041. Trang [0445-0455] - @Carrot7411 (sóat lỗi xong)

17/10/15
041. Trang [0445-0455] - @Carrot7411 (sóat lỗi xong)
  • Lấy Cai đội nội hầu Nguyễn Văn Sự làm Vệ úy vệ Nghĩa võ Trung quân, Tống Văn Tiến và Trần Văn Thanh làm Phó vệ úy, Thuộc nội nội cai đội đội Túc trực thất là Trần Đăng Long làm Vệ úy vệ Cung võ Trung quân, Phó đội Hoàng Công Lý làm Thuộc nội nội cai đội đội Túc trực nhị, Trần Văn Trí làm Thuộc nội nội cai đội đội Túc trực tam, Cai đội Tiền dinh quân Thần sách là Phạm Văn Tung làm Phó vệ úy vệ Ban trực tiền, Nguyễn Huyên và Mai Văn Châu làm Phó vệ úy vệ Long võ, Trưởng hiệu Hậu chi Ta đồn quân Ngự lâm là Chu Văn Tỉnh làm Phó trưởng chi.

    Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu, sai đồ đảng là bọ Đô ngu (chức tiết đồ cũ) Nguyễn Văn Giáp, Đại đô đốc Lê Danh Phong, Đô đốc Nguyễn Văn Khôn, Tham đốc Hồ Văn Tú, đem hơn 7.000 quân và 40 thớt voi để xâm phạm Quảng Nam, đóng ở Lương Châu và Phố Hoa. Quân ta chống cự. Tống Viết Phước dâng biểu xin thêm quân và nói rằng giặc hiện nay đóng giữ vùng thượng du, thế sắp lấn cướp Điện Bàn để cản đường tiếp ứng của ta, nếu không kịp thêm quân tiến đánh thì Quảng Nam lại sẽ là nơi chúng tất tranh.

    Vua dụ rằng: “Quân ta sau khi đã lấy lại được Phú Xuân phải chia phái đi nhiều ngả, chính đương chiêu tập những quân tàn để bổ vào đội ngũ cho đủ điều khiển. Khanh nên vững thành bền giữ, chớ nên đánh. Nếu chúng tiến đến Điện Bàn, thì khanh cứ theo phía sau, trong tuần nhật ta sẽ phái quân đến, trong ngoài giáp đánh thì giặc tất phải vỡ”.

    Triệu Lê Chất về. Trước là Lê Chất được lệnh đem quân đuổi Nguyễn Quang Toản, khua trống mà đi thong thả. Khi quân đến châu Nam Bố Chính thì Quang Toản đã qua sông đi rồi. Đến đây bị gọi về, đem dâng hai quả ấn ngụy. Vua cùng các quan bàn việc đánh Tây Sơn, nói rằng. “Quang Toản được thoát là tự người chứ không phải tự trời”.

    Thủy binh của Nguyễn Văn Trương đến Linh Giang [sông Gianh] thu được lương thực thuyền ghe súng đạn của giặc bỏ lại rất nhiều. Tàn quân của giặc quy hàng hơn 2.000 người. Vua dụ sai Trương về giữ bảo Động Hải, hiệp cùng Tham tri Lại bộ là Phạm Như Đăng trông coi công việc binh dân lương tiền phủ Quảng Bình, lưu Phó trưởng chi Trung chi là Hoàng Văn Điểm quản binh thuyền giữ Linh Giang [sông Gianh], mật sai Thuộc nội cai đội Nguyễn Khả Bằng đóng giữ chợ Ròn, Cựu đô ty Lê Văn Hợp giữ Hoành Sơn, đặt bảo để ngăn chặn, mộ thêm dân làm binh.

    Ghi chiến công bắt giặc ở Tư Dung; thưởng cho tướng sĩ Tả dinh 1.000 lạng bạc, sai Lê Văn Duyệt chia cấp.

    Biên bổ tân binh và hàng binh ở Thuận Hóa làm 5 vệ Thiện võ, Kham võ, Trang võ, Túc uy, Kiện uy của Trung quân ; lấy Vệ úy vệ Tuyển phong tiền là Nguyễn Văn Thuận làm Vệ úy vệ Thiện võ, Cai đội Nguyễn Văn Vọng làm Phó vệ úy, Cựu đô đốc Nguyễn Đức Thu làm Vệ úy vệ Kham võ, Lê Phước Điển và Nguyễn Văn Du làm Phó vệ úy, Khâm sai cai đội Tôn thất Lân làm Vệ úy vệ Trang võ, Cai đội Nguyễn Hữu Cửu và Cựu quản thị Lân quân là Nguyễn Lãm làm Phó vệ úy, Thuộc nội nội cai đội đội Túc trực nhị quân Thần sách là Lê Văn Tường làm Vệ úy vệ Túc uy, Phó Tiền chi Trấn thành là Nguyễn Văn Liêm và Hữu hiệu Nguyễn Văn Tiến làm Phó vệ úy, Thuộc nội nội cai đội đội Túc trực thập là Trịnh Ngọc Trí làm Vệ úy vệ Kiện uy, Chánh Tiền chi Trấn thành là Hoàng An Vĩnh và Trung hiệu Hồ Văn Quế làm Phó vệ úy.

