con ngựa kia năm Frăng không?

    • Năm Frăng! Mẹ non đùa khá đấy, mẹ non ạ. Năm frăng một con ngựa sĩ quan mà chỉ mười lăm phút nữa thôi, đây sẽ bán năm đồng Napôlêông!

    • Đưa đây một đồng Napôlêông - Chị nói với Fabrixơ. Rồi lại bên tên lính cưỡi ngựa, chị bảo:

    • Xuống ngay! Đồng Napôlêông của anh đây.
    Người lính xuống ngựa, Fabrixơ vui vẻ lên yên. Chị căng tin mở cái túi ky binh nhỏ trên lưng con ngựa cũ. Chị thét bảo bọn lính: - Giúp ta một tay đi chứ, các chú kia! Thấy một phụ nữ vất vả, các chú cứ điềm nhiên đứng ngó như vậy à? Cái túi ky binh vừa chạm lưng, thì con ngựa mới tậu lồng lên, khiến Fabrixơ, vốn là tay cưỡi ngựa cừ khôi, phải dùng hết sức mình mới ghìm nó được.

    • Dấu hiệu tốt đó! Chị căng tin nói - anh ta chưa quen với cái túi đồ, nó cù anh ta.

    Anh lính bán ngựa kêu: “Một con ngựa nhà tướng đó! Đáng giá mười đồng Napôlêông như chơi".

    - Hai mươi frăng đây này! Fabrixơ nói. Anh vui mừng khôn xiết khi cảm thấy có một con ngựa hăng dưới đùi mình.

    Lúc bấy giờ, có một viên đạn đại bác bắn trúng hàng liễu, trúng theo chiều dọc, và Fabrixơ được nhìn thấy quang cảnh lạ mắt những cành con bay ra bốn hướng như vừa bị lưỡi hái quét qua. Người lính nói: "Ái chà! Thằng cục tiến đến gần đó!” và hắn cầm tiền. Bấy giờ khoảng hai giờ.

    Fabrixơ hãy còn ngây ngất với cảnh lạ vừa được xem, thì có một đoàn tướng kéo theo vài mươi ky binh phi ngựa qua góc cánh đồng cỏ rộng có Fabrixơ đứng ngoài biên. Ngựa chàng hí lên, lồng hai ba bận và giật giật mạnh dây cương. Fabrixơ nói: "Đã vậy thì, nào!“.

    Con ngựa được buông cương phi vun vút lên, nhập vào đoàn tùy tùng của các vị tướng. Fabrixơ đếm được bốn cái mũ có viền. Mười lăm phút sau, nhờ anh ky binh đi bên chàng nói mấy tiếng, Fabrixơ biết là một trong các vị tướng đó là thống chế Nê(1)nổi tiếng. Chàng cảm thấy tràn trề hạnh phúc, tuy nhiên chàng không đoán ra tướng nào là thống chế Nê chàng có thể đánh đổi bất cứ thứ gì để biết điều đó, nhưng chàng nhớ là không nên lên tiếng.

    Đoàn người ngựa dừng lại để đi qua một hào rộng đầy nước cơn mưa hôm qua. Dọc hào có hàng cây to, đến hào là hết cánh đồng cỏ về phía trái, cánh đồng cỏ mà Fabrixơ vừa tới là mua được ngựa. Hầu hết đoàn kỵ binh xuống ngựa. Bờ cao rất dốc và trơn, nước trong hào thì ở cách dưới mặt đất hơn một mét. Fabrixơ vui sướng quá sinh đãng trí và nghĩ đến thống chế Nê, đến vinh quang nhiều hơn con ngựa, con ngựa thì lại háo hức, thích chạy nhảy, cho nên con ngựa đã nhảy ào xuống hào, làm nước bắn tung tóe lên rất cao. Một vị tướng bị ướt từ đầu đến chân la hét và văng tục: ”Mẹ kiếp con lợn chết vằm kia!" Fabrixơ cảm thấy nhục hết sức vì lời mắng đó. Anh tự hỏi: “Mình có thể đòi đấu đền danh dự không nhỉ?" Trong khi chờ đợi, để chứng tỏ mình không đến nỗi quá vụng về như thế, anh chàng định cho ngựa leo lên bờ hào đối diện, nhưng bờ dốc quá và cao dễ đến thước rưỡi, hai thước, đành phải bỏ ý định ấy. Thế là anh cho ngựa lội ngược dòng, nước ngập gần đến đầu ngựa, và cuối cùng tìm được một bến uống nước của súc vật. Nhờ dốc ở đấy dịu đi, anh dễ dàng leo lên phía đồng cỏ ở bên kia rãnh nước. Là người đầu tiên lên bờ, anh kiêu hãnh cho ngựa đi bước kiệu dọc theo bờ hào, ở dưới thì bọn ky binh đang loay hoay bởi vì ở nhiều quãng nước sâu đến hơn thước rưỡi. Hai ba con ngựa đâm sợ, muốn bơi, gây nên cảnh bì bõm khủng khiếp. Một viên đội nhìn thấy cách xử trí của chú oắt con ít có vẻ lính tráng đó. Y kêu to:

    - Đi ngược dòng thôi! Có bến nước ở phía trái đấy!

    Lần lượt họ sang bờ được hết.

    Trước đây lúc lên được bờ này, Fabrixơ thấy chỉ có các tướng ở đấy mà thôi. Tiếng đại bác nổ càng dày hơn. Khó khăn lắm anh mới nghe được tiếng nói của vị tướng bị anh tắm nước thét vào tai: Mày bắt con ngựa đó ở đâu vậy?

    Fabrixơ cuống quá, trả lời bằng tiếng Ý;

    • ưhocompratopocoia (Tôi vừa mới mua tức thời).

    • Mày nói gì? Vị tướng hét.
    Nhưng Fabrixơ không trả lời được vì tiếng ồn ảo bây giờ tăng lên dữ dội quá. Chúng ta phải thừa nhận rằng lúc đó người anh hùng của chúng ta chẳng mấy anh hùng. Tuy vậy, trong tâm trạng anh, lòng khiếp sợ chi đứng hàng thứ hai mà thôi, trước hết anh bực bội vì tiếng động làm đau tai nhức óc. Đoàn người ngựa lại phi nước đại, họ vượt qua một cánh đồng lớn vừa cày xong, rải rác nhiều xác người.

    Bọn lính ky vui mừng hét lên: “Lũ áo đỏ! Lũ áo đỏ!".

    Lúc đầu Fabrixơ không hiểu. Cuối cùng anh để ý thấy qủa nhiên hầu hết những xác đó mặc áo quần đỏ. Một điều khiến anh rùng mình kinh tởm, nhiều người trong số áo đỏ bất hạnh đó hãy còn sống, họ kêu la, ý hẳn đề cầu cứu mà không ai dừng lại cứu giúp họ cả, vốn rất từ tâm, anh hết sức khó nhọc giữ cho con ngựa không giẫm lên một tên áo đỏ nào. Đoàn người ngựa dừng lại trong khi Fabrixơ cứ phi lên, mắt đăm đăm nhìn một thương binh khốn khổ, chứ không quan tâm mấy đến bổn phận quân nhân của mình.

    • Mày có đứng lại không oắt con? Viên đội ky binh thét. Lúc ấy Fabrixơ mới nhận thấy mình đã vượt lên trước các vị tướng hai mươi bước về phía bên phải, ngay hướng họ đang nhìn qua ống nhòm. Khi lui ngựa lại đứng sau các ky binh khác, anh thấy vị tướng to nhất đám đang nói chuyện với một vị khác cũng là tướng cách oai vệ, có thể nói gần như quở trách, ông ta văng tục. Fabrixơ không thể cưỡng được tính tò mò và bất chấp lời khuyên giữ mồm giữ miệng của chị bạn quản ngục, anh luyện một câu rất Pháp, rất đúng văn phạm, để nói với người ky binh bên cạnh:

    • Vị tướng chỉ trích vị bên cạnh mình là ai vậy?

    • Dào ôi! Đó là thống chế.

    • Thống chế nào?

    • Thống chế Nê, ngốc ạ! ô hay! Lâu nay chú mày đánh đấm ở đâu vậy?
    Fabrixơ không nghĩ đến việc giận dỗi người mắng mình, mặc dù tính anh rất tự ái. Như chìm đắm trong sự thán phục ngây thơ của tuổi nhỏ, anh ngắm nhìn vị vương tước Matxcơva lừng danh, người dũng cảm trong những kẻ dũng cảm ấy.

