042. Trang [0455-0465] - @Ca Dao (Đã xong - Wiki)

12/5/16
042. Trang [0455-0465] - @Ca Dao (Đã xong - Wiki)
  • Trước kia quân ta đánh nhau với giặc bị thua, lội sông chạy, giặc xúm lại đâm. Lúc ấy Trương là tướng của giặc, liền ngăn lại rằng: “Thừa lúc người ta nguy mà hại là bất nhân!”. Giặc bèn lùi. Vua từng khen rằng: “Làm tướng mà có lòng nhân như Trương, thiệt là ít có”. Sau quy thuận nhiều lần lập công lớn. Người ta khen là phúc tướng.

    Đổng lý giặc là Nguyễn Văn Thận đem quân đóng giữ dinh Hà Trung. Nguyễn Văn Trương cho thám biết quân giặc dẫu nhiều nhưng lòng chiến đấu thì ít, dâng sớ xin chỉnh bị thuyền ghe để thừa cơ tiến đánh. Vua sai đem cho một thanh đao vàng và dụ rằng: “Tướng quân là bực lão thần cột tảng, nhà nước rất trông cậy. Ngày nào khởi quân, nên chia hai đường thủy bộ đều tiến vào Thanh Nghệ, hội với quân thượng đạo để quét hết bọn giặc nhơ kia. Sớm muộn Diệu Dũng sẽ bị bắt. Ta cũng chia sai các tướng tiến đánh Thăng Long để bình định đất Bắc Hà”.

    Lại thấy chức tham tán nhung vụ nên có một quan văn mà cần phải thông thuộc dân tình địa thế Bắc Hà, hiện chưa có người, bèn cho người vời Tán lý quân thứ Bình Định là Đặng Trần Thường và Tham quân Hậu dinh là Nguyễn Trí Hòa đến Kinh nghe lệnh.

    Biên bổ tù binh ở Quy Nhơn làm bốn vệ Quang uy, Minh uy, Nhuệ uy và Tuyên uy. Lấy Cai đội Túc trực là Lê Viết Nhân làm Vệ úy vệ Quang uy, Cựu đô ty Nguyễn Tiến Lượng và Trưởng hiệu Tiên chi Trấn thành là Ngô Văn Sự làm Phó vệ úy, Phó vệ úy Trang võ là Nguyễn Lẫm làm Vệ úy vệ Minh uy, Phó trưởng chi Hữu chi Trấn thành là Hoàng Tiến Trường và Trưởng hiệu Hậu chi là Nguyễn Cửu Lợi làm Phó vệ úy, Tôn Thất Hoảng làm Vệ úy vệ Nhuệ uy, Đội trưởng Túc trực là Ngô Văn Đắc và Cai đội Mật sai là Phạm Văn Sâm làm Phó vệ úy, Cai đội Mật sai là Nguyễn Tiến Lực làm Vệ úy vệ Tuyên uy, Cai đội Trần Ngọc Trung và Tống Văn Trị làm Phó vệ úy. Sai Khâm sai đô đốc Nguyễn Kế Nhuận làm Phó điều bát, quản suất bốn vệ đến bảo Động Hải theo Nguyễn Văn Trương làm việc quân.

    Cựu huyện thừa ở Nghệ An là Hoàng Thạch Phỏng và sinh đồ Phạm Đình Tích đến Kinh xin được dùng. Cho Phỏng làm Khâm sai cai cơ, Tích làm Khâm sai cai đội, đều sai đem quân đạo Hưng Nghĩa theo Nguyễn Văn Trương sai bát.

    Đại đô đốc đạo Tả bật của giặc là Nguyễn Văn Xuân đem quân cơ Ngũ chế đến quân thứ Thanh Hảo đầu hàng. Sai tập hợp quân cũ theo Lê Văn Duyệt đánh giặc. Vua mật dụ Duyệt rằng: “Lòng người thật khó lường, khó hơn lường việc trời. Từ khi ta dấy quân khôi phục đến nay, những hàng tướng giặc ta đều suy lòng đặt dạ, lấy thành tín đãi họ, nhưng bọn họ ít người lấy thành thực để thờ. Nay Nguyễn Văn Xuân theo quân thứ của khanh, nên cẩn thận để phòng xem xét ý tứ. Phàm đối với bọn hàng tướng đều phải như thế, chẳng những một người này mà thôi. Nên cẩn thận”.