    Biên bổ Tiền chi Trung quân làm vệ Tề võ, năm chi Tả quân làm vệ Chấn võ Trung quân. Lấy Khâm sai cai đội Trung quân là Tôn Thất Dịch làm Vệ úy vệ Tề võ, Cai đội Mai Văn Thành và Nguyễn Văn Tô làm Phó vệ úy, Chánh Tả chi Tả quân là Bạch Văn Đoài làm Vệ úy vệ Chấn võ, Phó Tiền chi Nguyễn Văn Lý và Cai đội Tống Văn Hóa làm Phó vệ úy.

    Đổi Bổ vệ Nội dực Tả quân cho lệ vào quân Thần sách. Lấy Khâm sai thuộc nội cai cơ Nguyễn Hiên làm Vệ úy, Cai đội Dương Vĩnh Cầu làm Phó vệ úy, theo Phạm Văn Nhân chia đi chiến thuyền để sai bát việc quân.

    Chia bổ quân cũ của vệ Phấn dực Thủy dinh Trung quân và các vệ thủy binh mới tổ chức làm ba vệ Phấn dực nhất, nhị, tam. Lấy Cai đội đội nhất vệ Phấn dực là Phạm Văn Tường làm Vệ úy vệ Phấn dực nhất, Cai đội đội lục là Tống Phước Thảo, Cai đội đội thất là Nguyễn Văn Cẩm làm Phó vệ úy, Cai đội đội nhị là Trương Văn Sĩ làm Vệ úy vệ Phấn dực nhị, Cai đội đội tam là Nguyễn Văn Hòa và Cai đội đội thập là Đoàn Sùng Đường làm Phó vệ úy, Cai đội đội ngũ là Nguyễn Văn Hạnh làm Vệ úy vệ Phấn dực tam, Cai đội đội cửu là Lê Văn Cư và Cựu đô đốc Võ Văn Thiện làm Phó vệ úy.

    Đổng lý Tây Sơn Nguyễn Văn Thận trấn giữ Nghệ An, đưa thư chiêu dụ những sách Man ở Trấn Ninh. Quốc trưởng Vạn Tượng là Chiêu ấn bắt được thư, sai Cai đội thượng đạo là Tống Phước Uyển đem về kinh dâng.

    Vua sai Điển quân Lưu Phước Tường đem quân bản bộ theo đường Cam Lộ đưa thư cho Vạn Tượng, và dụ các Man chẹn giữ những đường hiểm yếu, ngăn phòng bọn giặc chạy trốn. Tường đến, vừa gặp Tham quân Lê Văn Xuân ốm chết, bèn kiêm lĩnh quân của Xuân, đặt làm sáu chi: Tiền du và Trung định, Tiền định, Tả định, Hữu định, Hậu định, cùng với Chiêu Ấn định kỳ thẳng xuống Nghệ An đánh giặc.

    Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái sai người dâng biểu mật nói việc quân. Vua dụ rằng: “Ta nay đã thu phục kinh đô cũ, giặc Nguyễn Quang Toản đã chạy về Bắc. Đã ủy cho Điển quân thượng đạo Lưu Phước Tường hội với nước Vạn Tượng đánh Nghệ An. Ngươi nên đem quân bản bộ đánh Thanh Hoa, đợi ta xếp đặt tạm xong sẽ tiến đánh Bắc Hà để nhất thống đất nước. Ngươi nên cố gắng”.

    Sai người Bắc Hà là Trương Công Vỹ đem mật chỉ đi chiêu dụ hào kiệt. Phó vệ Nguyễn Đình Hoằng cũng xin đi Thanh Hoa, Nghệ An để chiêu tập nghĩa binh. Vua y cho.

    Lấy Thuộc nội nội cai đội đội Nội trực nhất quân Thần sách là Lê Văn Tín làm Vệ úy vệ Nội trực, Thuộc nội nội cai đội đội nhị là Trương Phước Phượng và Thuộc nội nội cai đội đội tam là Trương Văn Cường làm Phó vệ úy, quản 10 đổi là Nội trực nhất, Nội trực nhì, Nội trực tam, Thị trà nhị, Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm, Nội võ nhất, Nội võ nhị, Long võ, theo Trung quân điều bát đánh giặc.