    Đột nhiên cả đoàn phi ngựa đi. Lát sau Fabrixơ nhìn thấy ở cách hai mươi bước về phía trước, một đám đất cày được xáo lật lên một cách kỳ lạ. Rãnh này xăm xắp nước và đất ẩm ướt trên đầu luống nay lên tơi tả thành những mảnh nhỏ ở độ cao quãng một thước hay hơn. Fabrixơ nhận nhìn lướt qua điều lạ đó rồi lại nghĩ về vị thống chế quang vinh. Bỗng anh nghe một tiếng đanh gọn ở bên mình, đó là tiếng hai ky binh ngã ngựa vì trúng đạn đại bác. Khi anh nhìn họ, thì họ đã bị đoàn bỏ lại sau cách vài mươi bước. Điều khiến anh kinh tởm là một con ngựa máu me đang giãy giụa trên đất cày, chân vướng vào chính ruột mình, nó muốn chạy theo các con khác, máu nó chảy trên bùn.

    "Chao ôi! Thế là mình ra trận rồi đây. Anh tự bảo - Ta đã thấy lửa đạn thực sự! Anh đắc ý lặp lại - Bây giờ ta mới đúng là một quân nhân". Lúc ấy, đoàn người ngựa phi nước đại và vị anh hùng của chúng ta hiểu là chính đạn đại bác đã làm cho đất bay vung tứ phía. Anh hoài công nhìn về phía đạn Pháp bắn tới, anh chỉ thấy làn khói trắng của khẩu đội bốc lên ở khoảng cách rất xa giữa tiếng rền đều đều và liên miên của đại bác, anh nghe thấy như có tiếng súng bắn gần hơn nhiều. Anh chịu, chẳng hiểu gì cả.Lúc bấy giờ, các tướng và đoàn tùy tùng đì xuống một con đường nhỏ đầy nước, thấp hơn mặt đồng một thước rưỡi.

    Thống chế dừng lại và một lần nữa, đưa ống nhòm lên mắt. Lần này Fabrixơ được ngắm ông tha hồ. Anh thấy ông ta tóc vàng, rất vàng, da mặt đỏ."ở Ý không có gương mặt kiểu ấy" anh tự bảo. Rồi rầu rầu, anh nghĩ thêm: "Như mình, da xanh trắng quá và tóc hung hung, chẳng bao giờ mình được như thế". Đối với anh, những lời ấy có nghĩa là: chẳng bao giờ mình được là một anh hùng! Anh nhìn bọn lính ky tất cả đều có râu mép vàng, trừ một người.

    Fabrixơ nhìn bọn lính ky, thì bọn lính ky cũng nhìn anh. Anh thấy xấu hổ và muốn khỏi thẹn, anh quay đầu về phía quân địch. Đó là những hàng dài những người mặc áo đỏ, tuy nhiên điều đó không lạ, cái lạ là trông họ quá bé nhỏ. Những dây dài đó, vốn là những trung đoàn hoặc sư đoàn, trông không cao hơn những hàng rào. Một hàng ky binh đó cho ngựa đi nước kiệu để dịch lại gần con đường thấp mà thống chế và đoàn tùy tùng vừa men theo từng bước, chân ngựa giâm giấp trong bùn. Khói che không cho thấy gì về hướng đó đang đi tới, một đôi khi cho thấy có những người từ trong làn khói phi ngựa hiện ra.

    Thình lình Fabrixơ thấy từ phía địch bốn người phi ngựa như bay tới. "Ái chà! Chúng ta bị tấn công rồi!" anh tự bảo. Rồi thấy có hai trong bốn người đó nói chuyện với thống chế. Một tướng trong đoàn của thống chế cùng với hai ky binh tùy tùng và bốn người vừa mới đến phi ngựa về phía địch. Qua khỏi một kênh nhỏ, Fabrixơ thấy mình đi cạnh một viên đội có vẻ dễ thôi. Anh nghĩ thầm: "Mình phải chuyện trò với anh này, như thế có lẽ chúng sẽ hết ngắm nhìn mình". Anh nghĩ ngợi lâu lắm, cuối cùng mới lên tiếng: Thưa ông, lần này là lần đầu tiên tôi dự trận, nhưng đây có phải là một trận đánh thật sự không?

    • Hơi hơi như thế. Nhưng anh, anh là ai chứ?

    • Tôi là em vợ một đại úy.

    • Đại úy ấy tên gì?
    Người anh hùng của chúng ta bí quá, anh không dự kiến câu hỏi đó. May thay, thống chế và đoàn người ngựa lại phi đi. "Mình phải nói cái tên nào cho đúng tên là người Pháp đây nhỉ?" anh tự hỏi. Mãi anh mới nhớ cái người chủ khách sạn anh trọ ở Pari, anh cho ngựa chạy lại gần ngựa viên đội và lấy hết gân cổ hét: “Đại úy Mơniê!".

    Viên độì nghe không rõ vì tiếng pháo rền vang, đáp: "À! Đại úy Tơliê à? Thế thì ông ấy hy sinh rồi". "Hay lắm! Fabrixơ thầm nói. Đại úy Tơliê, mình phải làm mặt rầu rĩ mới xong!" Anh kêu "Ối! Trời ơi!" và anh làm ra mặt thiểu não.

    Đoàn đã ra khỏi con đường thấp và đang đi qua một đám ruộng cỏ hẹp, họ phi cháy đất vì đạn đại bác lại bay tới, thống chế định đi tới một sư đoàn kỵ binh. Đoàn người ngựa đi giữa những xác chết và những người bị thương. Nhưng cảnh tượng này đã không gây xúc động mạnh cho Fabrixơ như trước nữa, anh có việc khác phải suy nghĩ.

    Trong khi đoàn dừng lại, Fabrixơ nhìn thấy cỗ xe nhỏ của một chị bán căng tin, lòng trìu mến đối với nghiệp phường đáng kính đó át tất cả, anh phóng ngựa đuổi theo.

    • Trở lại đây, con bò kia! Viên đội hét.
    "Hắn làm gì được ta ở đây chứ?" Fabrixơ nghĩ thầm và cứ phi ngựa đến chỗ chị bán hàng. Vừa thúc ngựa, anh vừa có ít nhiều hy vọng chị này là chị tốt bụng lúc ban sáng. Nhưng ngựa và xe thì giống nhau lắm, mà chủ xe thì khác, chị này, anh thấy có vẻ là một người ác. Khi đến tiếp xúc với chị, Fabrixơ nghe chị nói: “Tiếc là hắn đẹp trai quá đi chứ!". Một cảnh tượng

    ghê rợn đang chờ đón anh lính mới, người ta cưa chân cho một anh lính giáp ky, một thanh niên cao lớn, đẹp đẽ. Fabrixơ nhắm mắt lại và uống liền bốn cốc rượu mạnh.

    • Cái anh còi này tợn gớm: chị bán hàng kêu. Rượu mạnh khiến Fabrixơ sáng ý. Ta phải mua chuộc cảm tình của những anh bạn ky binh trong đoàn mớí được!
    Anh bảo chị bán hàng: Chị để nốt cho tôi chỗ rượu còn lại.

    • Nhưng anh có biết rằng cái chỗ còn lại đó đáng giá mười frăng một ngày như hôm nay không?
    Khi Fabrixơ phi ngựa trở về với đoàn, viên đội nói:

    • À! Anh mang chất cay về cho bọn tớ đấy à? Ra anh đào ngũ vì thế! Đưa xem!
    Chai rượu chuyền tay. Anh lính cuối cùng dốc chai uống xong, tung nó lên trời và thét: "Cảm ơn anh bạn!"

    Cả bọn nhìn anh ân cần. Những cái nhìn đó như cất gánh nặng nghìn cân trên ngực Fabrixơ, tim anh thuộc loại tinh chế, cần có cảm tình của xung quanh. Thế là những bạn đồng ngũ không ác cảm với anh nữa, giữa họ với anh đã có mối liên lạc! Fabrixơ thở phào khoan khoái, rồi giọng tự nhiên thoải mái, anh hỏi viên đội:

    • Đại úy Tơlíê đã chết, vậy thì tôi có thể gặp chị tôi ở đây? Nói rõ được Tơliê hay cho Môniê, Fabrixơ tưởng mình là một Makiaven nhòa(1).