    Tặng Mai Đức Thục làm Cai bạ. Thục là cha Mai Đức Nghị, trải thờ các triều trước, làm Hàn lâm viện. Khi vua mới lấy lại Phú Xuân, Thục đến yết kiến. Đến nay chết. Vì con là Nghị có công với nước nên truy tặng.

    Nguyễn Văn Thành ở Bình Định chống nhau với giặc, địa thế đồn trại quá rộng, lại ở Phú Yên giặc còn giành giữ, phân phái không khắp, bèn đem tình hình phi báo và xin thêm quân.

    Vua bèn sai hai vệ kinh binh là Cung võ và Nội dực cùng 12 đội quân lưu cư ở Thuận Hóa và quân mới hàng, 4 vệ quân đạo Thanh Hảo là Kiện uy, Túc uy, Trang võ, Nghiêm võ, đều đáp chiến thuyền đến ngay, dụ cho Nguyễn Văn Thành chia bổ vào các dinh (vệ Túc uy và 12 đội quân Thuận Hóa bổ vào Tượng dinh; vệ Cung võ bổ vào Hữu dinh; vệ Nội dực bổ vào Hậu dinh; 3 vệ Kiện uy, Trang võ, Nghiêm võ thì lưu ở Tiền quân để điều dụng). Lại tuyển lính khoẻ ở Gia Định, đánh úp lấy Phú Yên để quét sạch đảng giặc.

    Vua lại truyền dụ cho Lưu trấn thần Gia Định rằng: “Bọn giặc Diệu Dũng nay đã cùng đường, đợi khi chúng quân mỏi lương hết, đánh một trận là bắt được, bất tất phải lo. Điều cần cấp phải lo là ở quân nhu. Quân ta từ Thạch Tân trở ra đến sông Gianh không dưới 4 vạn người, lấy lương tiền ở Quảng Ngãi, Quảng Nam và Thuận Hóa cũng đủ chi cấp. Duy có Tiền quân, Hữu quân, Hậu dinh, Tượng dinh, Tiên phong ở Quy Nhơn, số quân tới hơn 3 vạn, lương thực tất phải trông ở Gia Định. Bọn khanh nên nghĩ thế nào cho quân đủ ăn thì cho tuỳ tiện mà làm”.

    Nguyễn Văn Thành sai Hoàng Viết Toản đem quân đánh phá được đảng giặc là Phạm Văn Điềm ở Mễ Tân [Bến Gạo]. Binh thuyền của Tống Phước Lương vừa tới, hợp cùng quân Nguyễn Văn Tánh tiến đánh các bảo giặc Bạng Quán, Lệ Uyên, Trúc Khê, quân giặc thua vỡ. Đuổi đến La Thai, thu được ấn đồng, cờ trống, khí giới rất nhiều. Điềm trốn chạy. Tánh đóng giữ nơi ấy. Phước Lương bèn dẫn quân về.

    Sai Giám thành cai đội Nguyễn Văn Yên đến Động Hải ngắm đo lũy Trấn Ninh (tức trường lũy Động Hải) và xem khắp hình thế, trên từ núi Đâu Mâu, dưới tới cửa biển Nhật Lệ, vẽ thành đồ bản để dâng (lũy dài 5.120 trượng).

    Lấy Hàn lâm viện Lê Đại Nghĩa sung chức Hoàng tử thị học.

    Triệu Lưu thủ Tống Phước Ngoạn, Cai bạ Nguyễn Quang Diệu, Cựu ký lục Nguyễn Đăng Hưu, Ký lục Trấn Biên Nguyễn Đình Đức, Ký lục Trấn Định Lê Bá Phẩm, Cai bạ Bình Khang Hoàng Ngọc Uẩn, Ký lục Bình Thuận Nguyễn Khiêm về Kinh để điều dụng. Lấy Khâm sai cai cơ quản các đội Mộc đĩnh là Nguyễn Văn Triêm làm Lưu thủ Phiên Trấn, Hàn lâm viện viện trưởng Trần Quang Tĩnh làm Cai bạ, Hàn lâm viện chế cáo Mai Văn Dụ làm Ký lục Trấn Định.