    Nội hầu giặc là Lê Văn Lợi, Thiếu úy Văn Tiến Thể, phụng chính Trung thư Trần Văn Kỷ, Thượng thư Lại bộ Hồ Công Diệu và quan văn thì Bộ thị lang phụng nghị, quan võ thì bọn đô đốc đô ty, đem nhau đến quy thuận.

    Vua thấy đại thể mới định, sử dụng còn thiếu người, bèn cho được theo sai phái.Ởquân thứ Bình Định, bọn Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Chương, Nguyễn Đức Xuyên, Hoàng Viết Toản, Trương Tiến Bảo, Nguyễn Công Thái, Đặng Trần Thường nghe tin, bèn mật dâng biểu cho rằng: “Ngày nay Thần kinh mới khôi phục, nhân dân mừng được sống lại, vương thượng mở lượng rộng như biển, nhuần như xuân, đối với người một lòng nhân, bực anh quân đời xưa cũng chẳng hơn được. Duy bọn hàng tướng đô đốc quận công, từ khi Tây Sơn khởi loạn giữ vị trí phú quý mà những người trung nghĩa ở Thuận Hóa, Bắc Hà phần nhiều phải khuất mình nơi quân ngũ, bị chúng sai khiến, hằng ngày ngóng trông quân nhà vua đến để thay vết xe cũ, thế mà nay lại cho chúng được cầm quân như cũ, nghệu nghễn ở trên người, chúng tôi e rất phụ lòng mong mỏi của mọi người, dù người ta có muốn tỏ lòng trung tiết cũng không tỏ vào đâu được. Huống chi bọn kia đối với Tây Sơn, rễ sâu gốc chặt không phải một ngày, nay đường cùng mới chạy về ta, có phải thực lòng đâu. Nếu cho dư đảng của chúng còn nhiều, vội khép vào pháp luật sẽ khiến lòng người ngờ sợ thì cho họ khỏi chết là được rồi, chứ không nên giao cho binh quyền. Việc cũ Cù Mông là một tấm gương lớn đó”.

    Vua dụ rằng: “Bọn khanh trình bày, cố nhiên là có ý phòng ngừa từ trước. Nhưng từ khi ta lấy lại Phú Xuân, bọn tướng giặc đầu hàng có, bắt được cũng có, ta đã tuỳ nghi xếp đặt, quân của chúng cho xen lẫn với quân ta, dưới quyền quan ta cai quản. Bọn chúng bất quá cai quản năm ba tên thuộc binh mà lệ theo súy phủ, phỏng có mang lòng phản trắc cũng không thi hành vào đâu. Bọn khanh ở quân thứ xa, chưa rõ sự cơ, nên đặc dụ cho biết”.

    Thả Xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua dụ rằng: “Khanh là người tuổi tác đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta”. Bèn sai quan quân đưa về.

    Sai Lê Văn Duyệt thống lĩnh bộ binh vào Quảng Nam và Tống Viết Phước thống lĩnh thủy binh, chia đường đánh giặc để cứu thành Bình Định; sai Lê Chất đem quân Tả đồn và hai vệ Tề võ Chấn võ theo thuyền Duyệt tiết chế. Duyệt trước vốn thân với Nguyễn Văn Thành. Thành hơn tuổi và làm tướng sớm, mỗi khi ra trận, tính trì trọng không vội tiến. Duyệt xuất thân là tỳ tướng dũng cảm đánh giỏi, hằng lập công lớn, từng nói khích Thành, Thành không chịu nổi, hai người do đó sinh bất hòa. Vua hiểu rõ chuyện ấy nên khi [Duyệt] đi thì dụ rằng : “ Quân mà thắng trận là do ở hòa thuận chứ không phải do nhiều người. Ngươi đi lần này nên bình tâm với Nguyễn Văn Thành. Gặp việc phải báo trước cho nhau, trong ngoài cùng ứng để sớm trừ đảng giặc mà mau thành công lớn. Ta ngày đêm không lúc nào không lo nghĩ đến Bình Định. Ngươi nên lưu tâm”. Duyệt lạy vâng mệnh. Quân đi rồi, vua sai truyền dụ cho Nguyễn Văn Thành chỉnh bị binh mã để chờ.

    Sai Vệ úy vệ Thiện võ Trung quân là Nguyễn Văn Thuận, Vệ úy vệ Nghĩa võ là Nguyễn Văn Sự, Vệ úy vệ Thuận võ là Vương Văn Học đều đem vệ binh đi thuyền trên biển theo Tống Viết Phước sai phái.

    Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh thắng viện binh của giặc ở Cao Đôi.