    • Điều đó tối nay anh sẽ biết, viên đội đáp.
    Đoàn người ngựa lại đi, để đến một số sư đoàn ky binh. Fabrixơ thấy mình đã say hẳn. Anh uống quá nhiều, nên hơi

    1. Machiavel: Nhà chính trị lớn và sử gia Ý, đồng thời là một nhà văn yêu nước (1469-1527). Phương châm chính trị của ông là: Nếu mục đích tốt thì phương tiện gì cũng dùng được.
    lảo đảo trên yên ngựa. Rất đúng lúc, anh nhớ lại một câu người đánh xe của mẹ anh thường nói: Khi mình đã quá chén thì mình phải nhìn thẳng giữa hai tai ngựa và cứ thấy người bên cạnh làm gì thì làm nấy.

    Thống chế dừng lại khá lâu ở nhiều binh đoàn lính ky và ra lệnh cho họ tấn công. Nhưng trong khoảng một hay hai tiếng đồng hồ gì đó, Fabrixơ chẳng hay biết gì về những sự việc xảy ra quanh mình. Anh thấy quá mệt mỏi, mỗi khi con ngựa nhảy một cái thì anh rơi phịch xuống yên như một cục chì.

    Thình lình anh nghe tiếng viên đội thét bảo lính:

    • Tụi bay không thấy Hoàng đế sao, hử đồ lợn?
    Tức khắc đoàn tùy tùng hét xé tai: "Hoàng đế vạn tuế!” Ai cũng đoán tất Fabrixơ phải chống con mắt mà nhìn. Nhưng anh chỉ thấy mấy vị tướng phi ngựa, cũng có một đoàn lính hộ vệ đi theo. Những bờm dài lòng thòng mà bọn long ky binh đeo trên mũ không để cho anh nhận thấy các gương mặt. "Thế là ta không được chiêm ngưỡng hoàng đế trên chiến trường, do những cốc rượu mạnh chết tiệt kia!". Ý nghĩ ấy làm anh tỉnh hẳn người lại.

    Đoàn lại đi xuống một con đường đầy nước, ngựa muốn uống nước. Fabrixơ hỏi người đi bên cạnh:

    • Hoàng đế có đi qua đây thật sao?

    • Ầy! Sao không thật! Người mặc áo không thêu đó. Làm sao mà anh lại không trông thấy nhỉ? Người đồng độí ân cần trả lời. Fabrixơ rất muốn chạy theo đoàn hộ giá hoàng đế và nhập bọn với họ. Được thực sự chiến đấu đằng sau vị anh hùng đó thì hạnh phúc biết bao nhiêu! Anh sang Pháp cũng chỉ với mục đích kia". Ta có toàn quyền làm việc đó - Anh tự nhủ. Bởi vì ta không có lý do gì để làm cái việc ta làm hiện nay ngoài ý muốn của con ngựa ta nó cứ việc phi lên để đi theo các vị tướng ấy”. Nhưng Fabrixơ quyết định ở lại vì những ky binh, bạn đồng đội mới của anh đối với anh có vẻ tử tế, anh bắt đầu cho mình là bạn thiết cốt của những người lính phóng ngựa bên cạnh anh từ mấy tiếng đồng hồ nay. Anh thấy giữa họ và anh có cái tình bạn cao quý như giữa các nhân vật của Lơ Tátxơ vả Ariốtxtơ. Nếu anh gia nhập đoàn hộ vệ hoàng đế, thì phải có một phen làm quen lại, cũng có lẽ họ không ưa anh, vì họ là long ky binh, còn anh mặc quân phục khinh ky binh như tất cả những ai hộ vệ thống chế. Cái cách bạn đồng đội nhìn anh bây giờ đây khiến cho anh cảm thấy vô cùng hạnh phúc, có gì khó nhất trên đời mà có thể làm cho các bạn, Fabrixơ cũng làm ngay! Tâm trí anh đang bay lượn trẽn mây. Anh thấy gì cũng thay đổi kể từ khi anh có bạn hữu. Có những câu hỏi cháy bỏng trong lòng, nhưng "ta còn hãy say rượu, ta phải nhớ lời dặn dò của chị quản lao". Đi ra khỏi con đường trũng, anh nhận thấy đoàn hộ vệ không đi theo thống chế nữa. Vị tướng mà họ hộ vệ lúc này người cao lớn, mảnh mai, gương mặt không tình cảm, mắt dữ tợn.
    Vị tướng ấy chẳng ai khác là bá tước A, tức trung úy Rôbe của ngày 15 tháng 5 năm 1796 xưa. Giá ông ta được thấy Fabrixơ Đen Đônggô, thì ông ta vui sướng biết chừng nào!

    Đã từ lâu Fabrixơ không thấy đạn đại bác bắn tung đất lên thành từng mảnh đen nhỏ nữa. Đoàn đi đến phía sau một trung đoàn lính giáp ky, anh nghe rõ tiếng đạn súng trường đập vào áo giáp và nhìn thấy nhiều người ngã ngựa.

    Mặt trời xuống rất thấp và sắp lặn khi đoàn người ngựa ra khỏi con đường trũng và leo lên một dốc nhỏ cao hơn thước để đi vào một đám đất cày ải. Fabrixơ nghe một tiếng lạ bên cạnh mình, anh quay đầu thấy bọn người đã ngã cùng với ngựa của họ.

    Cả vị tướng cũng ngã nhưng ông đã đứng lên, mình đầy máu me. Fabrixơ nhìn mấy ky binh nằm dưới đất mà hãy còn giãy đành đạch mấy cái, người thứ tư hét: "Kéo tao ra với chứ!".

    Viên đội cùng hai ba người xuống ngựa để giúp vị tướng, ông ta tựa lên vai viên sĩ quan phụ tá, gắng bước mấy bước. Ông cố lánh xa con ngựa vì nó nằm giãy giụa dưới đất và đá chân một cách điên cuồng.

    Viên đội tiến lại gần Fabrixơ. Lúc bấy giờ vị anh hùng của chúng ta nghe có tiếng nói ở đằng sau, gần sát bên tai: "Chỉ có con ngựa này còn phi lên được".

    Fahrixơ cảm thấy người ta nắm chân mình, họ nhấc chân anh đồng thời luồn tay qua nách mà nâng người anh lên, họ đưa anh lướt qua trên mông ngựa, rồi thả anh rơi ngã ngồi dưới đất.

    Viên phụ tá nắm cương ngựa của Fabrixơ, nhờ có viên đội giúp, vị tướng lên ngựa và phóng đi ngay. Sáu ky binh còn lại cũng vội vã phi theo. Fabrixơ điên tiết đứng lên rồi vừa chạy đuổi theo họ vừa hét: Ladri. Ladri(trộm, trộm). Giữa chiến trường mà đuổi theo kẻ trộm thì cũng thật buồn cười.

    Vị tướng, bá tước A, cùng với đoàn hộ vệ trong chốc lát đã khuất sau một rặng liễu. Giận sôi máu, Fabrixơ cũng đến bên rặng liễu ấy, và gặp ngay một con kênh đào sâu mà anh vượt qua. Đến bờ bên kia, anh lại trông thấy vị tướng và đoàn hộ vệ nhưng cách rất xa, anh chửi toáng lên. Họ lại đi khuất sau cây cối nữa: "Quân ăn trộm! Quân ăn trộm" anh hét lên lần này bằng tiếng Pháp. Thất vọng vì bị phản phúc kia hơn là vì mất ngựa, anh ngồi phịch xuống bên hố, mệt mỏi, đói lả đi. Giá con ngựa đẹp của anh bị quân địch lấy thì anh có nghĩ đến làm gì! Nhưng bị phản, bị lừa bởi chính viên đội mà anh yêu quý và những ky binh mà anh coi như anh em, điều đó làm anh đau xé gan ruột. Không thể nào khuây khỏa trước nỗi phản phúc nhục nhã đó, anh tựa lưng vào một gốc liễu, khóc như mưa như gió. Anh rứt rời và hủy bỏ từng cái những mơ ước về tình bạn hào hiệp và cao quý, như tình bạn giữa các anh hùng trong "Giêruzalem giải phóng". Chết có sao đâu nếu quanh ta có những con người dũng cảm và trìu mến, những người bạn chiến đấu cao thượng họ siết chặt tay ta khi ta hắt ra hơi thở cuối cùng. Nhưng mà làm sao giữ được lòng nhiệt thành khi bị vây giữa những tên vô lại xấu xa như thế! Fabrixơ cũng cường điệu như bất cứ ai đương phẫn uất.