    Giặc đánh vào bảo Chợ Ròn ở Hoành Sơn. Tin báo đến Động Hải. Nguyễn Văn Trương sai Phó điều bát Nguyễn Kế Nhuận quản đem hơn 7.000 quân các vệ, chia hai đường thủy bộ đều tiến đánh. Trương dặn rằng: “Hễ gặp giặc chớ vội đánh, nên đợi thủy bộ tiếp nhau rồi hãy tiến công”. Nhuận đem quân bộ đến trước, Tây Sơn rút lui, tức thì đuổi theo. Đến núi Thần Đầu, Tây Sơn phục binh nơi hiểm đón đánh. Nhuận thua to chạy. Vệ úy Nhuệ phong là Tôn Thất Hoảng, Phó vệ úy Quang uy là Ngô Văn Sự đều chết trận, quân lính bị mất vào giặc già nửa. Trương nghe tin, bèn thân đem binh thuyền thẳng đến sông Gianh chia đồn đóng giữ. Việc tâu lên. Vua cho rằng Nhuận không theo tướng lệnh để bị thua, giết đi. Dụ cho Nguyễn Văn Trương lượng để biền binh lại ủy cho Hoàng Văn Điểm giữ bảo Thanh Hà (ở phía nam sông Gianh), còn rút hết về Động Hải, sửa chữa trường lũy làm kế phòng giữ (Hoảng là con chưởng Tả thủy dinh Tôn Thất Huống, năm Minh Mệnh thứ 5, truy tặng Thống chế).

    Quân và dân Thuận Hóa có nhiều người gửi thư nặc danh, cũng có người gửi đơn từ, do trạm chuyển đệ. Vua dụ rằng: “Chính sách vương giả cốt lấy việc ngăn gian trừ tệ làm đầu. Duy lúc mới bình định, lệ nhà Tần nhà Hán còn theo, chưa sửa đổi được. Những kẻ tiêm nhiễm thói cũ đã lâu, hoặc tạ sự nhiễu dân, hoặc nhân cơ báo oán, lòng người đều ghét, phép vua cũng chẳng dung. Tuy những kẻ bị giết theo phép thường đành là kẻ ác, nhưng những kẻ mưu mô thầm kín vốn chẳng phải là loài hay. Từ nay phàm thấy đích xác kẻ nào ngang trái, quấy nhiễu việc gì, nên chỉ rõ tên tuổi quê quán mà tố cáo quan trên xét trị, ai vu cáo thì bị phản tọa. Nếu vì những oán nhỏ nhặt mà đảo điên phải trái, nặc danh bỏ thư, thì thực là khinh nhờn lừa dối, việc phát giác cũng y luật trị tội. Lại như việc chuyển đệ văn thư là việc quan trọng, đơn kêu tờ kiện sao lại được giao bậy đệ bậy? Nhưng mới là sai lầm một lần, hãy tạm tha thứ. Nếu còn giữ mãi thói cũ, ắt phải chiếu phép nghiêm trị để chặn cửa tà vạy mà mở đường rộng bằng. Đó cũng là một điều lớn để giữ yên dân vậy. Phải kính tuân theo”.

    Vua từng cùng các quan bàn tới phong tục, dụ rằng: “Từ lúc giặc Tây Sơn làm điều bạo ngược, phong tục đồi bại, ta rất lo buồn. Nay nên bảo cho dân biết đường yêu ghét, dạy lễ nghĩa, nhiên hậu dân phong mới chính lại được”.

    Ban cho các hệ tôn thất 2.000 quan tiền và 2.000 phương gạo. Dụ Tôn Thất Thăng rằng: “Từ xưa các đế vương đều lấy hòa gia tộc hậu luân thường làm trọng. Nhưng cũng nên có lễ phép để ràng buộc mới có thể giữ vẹn được tình huyết mạch mà chung hưởng giàu sang. Từ khi vận nước sa sút, các thần tộc phải nếm đủ mùi cay đắng. Nay ta nhờ phúc trạch tổ tiên lấy lại được non sông, thực muốn cho người thân tộc tuân theo phép tắc mà cùng hưởng phúc chung. Gần đây nghe nói có kẻ chiếm đoạt nhà đất của dân, có kẻ say rượu dọa người, làm bậy những điều phi pháp, thực rất đáng ghét. Phàm trị quốc trước phải tề gia. Tức như họ hàng giặc Tây Sơn cậy thế lăng ngược, người đều ta oán, mà đến suy bại, gương ấy không xa. Nay nên tập họp mà dạy bảo từ nay không được kiêu ngạo ngang trái như trước mà mắc vào tội. Vả pháp luật thi hành phải tự gần trước. Phải coi chừng thận trọng”.