    Trước là tướng giặc Trần Quang Diệu sợ đại binh tiến thẳng đến Phú Xuân, sai Đại đô đốc Trương Phước Phượng đem 1.000 quân dinh Kiền thanh, Tư khấu Định, Đại đô đốc Lê Văn An, Đô đốc Lê Quốc Cầu, Lê Văn Từ, Tham lĩnh Ngoạn, Tham lĩnh Tuân (hai người đều không rõ họ) đem 4.000 tinh binh Quy Nhơn và 1.000 binh Thuận Hóa và Bắc Hà, đều do đường núi về cứu viện. Chúng bị người Man đánh lừa, đi quanh co hết lương. Phượng đến trước Tả Trạch nguyên, quân đã mệt lắm, bèn đến quân Phan Văn Triệu đầu hàng. Bọn Định theo đường Thượng Ải xuống Cao Đôi, chợt gặp quân của Duyệt và Chất. Định đánh thua, chạy vào chết ở trong đất Man. Bọn Lê Văn An bị quân Nguyễn bắt hết. Dư chúng đều hàng. Tin thắng trận báo lên. Vua cho thư khen ngợi, thưởng cho các quân 2.000 lạng bạc. Sai đưa các tướng và quân giặc bị bắt về kinh; duy những binh Thuận Hóa và Bắc Hà bị bắt thì cho phân lệ vào quân ngũ, thẳng tiến đi Quảng Nam đánh giặc. Triệu Phan Văn Triệu và Tống Phước Châu về.

    Sai Phó vệ úy vệ Phấn dực tam là Lê Văn Cư đem binh thuyền đóng cũi Nguyễn Quang Cương, Tham lĩnh Ngoạn, Tham lĩnh Tuân, giải về quân thứ Bình Định để cho Tây Sơn biết; Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Điện, Phò mã Nguyễn Văn Trị thì giải về Gia Định để cho thần dân trong hạt biết. Rồi sai giết đi.

    Vua nghe tin ở các dinh quân nhiều người tạ sự hống hách, làm cho người ta không được ở yên, bèn sắc rằng: “Phàm quan quân giặc đã quy thuận, hoặc còn ở Quy Nhơn hay Bắc Thành, thì nhà cửa vườn tược của họ phải để cho vợ con họ hàng họ ở, không được lấn cướp. Ruộng vườn cây cối của dân thì không được đẵn chặt. Làm trái thì xử theo quân pháp”.

    Sai Thiêm sự Hộ bộ là Hồ Thế Học và Thiêm sự Lễ bộ là Ngô Triều Cao tra kiểm những vật công ở Nhà đồ như khí giới súng đạn, và cứ quan lại Công bộ cũ mà đòi gọi các thợ bách công đến làm việc, Khâm sai cai cơ Lê Văn Chấn đến kho Thượng Lập, Cựu tham đốc Nguyễn Hữu Hy đến kho Cát Dinh để kiểm tra số tiền và thóc mà báo lên. Lại sai các hàng tướng đều căn cứ theo ngạch cũ năm Canh thân mà đòi gọi binh lính để chia bổ vào các quân.

    Tạm đặt tri phủ tri huyện hai phủ Triệu Phong Quảng Bình, 8 huyện 1 châu. (Phủ Triệu Phong 5 huyện: Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang, Đăng Xương và Hải Lăng; phủ Quảng Bình 3 huyện: Minh Linh, Lệ Thủy, Phong Lộc và châu Nam Bố Chính). Theo chế độ của giặc, phủ Triệu Phong đặt lệnh doãn và thiếu doãn, phủ Quảng Bình đặt tả hữu tuyên phủ, các huyện châu đặt tả hữu quản lý. Đến đây đổi làm tri phủ, tri huyện, vẫn lấy lệnh doãn cũ phủ Triệu Phong là Hồ Đăng Sĩ, thiếu doãn cũ Nguyễn Đăng Khoa, tả hữu tuyên phủ cũ phủ Quảng Bình là Hoàng Văn Ngữ và Lê Đại Thuyên và tả hữu quản lý cũ các huyện châu là Trần Văn Hiến, Lê Văn Chiêm tất cả 18 người, cho tạm làm công việc tri phủ tri huyện.

    Ngoài kinh thành, dân ở liên tiếp, thường xảy ra hỏa tai. Sắc cho ấp trưởng sở tại khiến các nhà phải làm bếp riêng, trên dưới trát bùn. Lại để sẵn đồ cứu hỏa ở điếm canh. Khi thấy có phát hỏa phải đem dân đến cứu. ấp trưởng tuần xét không nghiêm thì cùng tội với nhà thất hỏa.