    Xúc động một hồi, anh nhận thấy đạn đại bác bắt đầu bay đến tận nơi hàng cây anh ngồi nghĩ ngợi. Anh đứng lên, tìm hướng đi. Anh nhìn những đám ruộng cỏ chạy dọc theo con kênh đào lớn và hàng liễu rậm rạp, và như nhận ra cảnh quen. Có một binh đoàn lính bộ đang vượt qua hào để đi vào đồng cỏ, ở cách một phần tư dặm trước mặt anh. Fabrixơ nghĩ thầm: "chút nữa thì mình ngủ quên! Phải đừng để cho bị bắt làm tù binh". Anh rảo bước rất nhanh. Đi tới được một đoạn, anh hết lo ngại, anh đã nhận ra quân phục, những trung đoàn mà anh lo sẽ chặn lối anh là những trung đoàn lính Pháp. Anh đi chệch về bên phải để gặp họ.

    Sau cơn đau tinh thần vì bị lừa, bị cướp trâng tráo như vậy thì có một cơn đau khác mỗi lúc càng nhói thêm! Anh đói quá sức. Anh mừng rỡ biết bao sau khi đã đi, nói cho đúng đã chạy được mười phút thì thấy binh đoàn lính bộ ấy, họ
    cũng đi rất nhanh, đóng lại như để chiếm vị trí. Mấy phút sau, anh đã đứng giữa những người lính đầu tiên.

    • Các bạn ạ, các bạn có thể bán cho tôi một mẩu bánh không?

    • Ái chà! Lại có đứa coi chúng ta là những anh hàng bánh mì!
    Câu nói ác đó và tiếng cười của cả bọn làm cho Fabrixơ khổ tâm quá. Chao ôi! Chiến tranh không phải là sự hứng khởi chung cao quý của những tâm hồn say đắm vinh quang hay sao? Nghe những tuyên ngôn của Napôlêông, anh đã tưởng tượng ra như vậy! Anh ngồi xuống, đúng hơn, anh buông người ngã ngồi lên cỏ, mặt trở nên xanh nhợt. Anh lính đối đáp với anh đã dừng lại ở cách mươi bước, để lấy khăn tay lau ổ súng, hắn thấy vậy bèn đi đến bên anh và vứt cho anh một mẩu bánh, rồi thấy anh không nhặt, anh ta bẻ một miếng khác đút vào mồm anh. Fabrixơ mở mắt ra, ăn bánh, mà không dù sức nói gì. Cuối cùng, khi anh đưa mắt tìm anh lính để trả tiền bánh, thì chỉ thấy có mỗi một mình anh, những người lính gần nhất bây giờ cũng đã ở cách xa trăm bước và đang đi. Anh đứng lên như cái máy và đi theo họ. Anh đi vào một khu rừng. Anh mệt lả người, đưa mắt tìm một chỗ thuận tiện để ngồi nghỉ. Nhưng anh vui sướng biết bao khi nhận ra con ngựa, rồi cái xe, cuối cùng là chị bán hàng căng tin lúc ban sáng! Chị chạy lại và đâm hoảng khi thấy vẻ mặt Fabrixơ.

    • Đi tị nữa, chú em ạ! Chú bị thương ư? Còn con ngựa quý của chú đâu? Chị nói như vậy và dắt anh lại xe rồi đỡ cho anh lên xe. Vừa lên xong, người anh hùng của chúng ta lả ra mà ngủ, ngủ say sưa.
    Chương thứ tư

    Không gì đánh thức Fabrixơ nổi, kể cả những phát súng trường bắn rất gần cỗ xe, cũng như bước kiệu của con ngựa mà chị hàng căng tin thẳng tay quất đánh. Cả ngày tin rằng bên họ chiến thắng, đến lúc bất ngờ bị từng đám đông đặc ky binh Phổ tấn công, trung đoàn phải rút lui hay nói đúng, phải chạy trốn về đất Pháp.

    Viên đại tá vừa thay chân Macông, một người trai trẻ ăn mặc rất lịch sự, cũng bị chém chết, viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng lên chỉ huy thay ông là một ông già đầu bạc, ông cho trung đoàn dừng lại và thét bảo lính: "Mẹ kiếp! Thời cộng hòa, khi nào địch bức bách lắm, không thể dừng ta mới rút... các anh phải giữ từng tấc đất, phải tử chiến mới được, cái đất mà giờ đây bọn Phổ muốn xâm chiếm là đất tổ quê cha rồi đó!”.

    Cỗ xe con dừng lại, Fabrixơ thức giấc đột ngột. Mặt trời lặn từ lâu, anh lấy làm lạ sao đã hầu như vào đêm. Binh lính chạy ngược chạy xuôi rất lộn xộn khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Anh thấy họ có dáng như tiu nghỉu. Anh hỏi chị căng tin:

    - Có cái gì thế chị?

    - Chẳng gì cả. Chỉ có điều là chúng ta đi đứt rồi, chú em ạ. Ky binh Phổ đang băm vằm chúng ta, có thế thôi. Ban đầu, cái anh tướng ngốc cứ tưởng là ky binh ta. Nào, nhanh tay đi, giúp ta chữa cái cần xe bị gãy cho con Côcốt chút. Mấy phát súng nổ ở cách mươi bước. Fabrixơ đã tươi tỉnh và khỏe ra, anh tự nhủ: "Phải nói là cả ngày hôm nay, ta chưa được đánh chác gì" Anh nói với chị căng tin: "Tôi phải chiến đấu mới được".

    • Yên trí. Chú sẽ được chiến đấu, chiến đấu đến ngán mà thôi! Ta hỏng bét rồi còn gì!
    Chị gọi một hạ sĩ đang đi qua:

    • Ôbry, người anh em, thỉnh thoảng anh hãy trông chừng cái cỗ xe con này với nhé.

    • Anh sắp đánh nhau ư? Fabrixơ hỏi Ôbry.

    • Không đâu, tớ sắp đi giầy đẹp để khiêu vũ đây!

    • Tôi theo anh.

    • Tôi gửi chú ky binh nhỏ đó cho anh nhé! Chị căng tin hét lớn. Chú tư sản trẻ măng đó gan dạ đấy.
    Hạ sĩ Ôbry không nói gì, cứ đi. Tám chín anh lính chạy đến với anh. Anh đưa họ đến sau một cây sồi chung quanh có những bụi gai. Đến đó, cũng vẫn không nói rằng, anh bố trí họ ở bìa rừng, trên một tuyến đái, người nọ cách người kia ít nhất là mười bước. Rồi lần đầu tiên, anh lên tiếng:

    • Này, này tụi bay chớ có bắn trước khi có lệnh! Phải nhớ là tụi bay mỗi đứa chỉ còn ba phát đạn thôi đó.
    Fabrixơ tự hỏi không biết cái gì đã xảy ra. Cuối cùng, chỉ còn anh với anh hạ sĩ, anh nói:

    • Tôi không có súng.

    • Câm mồm cái đã! Cứ tiến lên theo hướng kia, cách năm mươi bước ở phía trước rừng, mày sẽ tìm thấy một chú lính của trung đoàn trong số tội nghiệp vừa bị bắn chết, mày lấy súng và túi đạn của hắn. Nhớ đừng lột đồ đạc của một đứa bị thương, hãy tước súng đạn của một thằng chết, thực sự chết mới được. Và nhanh lên chứ không thì bị quân ta bắn đó. Fabrixơ chạy đi rồi nhanh chân trở lại với một cây súng và một túi lính.

    • Nạp đạn đi và nấp đằng sau cây kia, cần nhớ nhất là đừng bắn trước khi tao ra lệnh cho mày bắn... Trời đất quỷ thần ơi! - anh hạ sĩ bỏ dở câu nói để kêu lên, hắn cũng không biết đến cả nạp đạn nữa kìa!...
    Anh ta vừa giúp Fabrixơ vừa thuyết tiếp:

    • Khi một ky binh địch phi ngựa đến để băm chặt mày, mày cứ việc chạy quanh cái cây đó và chờ cho hắn đến sát miệng súng, cách mày ba bước, hãy lấy cò, phải chờ cho mũi lê của mày gần như chạm quân phục nó đã.