    Ghi con cháu công thần ở Tống Sơn.

    Dụ rằng: “Người Tống Sơn đều là chỗ thân thích quê hương, theo đức Thái tổ ta vào trấn phương Nam, lập nhiều công lao, con cháu đời đời cùng nước hưởng phúc. Nhưng vì vận nước suy sút, phải tản cư trong dân gian. Nay lấy lại đô cũ thì người ta ai cũng tìm người cũ. Vậy đặc dụ cho những người Tống Sơn hiện ở trong quân hay trong dân, đều trình bày về thế hệ và công lao của ông cha mà tâu lên, để lượng ghi dùng”. Rồi sai Tham tri Binh bộ là Ngô Nhân Tĩnh dâng sớ liệt kê những người công tính [họ nhà chúa] cùng con cháu các bề tôi, gồm 469 người, đều cho quan chức tập ấm và cho miễn dao dịch, theo thứ bực khác nhau.

    Thu thuế điền và thuế biệt nạp ở Quảng Ngãi, thuế biệt nạp ở Quảng Nam, đều y theo lệ Thuận Hóa mà làm.

    Sai Thiêm sự Hộ bộ là Hồ Thế Học trông coi việc chở thuyền lương ở Đà Nẵng (số gạo hơn 31.000 phương) đến Thanh Hảo, hiệp theo Tham tri Trịnh Hoài Đức để chi cấp cho quân.

    Mùa thu, tháng 7, Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên cùng Phó đô thống chế Hữu dinh là Trần Văn Tín đánh giặc ở các bảo Hoa An và Sơn Trà, đều thắng.

    Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh giặc ở xã Mân Trường, phá luôn được 8 sở bảo của giặc, bắt được tướng binh và khí giới voi ngựa rất nhiều. Tin thắng trận báo lên. Cho các quân 1.000 lạng bạc. Lại ra lệnh phàm tướng sĩ Hậu quân ngày trước từ ở bên giặc trở về, cho hết về Kinh chầu hầu.

    Vua sai đem việc Nguyễn Kế Nhuận làm đổ quân báo cho bọn Duyệt biết, và dặn rằng: “Hiện nay giặc mạnh ở trước mặt, quân ta lợi ở sự bền giữ. Bọn khanh nên thận trọng hơn lên, phải tính mười phần thắng thế, nhiên hậu mới hợp sức đánh úp, để được vạn toàn. Nếu còn một phần may rủi thì chớ nên khinh tiến”.

    Đại tổng quản giặc là Lê Văn Thanh lại trở về với ta. Lê Văn Duyệt cho đóng gông giải về Kinh. Vua cho gọi đến hỏi rằng: “Ngươi tự đem thành để hàng, ta đối đãi không bạc, cớ sao ngươi lại phản?”. Thanh lạy rạp xuống đất khóc kêu. Vua không nỡ giết, sai tha ra.

    Phó trấn Thuận Thành Nguyễn Văn Điến nhũng làm, việc phát, sai cất chức, thu tang vật trả cho dân.

    Sai Khâm sai thuộc nội cai đội Ba La Di đi Hạ Châu tìm mua súng đạn.

    Triệu quân ba đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm về Kinh. Dụ Trần Văn Trạc rằng: “Ba đội này đều là thân quân của ta, ngày đêm không rời bên cạnh. Nay những quân nanh vuốt đều đã phái đi Quy Nhơn và Thanh Hảo, ở Kinh chỉ còn quân Nội trực Túc trực mà thôi, nếu có việc gấp thì lấy gì trấn tĩnh lòng người được? Quảng Nam tuy địa thế rộng, nhưng ngoài có Kinh thành, trong có Thanh Hảo, bọn phản trắc tưởng không làm gì được. Khanh có thể liệu giữ lại mỗi đội 30 người, còn bao nhiêu cho cả về Kinh chầu hầu để phòng bất trắc.