    Thành Bình Định bị vây lâu hết lương. Chưởng Hậu quân binh Tây tham thặng đại tướng quân quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tòng Chu đều chết. Trước là quân giặc vây thành, Tánh tùy phương chống đỡ, quân lệnh nghiêm minh, xếp đặt chỉnh đốn, được tướng sĩ liều chết để đánh, lớn nhỏ hơn và chục trận, chưa từng bị nhụt chút nào. Có người khuyên Tánh phá vòng vây mà ra. Tánh không nghe nói rằng : “Ta vâng mệnh giữ thành, phải cùng còn mất với thành, nay bỏ thành mà cầu lấy sống thì còn mặt mũi nào nhìn thấy chúa thượng nữa !”. Đến đây lương hết, phải giết voi ngựa để ăn mà người ta vẫn không có lòng phản. Tánh lo thành bị hãm quân lính không khỏi tổn thương nhiều. Bèn sai các quân lấy củi khô chất quanh dưới lầu bát giác. Một buổi sớm Tòng Chu đến hỏi kế thì Tánh trỏ vào lầu bát giác mà nói rằng : “Đây là kế của tôi !”. Nhân bảo Tòng Chu rằng : “Tôi làm chủ tướng, nghĩa không thể cùng sống với giặc. Ông là văn thần, quân địch tất không hại đâu, nên tính cách tự toàn”. Tòng Chu cười nói rằng : “Cứ gì văn hay võ, lòng trung cũng là một thôi. Tướng quân biết chết theo nạn nước, Chu này không biết làm tôi chết với trung sao ?”. Thế rồi trở về mặc mũ áo, hướng về cửa khuyết bái vọng rồi uống thuốc độc mà chết. Tánh ngậm ngùi than rằng : “Ngô quân đã hơn ta một nước rồi !”. Tức thì tới thăm và khâm liệm tống táng. Xong rồi kíp gửi thư cho Diệu nói : “Tướng quân nghĩa phải chết là việc của ta, quân sĩ không có tội gì, không nên giết hại”. Bèn lấy thuốc súng bỏ vào lầu bát giác, mặc triều phục lên trên lầu, gọi các tướng bảo rằng : “Ta từ khi phụng mệnh giữ thành này, giặc Tây Sơn đem lực lượng cả nước vây đánh bốn mặt, đã hai năm nay, thực nhờ tướng sĩ đồng tâm nên giữ vững được thành mà chống giặc. Nay lương hết sức kiệt, giữ không thể được nữa mà đánh cũng vô ích, nên ta chết, kẻo để tướng sĩ khổ mãi”. Các tướng và quân lính đều rạp xuống đất kêu khóc. Tánh vẫy lùi ra. Bèn phóng lửa tự đốt. Cai cơ quản đạo Ứng nghĩa là Nguyễn Tiến Huyên cũng gieo mình vào lửa để chết. Sau khi Tánh và Tòng Chu đã tử tiết, Diệu đem quân vào thành, dùng lễ chôn cất (Nền cũ lầu bát giác ở trong thành, sau khi bình định thì lập đền thờ ở đó. Năm Gia Long thứ 5 [1806], cho tòng tự ở Thái miếu, năm Minh Mệnh thứ 5 [1824] đổi tòng tự ở Thế miếu ; năm thứ 12, [1831] truy phong Tánh là Hoài quốc công, Tòng Chu là Ninh Hòa quận công). Tướng sĩ ở trong thành không bị giặc giết. Về sau họ thừa cơ về với ta, không ai chịu làm việc với giặc.

    Bộ binh của Lê Văn Duyệt và Lê Chất đến Quảng Nam. Đảng giặc là bọn Nguyễn Văn Giáp đã lui chạy trước rồi. Tống Viết Phước bèn đem thủy binh hẹn ngày đều tiến đến Bản Tân [Bến Ván] đánh giặc, lưu Trần Văn Trạc ở lại quản vệ Tín võ mới lập, đóng giữ các bảo Kim Bồng và Phú Triêm.

    Giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc Thành, đổi ngụy hiệu làm Bảo Hưng, sai người sang nhà Thanh xin quân. Người Thanh không cho.

    Tháng 6, Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Phan Văn Triệu ốm, lấy quản Tả thủy dinh là Trần Công Lại làm Đô thống chế Tiền dinh, quản suất 5 vệ quân bản dinh và vệ Kham võ, đi hơn 20 chiếc thuyền chiến, theo Tống Viết Phước đánh giặc.

    Lấy Chánh trưởng chi Hậu chi Tiền đồn quân Ngự lâm là Lê Văn Tài làm Vệ úy vệ Nghiêm võ Trung quân, Phó trưởng chi Hữu chi là Võ Văn Trí và Trưởng hiệu Lê Văn Vĩnh làm Phó vệ úy, Cựu đô đốc Lê Viết Hậu làm Phó vệ úy vệ Trung võ.

    Đặt dinh Phấn dực quân Thần sách. (Năm vệ Phấn dực nhất, Phấn dực nhị, Phấn dực tam, Túc uy, Trang võ). Lấy Tống Phước Lương làm Thống chế, Lương xin biến quân lạc tòng cũ và mới làm năm đội của vệ Hổ dực. Vua y cho.