    • Vứt cây mã tấu to tướng của mày ngay đi chứ còn chờ gì nữa - Anh hạ sĩ thét. Mẹ kiếp! Mày muốn cho nó báo mày ngã hay sao? Ngày nay họ giao cho chúng ta những thứ lính tráng như thế nào ấy! Anh ta vừa nói vừa tự tay giật cái mã tấu, giận dữ ném ra xa.

    • Còn mày thì hãy lấy khăn lau viên đá súng của mày đi. Nhưng mà, mày đã bắn súng lần nào chưa?

    • Tôi là một người săn bắn.
    Anh hạ sĩ thở phào một cái, kêu:

    • Ơn Trời! Cần nhất là chớ bắn trước khi được lệnh ta.
    Thế rồi anh bỏ đi.

    Fabrìxơ vô cùng hớn hở. Anh nghĩ thầm: "Thế là ta sắp được đánh nhau thực sự, được giết một tên địch đây! Sớm nay, chúng phóng đạn đại bác đến, mà mình thì chẳng làm gì sất, chỉ biết phơi thân cho chúng bắn, chết như chơi! Rõ là cái nghề lừa nhau! Anh tò mò trông nhìn tứ phía. Lát sau, anh nghe bảy tám tiếng súng nổ rất gần. Nhưng không có lệnh bắn, anh cứ đứng im sau gốc cây.Lúc ấy đã vào đêm, Fabrixơ tưởng như mình đang rình gấu trên núi Tramedina, mạn trên Griăngta. Anh bỗng có một sáng kiến của kẻ đi săn. Anh lấy một liều đạn trong túi và bóc vỏ lấy viên đạn ra: "Nếu mình thấy nó, mình không được bắn hụt”. Anh nói thế rồi tọng viên đạn thứ hai này vào nòng súng. Anh nghe hai phát súng nổ ở sát bên gốc cây mình nấp, đồng thời một lính ky mặc quân phục xanh phóng qua trước mặt, đi từ bên phải sang bên trái. Anh tự nhủ: "Hắn không cách mình ba bước, nhưng mà ở tầm này, ta bắn cũng chắc ăn, "Anh day nòng súng theo tên lính ky, cuối cùng bấm cò. Tên lính ky ngã nhào cùng với con ngựa. Fabrixơ ngỡ mình đang đi săn, anh hí hửng lao đến bên con mồi vừa bị hạ. Anh suýt chạm cái người đang hấp hối đó thì hai tên ky binh Phổ khác nhanh không thể tưởng tượng phóng ngựa đến để chém sả anh. Fabrixơ chạy bán sống bán chết vào trốn trong rừng, để chạy thật nhanh, anh vứt súng. Bọn ky binh Phổ chỉ còn cách anh ba bước thì anh kịp chui vào một khu sồi mới trồng, thân cây chỉ bằng cánh tay. Nhưng cây con rất thẳng đó được trồng viền cánh rừng. Bọn lính ky bị cản lại một lát, rồi cũng vượt qua và đuổi theo Fabrixơ trong một khu rừng mới. Anh lại sắp ở vào tầm mã tấu của chúng thì vừa đến bảy tám gốc cây to và tránh vào đó. Thình lình anh thấy lửa táp vào mặt, lửa của năm sáu phát súng nổ phía trước. Anh cúi đầu. Khi ngẩng lên anh thấy viên hạ sĩ đứng trước mặt. Anh ta hỏi:

    • Mày có giết được thằng của mày không?

    • Có, nhưng tôi mất súng.

    • Súng thì chúng ta không thiếu. Mày khá đấy khỉ ạ. Mặt mũi mày có vẻ thộn, nhưng mày đã tỏ ra xứng đáng hôm nay, còn bọn lính tồi kia thì đã bắn hụt hai thằng đuổi theo mày, dù chúng lao ngay đến phía họ. Tao thì tao không trông thấy chúng. Bây giờ thì phải chuồn ngay, chuồn nhanh, trung đoàn có dễ ở cách chúng ta năm trăm thước, và lại có cái đồng cỏ nhỏ kia chúng ta dễ bị bao vây ở đó lắm.
    Viên hạ sĩ vừa nói vừa rảo bước đi nhanh, cùng với mười tên lính trong tiểu đội anh ta. Đi được vài trăm bước, vừa đến cánh đồng cỏ anh ta nói thì gặp một vị tướng bị thương do viên phụ tá và một gia bộc khiêng. Giọng yếu ớt, ông bảo viên hạ sĩ:

    • Anh cắt cho ta bốn người, cần mang ta đến trạm quân y. Chân ta bị bắn gãy.

    • Kệ xác nhà anh, viên hạ sĩ đáp, kệ xác nhà anh và tụi tướng nhà anh. Hôm nay tụi các anh đều phản Hoàng Đế tất.

    • Thế nào? Viên tướng giận dữ quát - Anh không tuân lệnh tôi à? Anh có biết tôi là bá tước B, tư lệnh sư đoàn anh hay không? v.v...
    Ông ta còn lắm lời hơn nữa. Viên phụ tá xông đến bọn lính. Anh hạ sĩ đâm một nhát lê vào cánh tay y, rồi bước đi vùn vụt cùng với tốp lính, vừa đi vửa chửi rủa: "Ước gì chúng nó đều bị gãy tay gãy chân hết như mày! Một lũ bát nháo, tất cả đều bán mình cho bọn Buốcbông và phản bội Hoàng Đế!”. Nghe lời tố giác ghê gớm đó, Fabrixơ rất đỗi kinh ngạc.

    Vào khoảng mười giờ đêm, tốp người ít ỏi đó đuổi kịp trung đoàn, lúc vừa đến một làng lớn có nhiều đường phố chật hẹp, Fabrixơ nhận thấy viên hạ sĩ Ốbry tránh không trình báo với một sĩ quan nào. "Không có cách gì đi lên được!" Viên hạ sĩ thét. Tất cả những đường phố đó đều tắc nghẽn vì những lính bộ, lính ky, nhất là xe và pháo chen chúc. Đi được vài mươi bước phải dừng lại ai cũng nổi nóng, cũng văng tục. Anh hạ sĩ thét: Lại một lũ phản bội nào chỉ huy đây! Nếu bọn đỏ khôn, vòng bọc cái làng này thì chúng ta sẽ bị tóm như một lũ chó. Còn chúng bay thì theo tao. Fabrixơ nhìn lại thấy chỉ còn sáu anh lính đi theo viên hạ sĩ. Qua một cái cửa lớn bỏ ngỏ, họ vào một sân sau rộng lớn. Họ đi lang thang trong vườn, mất phương hướng. Cuối cùng vượt qua hàng rào, họ tới một đám ruộng lớn gieo lúa mì đen. Họ theo hướng có tiếng ồn và tiếng la ó mà đi và chưa đầy nửa tiếng đồng hồ sau đó, họ đã trở lại con đường cái lớn sau khi đường đã xuyên qua khỏi làng kia. Hào ở hai bên đường đầy rẫy những súng ống vứt bỏ. Fabrixơ chọn lấy một khẩu. Đường thì rất rộng nhưng nghẽn vì xe cộ, vì người chạy trốn đến nỗi trong nửa giờ họ chỉ tiến lên được năm trăm bước là cùng. Có người nói con đường ấy dẫn đến Sáclơroa. Khi đồng hồ làng đánh mười một tiếng, viên hạ sĩ bảo:

    • Ta vượt qua đồng lần nữa thôi!
    Tốp của họ chỉ còn ba lính, viên hạ sĩ và Fabrixơ. Đến cách đường cái chừng một phần tư dặm một anh lính bảo:

    • Tôi chịu thôi, không đi được nữa.
    • Tôi cũng thế, Một anh khác nói.
    • Chuyện mới lạ nhỉ! Viên hạ sĩ bảo, chúng ta ai cũng đều vậy cả, nhưng chúng bay cứ làm theo tao bảo rồi sẽ thấy được việc cho coi! Anh thấy năm sáu cái cây dọc một cái hố ở giữa cánh đồng lúa mênh mông. Anh bảo lính: "Đến mấy cái cây đó đi!” Khi đã đến, anh ta bảo: Chúng bay nằm xuống đó và nhớ đừng làm ồn. Nhưng trước khi ngủ, đứa nào còn bánh mì nhỉ?