    Cho Khâm sai chưởng Tiền quân bình Tây tiền tướng quân Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng Tiền quân bình Tây đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh quận công. Thành dâng biểu xin từ, nói thân làm chủ tướng, vâng mệnh dẹp giặc, nay giặc chưa trừ, không dám vội nhận thưởng lớn. Vua dụ rằng: “Khanh nhũn nhặn như thế ta rất khen, song tước thưởng là để khuyên đời, khanh nên kính vâng mệnh đã định, mau lập võ công để xứng đáng sự ủy thác, chớ nên từ chối”. Lại dụ các tướng rằng: “Một viên tướng giữ mệnh của quân, trách nhiệm không phải là nhẹ, nếu không phân biệt danh vị thì khi lâm sự khó sai khiến, cho nên đặc gia phong Nguyễn Văn Thành tước quận công. Nhưng Thành khiêm tốn, dâng biểu cố từ, ý là không dám nhận công riêng mà muốn cùng với các khanh đều hưởng ơn chung. Ta xem bài biểu từng thấu tỏ. Nhưng một vùng Quy Nhơn chưa dẹp yên hết, các khanh nên hết lòng hết sức sớm lập công lớn, đợi bình định xong sẽ gia thăng tước trật, đều hưởng tôn vinh. Các khanh nên hiểu rõ ý ta”.

    Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu và Tư đồ Võ Văn Dũng loại ra hơn 600 lính ốm ở thành Bình Định, thả về quân thứ của ta. Nguyễn Văn Thành tâu lên. Vua sai lấy thuyền chở về an dưỡng ở Gia Định.

    Vua nghe rằng trong dân gian có nhiều côn đồ tụ tập cướp bóc, bèn sắc cho các phủ huyện thuộc Thuận Hóa phải xem xét sự động tĩnh trong hạt, cứ 15 ngày báo lên một lần.

    Phạm Như Đăng dâng sớ nói rằng ở quân thứ Thanh Hà và Động Hải, số quân một ngày một thêm, lương dùng càng ngày càng rộng, xin hạ lệnh thuế sai dư và điền tô các châu huyện thì hạt Minh Linh nộp ở kho An Trạch, các hạt Khang Lộc, Lệ Thủy nộp ở kho Động Hải, Nam Bắc Bố Chính thì nộp ở kho Thanh Hà, để tiện việc chi phát. Vua y cho.

    Vua lại nghĩ quân lương ở Bình Định không được kế tiếp, dụ cho Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Hoàng Đức lưu tâm dè sẻn, rồi ủy cho Tham tri Hộ bộ Trần Hữu Thiện kiểm soát các nhà quan và binh trong cửa biển Thị Nại, ai có gạo riêng thì theo đúng giá công mà vét mua (một phương gạo trị giá 2 quan).

    Đại đô đốc đạo Tả bật của giặc là Lê Danh Phong đem hơn 300 quân của cơ Thiên cán đến quân thứ Thanh Hảo đầu hàng. Phong là thuộc tướng của Trần Quang Diệu, Diệu coi là tâm phúc, đến nay đóng giữ Tân Quan, chống nhau với quân ta. Vua mật sai người lấy lẽ thuận nghịch khuyến dụ, Phong bèn đem quân theo về. Vua sai dẫn về Kinh bái yết. Lê Chất từng nói với Lê Văn Duyệt về tài năng của Phong. Duyệt tin, dâng sớ tiến cử Phong là người đáng dùng. Nguyễn Đức Xuyên được tin, mật dâng sớ nói: “Phong đối với giặc rất thân tín, cũng như thần cùng Nguyễn Văn Thành đối với nước vậy. Thành với thần không phản thì Phong về với ta chưa chắc đã thành thực. Duyệt không xét chỗ đó mà tiến cử Phong là tự Chất xui. Chất về ta đã lâu mà ngày nọ đuổi giặc không kịp người ngoài còn dị nghị, huống là Phong. Vương thượng bao năm khó nhọc mới phôi phục được nghiệp cũ, việc dùng người không phải là nhỏ, xin chú ý cho”. Vua trả lời rằng: “Lòng trung ái của ngươi, ta đã rõ rồi. Phong không đủ tin, ta đã riêng có cách ngăn ngừa. Hãy tạm để đó. Còn như việc Chất đi đuổi giặc, sao lại có thể bàn một cách khinh suất? Khi quân ta đến, Quang Toản gấp đường chạy ra Bắc, chưa đầy hai ngày mà đã vượt qua sông Gianh. Thủy quân của Nguyễn Văn Trương được gió no buồm đuổi còn chẳng kịp, huống bộ binh của Chất ngày đêm mỏi mệt ư? Mọi người yêu cũng phải xét, mọi người ghét cũng phải xét, chớ lấy việc đó mà ngờ Chất”.