    Lấy Cựu tham mưu Nguyễn Công Hoàn, Đô úy Nguyễn Công Côn quản đạo Cam Lộ, Khâm sai cai cơ Nguyễn Công Mẫn quản Tam ải ở nguồn En Đê, để chiêu vỗ dân Đê, phòng ngự đảng giặc.

    Đặt nhà trạm dọc đường quan từ cửa Hải Vân đến sông Gianh, lấy Cai đội đội trưởng cũ vẫn coi phu trạm để chạy trạm.

    Vua nghe tin Võ Tánh và Ngô Tòng Chu chết, đau buồn thương tiếc, khóc mãi không thôi, bảo bày tôi rằng: “Bọn Tánh chết như thế là vẹn tiết, tuy bực trung liệt đời xưa như Trương Tuần, Hứa Viễn(1. Trương Tuần, Hứa Viễn: Hai người làm quan đời Huyền tông và Túc tông nhà Đường, đi đánh An Lộc Sơn và Sử Tư Minh, hai người kết hợp với nhau, trước sau đánh 400 trận, giết giặc 12 vạn người, sau hết lương, thành bị hãm, hai người đều bị giặc bắt, mắng giặc rồi bị giết.1) cũng không hơn được. Bèn sắc cho Lưu trấn thần Gia Định hậu cấp gia đình.

    Lại thấy Nguyễn Tiến Huyên cùng tuẫn tiết, bèn sai dinh thần Quảng Ngãi thăm hỏi mẹ và vợ con và hậu cấp tiền gạo.

    Tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đã giữ thành Bình Định, mưu đắp một cái lũy ngang ở Vân Thê để ngăn đường vận lương cho Thị Nại của ta. Nguyễn Văn Thành biết tin, liền sai Đô thống chế Hậu dinh là Hoàng Viết Toản đốc quân chặn đánh. Giặc bèn rút lui. Lại sai đồ đảng là Tham đốc Phạm Văn Điềm cướp giữ Phú Yên để ngăn cắt quân ta. Thành lấy làm lo, dâng sớ xin phái ủy Nguyễn Hoàng Đức và Nguyễn Đức Xuyên đem quân và voi đánh phá Phú Yên để thông với Ba Đèo, chọn chỗ hiểm đóng giữ, mà rút hết bộ binh do đường thủy về tập hợp ở kinh đô Phú Xuân.

    Vua dụ rằng: “Sự tình thế ấy là lúc thế rất nguy cấp, vạn bất đắc dĩ mới phải làm. Nay số quân của Dũng Diệu không hơn 2 vạn mà quân thủy bộ của ta đã sắp sát địa đầu, chúng tất thế chia lực kém, làm sao chuyên đánh được một mặt mà mình phải làm kế rút lui như thế. Khanh nên khuyến khích tướng sĩ, bền giữ đồn lũy, đợi một hai ngày sẽ giáp công trong ngoài để thu toàn thắng. Còn như bọn giặc ở Phú Yên, ta sẽ phái quân hội tiễu, không đáng phải lo”. Bèn sai Tống Phước Lương quản suất vệ Phấn dực tam, đáp thuyền chiến vượt biển vào Ba đèo hội với Tiên phong Nguyễn Văn Tánh đánh giặc.

    Quân bọn Tống Viết Phước, Lê Văn Duyệt và Lê Chất đến Quảng Ngãi, đánh bắt được đảng giặc là bọn Nguyễn Văn Khôn, Hồ Văn Tự ở bảo Trà Khúc, bắt được quân giặc hơn 3.000 người, thu được lương tiền khí giới rất nhiều. Tin thắng trận báo lên. Vua sai mang cho 200 chiếc áo chiến bằng sa đoạn để chia cấp cho các tướng hiệu. Cho giải bọn tướng giặc bị bắt là Khôn và Tự về Kinh; còn binh lính bị bắt thì chia cho lệ vào các vệ để thêm quân số. Dụ rằng: “Gần đây quân ta đánh luôn thắng luôn, những tướng hùng quân mạnh của giặc đều bị ta bắt. Nay chúng chỉ còn trông cậy vào bọn Chiêu Điểm mà thôi. Vả chúng như con thú cùng còn hăng, tất cầu đánh lấy chết, mà ta thì địa thế đã rộng, lợi ở giữ bền. Bọn khanh nên tiến đến Thanh Hảo trở về trong, nhằm những nơi hiểm yếu mà đóng đồn liên tiếp để làm thế không thể lay chuyển được, nhiên hậu sẽ thừa cơ chiến thắng. Thủy binh thì tiến đến Sa Huỳnh, Tân Quan, cũng đóng đồn trại cho vững để xem tình thế, chớ có thấy thắng mà kiêu. Nếu chúng kéo hết quân đến thì quân ta đã có phòng trước. Lại phi báo cho Nguyễn Văn Thành đánh úp phía sau, để chúng tiến thì không có chỗ đánh, lui thì không có chỗ giữ, thì có chậm chừng tuần nhật, nhưng chước ấy có thể vạn toàn được. Bọn khanh là những người lão luyện việc quân, nên tính cho kỹ”. Rồi lại sắc rằng từ nay phàm tình hình công việc trong quân cứ ba ngày phi báo một lần. (Sa Huỳnh, Tân Quan đều là tên cửa biển).