    • Tôi! Một anh lính nói.

    • Đưa đây! Anh hạ sĩ phán một cách kẻ cả. Anh chia bánh ra làm năm phần và lấy cho mình miếng nhỏ nhất. Rồi vừa ăn, anh vừa nói:

    • Độ mười lăm phút trước khi trời sáng, chúng ta sẽ bị bọn ky binh địch ập tới sau lưng, tất cả đừng để cho chúng băm chết. Một đứa lẻ loi mà bị lính ky đuổi theo những cánh đồng rộng này thì đi đứt, nhưng năm đứa thì lại có thể thoát được. Hãy theo tao, đoàn kết với nhau chặt chẽ, chỉ bắn thật gần, được vậy tao dám cả quyết là tối mai, tao sẽ đưa chúng mày đến Sáclđroa.
    Một giờ trước khi trời sáng, viên hạ sĩ đánh thức họ dậy. Anh ta bắt họ nạp đạn lại. Tiếng ồn ào trên đường cái cứ vang lên suốt đêm bây giờ vẫn còn tiếp nối nghe như tiếng suối đổ từ xa. Fabrixơ khờ khạo nói với viên hạ sĩ:

    • Nghe như một đàn cừu chạy trốn.

    • Mày có câm họng đi không, oắt con? Viên hạ sĩ tức tối quát. Còn ba tên lính trong toán quân của anh thì nhìn Fabrixơ với vẻ giận dữ y như Fabrixơ vừa thóa mạ Chúa không bằng! Phải, nó đã thóa mạ dân tộc.
    "Thế này thì quá lắm! - Fabrixơ nghĩ thầm, ta đã nhận thấy điều ấy ở triều đình phó vương Milăng. Ừ! Thì họ có chạy trốn đâu! Không thể nói sự thật với lũ Pháp này khi sự thật chạm tính phô trương của họ. Còn cái bộ dữ tợn của họ thì ta có sá gì, ta cần phải làm cho họ hiểu điều đó".

    Họ vẫn đi cách dòng ngưòi đào tẩu đông nghịt trên đường cái đó năm trăm bước. Đi được chừng một dặm, họ vượt qua một con đường nhỏ tiếp giáp với đường cái, trên đó nhiều binh lính đang nằm ngủ. Fabrixơ bỏ ra bốn mươi frăng mua một con ngựa khá tốt và chọn cẩn thận một thanh mã tấu to thẳng, trong số vứt lỉnh kỉnh hai bên đường. Anh nghĩ: "Người ta bảo phải đâm, thì cái này thích hợp nhất". Đóng bộ như vậy xong, anh tế ngựa theo kịp ngay viên binh sĩ đã đi lên trước. Anh giậm chặt chân trên bàn đạp, đưa tay trái nắm vỏ gươm, nói với bốn người Pháp kia: Cái bọn chạy trốn trên đường cái kia giống như một bầy cừu... chúng chạy như những con cừu khiếp sợ...

    Fabrixơ nhấn mạnh trên tiếng cừu bao nhiêu cũng vô hiệu, những người đồng hành không nhớ là trước đấy một giờ, họ đã phật ý vì tiếng cừu đó. Ở đây sự tương phản giữa hai tính cách Pháp và Ý bộc lộ: rõ ràng là người Pháp sung sướng hơn, họ cứ để cho những biến cố trong cuộc đời trôi tuồn tuột và chẳng thèm nhớ thù ghi hận.

    Sau khi nói về những con cừu, Fabrixơ lấy làm bằng lòng về mình lắm, điều ấy chẳng cần phải giấu diếm. Tốp người đó vừa đi vừa chuyện trò. Đi được hai dặm, viên hạ sĩ vẫn lấy làm lạ sao không thấy ky binh địch đến, anh ta bảo Fabrixơ:

    • Mày là ky binh của chúng ta! Mày hãy phi ngựa đến cái trại trên mô đất kia, hỏi người nông dân chủ trại xem có bán cái ăn cho chúng ta không. Nói rõ chúng ta chỉ có năm mống. Nếu hắn do dự, mày đưa trước cho hắn năm frăng trong số tiền riêng của mày. Và mày cứ yên lòng, chúng ta sẽ lấy lại đồng bạc sau khi ăn uống.
    Fabrixơ nhìn viên hạ sĩ, thấy anh luôn luôn nghiêm trang, lại thực sự có một uy thế tinh thần. Anh tuân lệnh. Mọi việc xảy ra như viên tổng chỉ huy dự kiến, duy Fabrixơ khẩn khoản yêu cầu anh em không nên bức người nông dân đưa lại đồng năm frăng anh đã trao. Anh nói:

    • Tiền đó là của tôi, không phải tôi trả thay cho các anh đâu, mà tôi trả về khoản lúa anh ta cho ngựa tôi ăn.
    Fabrixơ phát âm tiếng Pháp tồi quá khiến các bạn đường tưởng anh có giọng kẻ bề trên, họ bực lắm và từ đó họ chuẩn bị cho một cuộc đấu dành cho lúc cuối ngày. Họ thấy anh ta khác xa họ, thế là lấy làm khó chịu. Ngược lại Fabrixơ bắt đầu thấy rất mến họ. Họ lầm lụi đi đã hai tiếng đồng hồ, không chuyện vãn gì nữa, cho đến khi anh hạ sĩ nhìn lên đường cái, reo một cách mừng rỡ: "Trung đoàn ta đây rồi!". Thế là họ đi lên đường cái. Nhưng hỡi ôi! Quanh lá cờ chim ưng, quân số chưa đến hai trăm người.

    Chỉ trong chốc lát, Fabrixơ nhìn thấy chị hàng căng tin, chị đi bộ, mắt đỏ hoe, chốc chốc lại khóc. Anh đưa mắt tìm cỗ xe con và con Côcốt mà không thấy. Thấy anh đảo mắt trông tìm, chị kêu to: "Mất hết rồi, mất cắp rồi, mấtcướp rồi!" Fabrixơ chẳng nói gì, xuống ngựa, nắm dây cương, bảo chị: "Chị lên ngựa đi". Chị không đợi bảo lần thứ hai.

    • Chú em thu ngắn bàn đạp lại cho ta đi! Chị nói.
    Khi đã ngồi vững vàng trên lưng ngựa, chị bèn kể lể những
    tai biến xảy ra trong đêm. Câu chuyện dài như bất tận, anh không hiểu cái gì ra cái gì cả, nhưng nghe một cách háo hức vì quá mến chị bán hàng. Kể xong, chị nói thêm:

    • Ấy thế mà cái bọn cướp giật tôi, đánh đập tôi, làm hư thân hoại thể tôi lại chính là người Pháp!

    • Thế nào! Không phải là bọn địch à? Fabrixơ nói, vẻ ngây thơ làm cho gương mặt nghiêm trang, trắng trẻo của anh càng đáng yêu thêm.

    • Chú ngu lắm, chú nhỏ ạ! Chị hàng mỉm cười qua nước mắt, đáp. Tuy vậy, chú rất dễ thương.

    • Hắn như thế đấy mà đã hạ gọn tên Phổ của hắn đấy! Viên hạ sĩ nói xen vào. Trong sự xáo trộn chung, tình cờ làm sao anh ta lại đến phía bên kia con ngựa. Anh nói tiếp: Nhưng hắn hợm mình! Fabrixơ làm một cử động.

    • Mày tên gì đã? Viên hạ sĩ nói tiếp, vì nếu có thể báo cáo thì ta sẽ nêu tên mày.

    • Tôi tên là Vazi! Fabrixơ đáp, vẻ mặt lạ lùng. Nghĩa là Bulô, anh vội nói chữa.
    Bulô là tên người mang cái giấy hành trình mà chị quản ngục thị trấn B đã trao cho anh ta. Hôm trước anh vừa đi vừa nghiên cứu cái giấy ấy bởi vì anh đã bắt đầu suy nghĩ chút ít và không đến nỗi như trước, gặp gì cũng thấy lạ lùng. Ngoài giấy hành trình của anh ky binh Bulô, anh vẫn trân trọng giữ tờ giấy hộ chiếu Ý qua đó anh có thể nhận cái tên Vazi cao quý, người buôn hàn thử biểu. Khi anh hạ sĩ trách anh hợm mình, anh toan đáp: "Ta mà hợm mình ư? Ta, Fabrixơ Vanxera tiểu hầu Đen Đônggô, đã chịu đội tên của một thằng cha Vazi, lái buôn hàn thử biểu mà bảo là hợm mình!".