    Đô đốc quản chi Kiện võ là Huỳnh Văn Tự theo quân thứ Tống Viết Phước ngầm thông với giặc. Phước xét được sự trạng, đem giết, lấy quân sở thuộc chia bổ vào các vệ của Trung dinh.

    Bổ đạo Tả quân cũ làm ba đội của Trung chi Tả đồn quân Ngự lâm, sai đi Quảng Ngãi theo Lê Chất đánh giặc.

    Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu nghe tin Trà Khúc thất thủ, thân mang đồ đảng là bọn Lê Danh Phong, Từ Văn Chiêu lùa quân và voi ra Tân Quan, đặt đồn trại dọc núi để chống quân ta. Bộ binh của Lê Văn Duyệt tiến đóng đồn ở Thanh Hảo, dưới từ cửa biển Mỹ Ý, trên đến đầu nguồn, đắp lũy dài để phòng bị nghiêm cẩn. Thủy binh của Tống Viết Phước vào Sa Huỳnh đánh giặc ở núi My Sơn và đèo Cung Quăng đều thắng cả. Lại tiến đến Tân Quan, đánh cướp bảo giặc. Quân giặc phải lùi, hai vệ Hùng phong Nghị võ, Hậu quân và hơn 700 quân Trung chi chạy về với quân ta. Phước khinh địch tiến lên trước, mọi người can ngăn không được. Vừa đến Bức Cốc [Hang dơi] thì phục binh của giặc bỗng dậy. Phước sức kém, bị giặc bắt giết. (Năm Minh Mệnh thứ 18 [1837] truy phong là Ninh Giang quận công). Sau khi Phước bị thua thì binh thuyền của Tiền dinh Trần Công Lại mới đến Tân Quan, bèn đặt thêm đồn trại cùng giặc chống giữ. Nguyễn Văn Thành do thám biết giặc không có phòng bị, liền kén quân tinh nhuệ đánh úp, bảo giặc tự Úc Sơn đến sông Dinh phá luôn được. Bọn Phó vệ úy vệ Võ lương Hậu quân là Phạm Văn Lý, Chánh trưởng chi Hữu chi là Nguyễn Văn Hiếu, quản Xiêm binh là Nguyễn Văn Tồn tự trong quân giặc đem sở thuộc hơn 800 người trở về với ta. Tin thắng trận báo lên. Vua xuống chỉ khen ngợi, sai mang cho 16 bộ áo chiến bằng gấm, 3.000 đồng bạc Tây và 1.000 lạng bạc để thưởng cho tướng sĩ.

    Triệu các chi vệ Hậu quân về kinh, lưu Nguyễn Văn Tồn ở quân thứ theo đánh giặc. Trước là khi thành Bình Định bị hãm, Tồn bị giặc bắt. Gặp khi quân ta đánh với quân giặc, Tồn giả cách vì giặc liều chết, quân ta gọi, Tồn ngơ, giặc lấy làm tin. Đến đây Tồn thừa cơ quay về. Có người hỏi Tồn rằng: “Trước kia ở với giặc, tại sao đánh cho giặc dữ thế?” Tồn nói: “Lúc đó không đánh giết quân ta, thì giặc không tin, giặc đã không tin, thì làm thế nào mà đem toàn quân trở về được?” Mọi người đều phục là trí.

    Đặt quan công đường dinh Quảng Ngãi, lấy Cựu đại đô đốc Nguyễn Văn Toản làm Lưu thủ, Cai bạ Chính dinh là Trần Tiến Bửu làm Cai bạ, Tri bạ Chính dinh là Lê Xuân Tàn làm Ký lục.

    Đặt thủ ngự ở các đầu nguồn và cửa biển hai phủ Triệu Phong và Quảng Bình. Chọn Cai đội cai cơ đội Mật sai và Võ giáp sung các chức ấy. (Nguồn Sái, nguồn Phù Âu, nguồn Hưng Bình, nguồn Tả Trạch, nguồn Hữu Trạch, nguồn Sơn Bồ, nguồn Thu Lay, hai nguồn Cổ Lâm, Ô Giang, ba nguồn An Đại, Cẩm Lý, An Náu, nguồn An Náu Son, cửa Eo, của Tư Dung, cửa Vân Quan, cửa Việt Hải, cửa Tòng Luật, cửa Nhật Lệ, cửa An Náu, cửa Lý Hòa, cửa Gianh).

    Thu các thuế điền tô, sai dư và biệt nạp ở các phủ huyện Thuận Hóa. Theo ngạch thuế cũ năm Canh thân, các đội biệt nạp mỗi người nộp 2 tấm vải trắng, hạng lão, hạng cùng và hạng vị cập [chưa đến tuổi] mỗi người 1 tấm. Duy sắt, than, dầu, chiếu và lĩnh thâm thì theo lệ cũ. Lấy bọn Nội thị thư viện và cựu thị lang, phụng nghị, đồng nghị chia đi các kho Thọ Khang Thượng, Cát Dinh, Thượng Lập, An Trạch, Động Hải, Thanh Hà làm việc cai thu và cai trường.

    Dụ rằng: “Trăm họ ở Thuận Hóa đều là dân cũ của tiên vương, được nhờ ơn trạch thấm thía từ lâu. Từ khi gặp giặc Tây Sơn nổi loạn, thuế má nhiều, sai dịch nặng, mười nhà thì chín nhà nghèo túng. Nay đất cũ mới khôi phục, chính nên lấy khoan hồng thay bạo ngược cho dân sống lại. Nhưng vì dư đảng giặc chưa trừ hết, binh cách chưa yên, mỗi ngày tiêu phí kể có nghìn vàng, cho nên bất đắc dĩ phải tạm theo ngạch cũ mà thu thuế để dùng vào việc binh. Đợi sau khi thanh bình sẽ một phen bàn định để làm lệ thường mãi mãi”.

    Cho Khâm sai thuộc nội cai đội Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Chấn và Lê Văn Lăng làm Khâm sai thuộc nội cai cơ, vẫn quản các thuyền hiệu Long phi, Phượng phi và Bằng phi.

    Lưu trấn thần Gia Định dâng sớ nói: “Nay quân nhà vua đã khôi phục toàn cõi Phú Xuân, chính là cơ hội tiến đánh Bắc Hà. Trộm thấy có viên đốc học người Bắc Hà là Nguyễn Gia Cát văn học vốn giỏi, ngôn hạnh đáng dùng, xin cho cùng với bọn Hàn lâm viện Mai Huy Đường về kinh chờ lệnh điều dụng”. Vua y cho.

    Lấy Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Trần Công Lại làm Đô thống chế Trung dinh, Vệ úy vệ Tuyển phong tiền là Nguyễn Vĩnh Thị làm Phó đô thống chế. Lại sai Đô thống chế Phan Văn Triệu quản tướng sĩ Tiền dinh chia đi chiến thuyền thẳng vào Đạm Thủy [Nước ngọt] xem xét địa thế để đặt bảo; sai bảy vệ Kiện uy, Túc uy, Trang võ, Nghiêm võ, Thuận võ, Thiện võ, Nghĩa võ đến theo quân thứ Thanh Hảo.

    Vua dụ Lê Văn Duyệt và Lê Chất rằng: “Bộ binh của bọn khanh đã đóng giữ từ Thanh Hảo trở ra thì thủy binh ở Tân Quan là vô dụng. Cho nên đặc sai Trung dinh và Tiền dinh đóng ở Đạm Thủy để xuyên vào bụng giặc. Trong thì có Tiền quần chẹn đằng đuôi, ngoài thì có bọn khanh chống đằng đầu, bọn Diệu Dũng ở một chỗ đất nhỏ bằng viên đạn, đường lương đã nghẽn, ta có thể hẹn ngày mà bắt được. Rồi thấy ở Đạm Thủy quân giặc có phòng bị, bèn sắc cho Phan Văn Triệu về Cổ Lũy, Trần Công Lại về Thanh Hảo, đều theo Lê Văn Duyệt điều bát.

    Lấy Khâm sai cai cơ chánh Tiền chi dinh Trung thủy là Đào Văn Lương làm phó dinh Trung thủy, Cai đội Nội thủy là Lê Văn Nghiêm làm Chánh Tiền chi.

    Sai ba đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm đi Quảng Nam theo Trần Văn Trạc giữ bảo Kim Bồng. Lại thấy số quân ba đội hơi ít, dụ cho Văn Trạc kén hàng binh Thuận Hóa và Bắc Hà những người tinh tráng để bổ thêm cho mỗi đội đủ số 120 người hoặc 150 người. Lại phái vệ Tín võ đi theo việc quân ở Thanh Hảo.

    Cho Khâm sai chưởng cơ giám quân Trung quân là Nguyễn Văn Trương làm Khâm sai chưởng Trung quân bình Tây đại tướng quân quận công. Trương là người tính trọng hậu, không ưa giết người.

    :rose::rose::rose:
tducchau thích bài này.