    Anh suy nghĩ và tự nhủ: ”Ta phải nhớ ta là Bulô không thì coi chừng tù ngục!". Trong khi đó, viên hạ sĩ và chị hàng căng tin bàn tán nhiều về anh. Không gọi anh là chú nữa, chị hàng nói:

    - Anh đừng cho tôi là tọc mạch. Tôi hỏi anh những điều kia nọ chỉ là để giúp ích cho anh thôi. Này, anh bảo thật đi nhé, anh là ai?

    Fabrixơ không trả Iời ngay, anh xét thấy không thể nào tìm được những người bạn tình như họ để nghe những lời khuyên bảo, mà anh thì rất cần những lời khuyên bảo. "Chúng ta sắp vào một căn cứ chiến đấu, vị trấn thủ muốn biết ta là ai, chắc chắn là ta sẽ bị tống lao nếu qua những câu trả lời của ta, họ biết rằng tuy ta mặc quân phục trung đoàn 4 ky binh, nhưng ta lại không quen một ai trong đó!". Vì là thần dân nước Áo cho nên Fabrixơ biết rõ giá trị của một tờ hộ chiếu. Những người trong tộc họ anh mặc dù quý tộc và ngoan đạo, mặc dù thuộc cánh chiến thắng, cũng đã năm lần bảy lượt lao đao vì mảnh giấy hộ chiếu. Cho nên anh chẳng khó chịu chút nào về câu hỏi của chị bán hàng. Tuy nhiên, vì trả lời, anh phải tìm những tiếng Pháp rõ ràng nhất, chị bán hàng căng tin càng tò mò tợn và thấy cần phải khuyến khích anh nói: Hạ sĩ Ôbry và tôi sẵn lòng bày vẽ cho anh cách xử sự.

    • Tôi tin chắc là thế! Fabrixơ đáp. Tôi tên là Vazi người quê ở thành phố Giên. Chị tôi nổi tiếng đẹp đã lấy một ông chồng đại úy. Vì tôi mới mười bảy, chị bảo tôi đến với chị để chị cho xem đất nước Pháp và để bày bảo cho tôi nên người. Không tìm thấy chị ở Pari, và biết rằng chị đi theo đạo quân này, tôi tìm đến, tôi sục sạo tìm kiếm chị khắp nơi mà không gặp. Bọn lính lấy làm lạ về giọng nói của tôi, đã báo cho người ta bắt tôi. Lúc đó tôi có tiền, tôi cho tên sen đầm, hắn trao cho tôi một tờ hành trình, một bộ quân phục và hắn bảo: "Hãy chuồn đi và thề với tao không bao giờ nói tên tao ra”.

    • Hắn tên gì? chị hàng hỏi.

    • Tôi đã hứa với nó.

    • Anh ấy không nói tên thằng ấy là phải. Hắn là một thằng vô lại, mặc dù vậy, anh bạn cũng không được nói tên nó. Còn cái ông đại úy anh rể anh tên gì? Nếu chúng tôi biết tên ông ta, chúng tôi có thể tìm ra.

    • Tơliê, đại úy ở trung đoàn 4 ky binh. Vị anh hùng của chúng ta đáp.
    Viên hạ sĩ khá tinh ý, nói:

    • Thế là nghe giọng người nước ngoài của anh, bọn lính cho anh là một gián điệp chứ gì?

    • Cái tiếng nhục nhã bôi nhọ người ta chính là tiếng đó! Fabrixơ hét lên, mắt nẩy lửa. Tôi yêu Hoàng đế và người Pháp đến vậy mà chúng bảo tôi là gián điệp. Sự lăng mạ đó làm cho tôi bực tức nhất.

    • Không phải lăng mạ đâu! Viên hạ sĩ trịnh trọng nói - Anh hiểu sai đó. Bọn lính hiểu lầm là lẽ tự nhiên thôi.
    Thế rồi làm người thành thạo, anh ta giải thích là ở trong quân thì phải thuộc một đơn vị và mặc một loại quân phục nào đó, nếu không thế thì dĩ nhiên người ta cho mình là gián điệp. Quân thù tung nhiều gián điệp vào giữa chúng ta, trong cuộc chiến tranh này, mọi người đều phản bội, Fabrixơ được mở mắt, lần đầu anh nhận thấy tất cả những gì xảy đến với anh trong hai tháng qua là do lỗi ở anh. Chị hàng căng tin mỗi lúc một thêm tò mò. Chị nói:

    • Nhưng chú em cần thuật tất cả với chúng ta.
    Fabrixơ ngoan ngoãn vâng lời. Khi anh kể xong. Chị hàng
    trịnh trọng nói với anh hạ sĩ:

    • Kể ra thì chú bé này vốn không phải là lính. Bây giờ chúng ta bị đánh bại, bị phản bội, chúng ta phải tiến hành một cuộc chiến đấu khốn nạn, ích gì mà chú ta thí mạng không công cho Chiam vậy?

    • Huống gì anh ta không biết đến cả nạp đạn nữa, nạp đạn qua mười hai thao tác hay nạp đạn tùy ý cũng đều mù tịt. Chính tôi đã nạp phát đạn hạ thằng Phổ đó.

    • Hơn nữa chú ta giơ tiền ra cho mọi người xem! Chị hàng nói thêm - Rời chúng ta ra thì chú ấy sẽ bị tước đoạt tất.

    • Tên hạ sĩ quân ky binh đầu tiên mà anh ta gặp sẽ trưng tập anh để anh trả tiền rượu cho hắn, và có thể người ta sẽ tuyển mộ anh ta cho quân thù, bởi vì khắp thiên hạ làm phản. Thằng cha căng chú kiết đầu tiên nào gặp anh cũng sẽ ra lệnh cho anh theo hắn và anh sẽ đi theo. Tốt hơn hết là anh gia nhập trung đoàn ta.

    • Không đâu, thưa ông hạ sĩ! Fabrixơ vội kêu lên. Đi ngựa tiện hơn, vả lại tôi không biết nạp đạn, còn khiến ngựa thì ông đã thấy ông làm rồi.
    Fabrixơ lấy làm đắc ý về bài diễn văn đó, chúng tôi không thuật lại làm gì cuộc tranh luận giữa anh hạ sĩ và chị bán hàng về số phận tương lai của nhân vật chúng ta. Fabrixơ nhận thấy trong khi bàn cãi, họ lặp lại đến ba bốn lần những trường hợp xảy đến với anh, những sự nghi ngờ cùa binh lính, tên sen đầm đã bán cho anh tờ hành trình và bộ quân phục, cách anh chạy theo đoàn tùy tùng của thống chế hôm qua, việc anh được nhìn thấy Hoàng đế phi ngựa, con ngựa ngã chết v.v...

    Với tính tò mò cố hữu của phụ nữ, chị hàng căng tin cứ trở đi trở lại mãi với việc người ta cướp con ngựa tốt mà chị đã giúp Fabrixơ mua.

    • Chú cảm thấy người ta nắm chân chú, người ta nhẹ nhàng nhấc người chú ra sau, khỏi đuôi con ngựa rồi người ta đặt chú ngồi xuống đất!
    Fabrixơ tự hỏi thầm không biết tại sao chị ta lại cứ lặp đi lặp lại mãi cái điều mà cả ba đều thuộc răm rắp. Anh chưa biết đó là cách người bình dân ở Pháp thường làm để tìm ý kiến. Đột ngột chị hỏi:

    • Chú có bao nhiêu tiền đó?
    Fabrixơ luôn tin chị phụ nữ này cao thượng. Đó là mặt ưu việt của dân tộc Pháp. Anh không ngần ngại đáp:

    • Có thể là ba mươi đồng Napôlêông vàng tất cả và tám hay mười đồng êquy gì đó, loại êquy năm frăng.

    • Thế thì chú có thể dông đi một cách dễ dàng. Chú hãy rút ra khỏi đạo quân bại tẩu này. Chú cứ đi ra một bên thấy con đường đầu tiên nào hơi văng vắng người về phía bên phải thì chú rẽ ngay. Thế rồi cứ thúc ngựa lánh xa quân đội xa mãi ra. Kiếm cách mua áo quần thường dân mà mặc. Khi đã đi được chín mười dặm mà không gặp lính nữa thì đi xe trạm đến một thị trấn yên ổn mà nghỉ ngơi và tẩm bổ bằng bít tết. Chớ bao giờ nói là chú đã ở trong quân đội, vì bọn sen đầm sẽ coi chú là lính đào ngũ và tóm cổ chú. Chú dễ thương dễ mến đấy, nhưng chưa đủ già dặn để đối đáp với sen đầm, cảnh
    sát. Khi chú đã tròng áo thị dân rồi thì hãy xé tờ hành trình của chú ra làm trăm mảnh và lấy lại cái tên thật của chú là Vazi.

    Chị quay lại hỏi viên hạ sĩ: Thế còn chú ấy phải nói chú ấy từ đâu ,đến cho có lý nhỉ?

    • Từ Căngbre trên sông Excô. Đó là một thị trấn rất nhỏ và yên ổn, nghe chưa? Ở đó có một nhà thờ lớn và Fênơlông(1).

    • Ử! Ừ! Phải rồi! Chị bán hàng nói - Đừng bao giờ nói chú đã ở mặt trận về, chớ hé răng về thị trấn B. cũng như về tên sen đầm đã bán cho chú cái giấy hành trình. Khi chú muốn trở vào Pari thì hãy đến Vécxây cái đã, rồi cứ giả vờ như lang thang đi dạo mát mà vượt qua cửa ô Pari về phía ấy. Khâu giấu những đồng Napôlêông vào trong quần mới được. Và nhớ là khi trả món gì, chú chỉ cần chìa ra vừa đủ số tiền để trả. Cái điều làm cho tôi phiền muộn là chú sẽ bị người ta chài, người ta phỉnh, người ta cuỗm hết. Cạn túi thì chú sẽ làm thế nào nhỉ? Cái thứ như chú thì còn biết xoay xở là gì...
    Chị bán hàng quà tốt bụng còn nói nhiều nữa. Anh hạ sĩ tán thành bằng những cái gật đầu chứ còn biết làm sao mà chen ý kiến của mình vào cái dòng lời lẽ thao thao bất tuyệt ấy! Thình lình, đám đông che kín mặt đường rảo bước đi nhanh, sau đó trong nháy mắt, họ vượt qua cái hào con ở bên trái con đường và phóng chạy. Họ hét vang bốn phía: "Lũ Côzắc đó(2)! Lũ Côzắc đó!" Chị hàng căng tin thét:

    1. Fénelonm. Tổng giám mục Căngbre và là một nhà đạo đức một nhà văn, có cái nhìn đúng đắn về thời ông, thời đại Lui XIV rực rõ nhưng kiêu xa, hiếu chiến, gây đói khổ cho nhân dân (1651-1715).

    2. Cosaques: Lính ky người Ukren trong quân đội Nga, nổi tiếng chiến đấu giỏi và tàn ác đã gây nhiều thiệt hại cho quân Pháp khi họ rút chạy ở Nga năm 1812. Thực ra, trong trận Oatéclô không có lính kỵ đó, chỉ có ky binh Phổ.
    • Trả con ngựa cho chú đấy!

    • Đời nào tôi chịu thế! Fabrixơ nói! Phóng ngựa đi, chạy đi chị! Tôi tặng chị đấy. Chị muốn có tiền mua lại một cỗ xe nhỏ không? Thì tối biếu chị một nửa số tiền của tôi đây.

    • Tôi bảo chú bắt lại con ngựa của chú mà! Chị hàng thét lớn. Và chị sắp sửa tụt xuống. Fabrixơ rút mã tấu hét: "chị ngồi vững, nghe!" rồi lật mặt bằng đập hai ba cái vào mông ngựa, tức thời con ngựa phi nước đại chạy theo những người đi trốn.
    Bây giờ người anh hùng của chúng ta mới nhìn lại mặt đường, trước kia ba bốn nghìn người chen chúc trên đó như những nông dân trong một đám rước lễ. Sau tiếng Côzắc thì không thấy còn ai cả, lũ chạy trốn đã vứt lại nào mũ, nào gươm, nào súng và gì gì nữa... Fabrixơ lấy làm lạ, leo lên một cánh đồng ở bên phải, đồng này cao hơn mặt đường khoảng bảy tám thước. Anh nhìn con đường cái ở cả hai đầu và nhìn rộng ra khắp cả đồng bằng, vẫn không thấy dấu vết lũ Côzắc. Anh tự hỏi: "Cái bọn Pháp này kỳ thật!... Trước sau gì ta cũng cần rẽ bên phải, thì tốt nhất là rẽ ngay. Có lẽ bọn đó có lý do chính đáng để chạy trốn, mà ta không biết".

    Anh nhặt một khẩu súng, soát thấy đã nạp đạn, anh xáo trộn lại thuốc mồi, lau viên đá lửa, rồi chọn nhặt một túi thuốc đạn còn đầy đặn. Anh nhìn quanh bốn phía một lần nữa.

    Rõ ràng là chỉ còn có mỗi một mình anh giữa đồng bằng trước đây dầy đặc những người, ở rất xa nơi cuối trời, anh còn thấy bọn bại binh vẫn cứ ba chân bốn cẳng chạy trốn không ngừng và bắt đầu lần lượt mất hút sau cây cối. "Quả thật là kỳ quặc!". Anh nói thầm vậy. Và nhớ lại cái kế anh hạ sĩ đã dùng hôm qua, anh đến ngồi giữa một đám ruộng lúa. Anh không đi xa hơn vì còn mong gặp lại hai người bạn tốt, chị bán hàng căng tin và anh hạ sĩ Ôbry. Ngồi trong lúa, Fabrixơ đếm lại tiền bạc thì thấy chỉ còn mười tám đồng Napôlêông chứ không phải ba mươi đồng như anh nhớ, nhưng anh còn những viên kim cương nhỏ, mà anh đã nhét trong lần vải lót đôi giày ky binh buổi sớm hôm ngủ trong buồng chị quản lao ở B. Anh tìm hết cách cất giấu những đồng vàng trong khi nghĩ ngợi về chuyện mất mát đột ngột của mình. "Đây có phải là một điểm xấu không nhỉ?" anh tự hỏi. Nhưng điều phiền muộn chính của anh là đã thực sự tham gia một trận đánh hay không?” Anh nghĩ là có và giá được xác định như thế thì sẽ là người hạnh phúc nhất đời.

    Tuy nhiên ta tham gia với cái tên của một thằng tù, ta mang tờ hành trình của một thằng tù trong túi áo, hơn nữa mặc áo sống của nó trên người! Cái đó là tai họa cho tương lai, ông áp bê Blanex sẽ bảo thế nào nhỉ? Rồi cái thằng cha Bulô tội nghiệp đó lại chết trong tù nữa chứ! Tất cả những cái đó đều là điểm bất thường, số mệnh chắc chắn sẽ đưa ta vào tù!

    Fabrixơ có thể đổi tất cả để biết tên ky binh Bulô có thật phạm tội hay không, cố lục ký ức, anh nhớ hình như chị quản lao thành B. có nói với anh rằng tên ky binh Bulô bị tóm không những vì mấy bộ đồ ăn bằng bạc, mà còn vì đã bắt trộm con bò sữa của một người nông dân, lại còn đánh đập anh ta thậm tệ. Fabrixơ tin chắc rằng một ngày kia, anh sẽ bị bỏ tù vì một tội trạng có phần nào dính dáng vởi tội trạng của Bulô. Anh nghĩ đến ông bạn Blanex, giá bỏ ra bao nhiêu để được hỏi ý kiến ông, anh cũng sẵn sàng! Rồi anh sực nhớ chưa viết thư cho bà cô từ khi rời Pari. "Cô Gina tội nghiệp!”. Anh than thầm như vậy và ứa nước mắt. Bỗng anh nghe có tiếng động khẽ bên mình, đó là một anh lính đang cởi bỏ cương hàm cho ba con ngựa ăn lúa, ba con ngựa có vẻ như sắp chết đói. Hắn nắm giữ cương phụ. Fabrixơ vụt nhô thẳng lên như con gà
  • Chia sẻ trang này