    Cho Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Duyệt làm Đô thống chế quận công chưởng Tả dinh quân Thần sách, Đô thống chế Tả đồn quân Ngự lâm là Lê Chất làm Đô thống chế Tả đồn. Vua dụ Chất rằng: “Từ khi khanh cùng Duyệt cầm quân dẹp giặc, giữ trọng trách một phương, ta được thư lòng. Duy Duyệt tính vốn khắc khổ, không được hả lòng tướng sĩ, khanh nên lấy nghĩa giao du với nhau, lấy lòng thành mà cảm nhau, đừng lấy khí thế cao thấp tài danh hơn kém, phải đồng lòng lo toan để xuôi công việc, thế mới là bề tôi của xã tắc, vật báu của nước nhà. Khanh nên lưu tâm”.

    Lấy Tham quân Tả dinh quân Thần sách là Ngô Đức Tuấn làm Bắc Hà chiêu phủ sứ. Tuấn cho rằng Bắc Hà có cơ đánh được, dâng sớ tâu bày, xin đi dụ hào mục các nơi đánh giặc lập công. Vua khen ngợi, trao cho chức ấy, sai đem quân sở thuộc cùng với Chánh vệ Nguyễn Đình Hiệu vượt biển cùng đi. Tuấn đến Biện Sơn (thuộc tỉnh Thanh Hóa). Phó vệ Nguyễn Đình Hoằng, Thống binh Hoàng Văn Quý và hào mục sở tại nhiều người hưởng ứng, bèn đóng quân ở đó, tập hợp nghĩa binh, chiêu nạp đồ đảng Tề Ngôi, có hơn 400 quân và hơn 20 chiếc thuyền. Chợt gặp thuyền lương của giặc từ Bắc lại, Tuấn đem quân đón đánh cướp được (thuyền 23 chiếc, gạo 15.000 phương, súng lớn 25 cỗ, thuốc súng 7.000 cân, đạn 5.000 viên), bắt được Tham đốc giặc là Tính và Lãnh (hai người đều không rõ họ) cùng hơn 300 quân. Tuấn đem tin thắng trận báo về, và xin phái thêm quân thủy bộ tiến lấy Thanh Nghệ.

    Vua truyền dụ khen ngợi, sai giải tù binh giặc về Kinh và cứ vững đóng đồn trại để chờ quân nhà vua.

    Đổng lý giặc là Nguyễn Văn Thận lại sai đồ đảng 3.000 người xâm phạm bảo Chợ Ròn ở Hoành Sơn. Nguyễn Văn Trương được tin báo, tức thì sai Cai cơ Nguyễn Văn Đạo đem 20 thuyền chiến đến sông Gianh tiếp ứng. Tây Sơn thấy thủy binh ta đến bèn rút đi. Thận nhiều lần xin với Nguyễn Quang Toản thêm quân để đánh Động Hải, Quang Toản không cho, Thận bèn trở về Vĩnh Dinh (tức trấn lỵ Nghệ An).

    Chia bổ sáu vệ quân mới hàng là Chánh võ nhất, Chánh võ nhị, Thanh võ, Tường võ, Trinh võ, Khánh võ, lệ vào Tả dinh quân Thần sách và vệ Thắng võ lệ vào Tả đồn quân Ngự lâm. Lấy Cựu đại đô đốc Tống Đình Nhân làm Vệ úy vệ Chánh võ nhị, Đô đốc Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Văn Dĩnh làm Phó vệ úy, Đại đô đốc Lê Văn An quản hai vệ Thành võ và Tường võ, Đô đốc Nguyễn Văn Cường làm Vệ úy vệ Thành võ, Đô đốc Phạm Công Kiêu và Cai cơ Đặng Văn Mân làm Phó vệ úy, Đô đốc Nguyễn Văn Trọng làm Vệ úy vệ Tường võ, Đô đốc Nguyễn Văn Thường và Đô úy Lê Văn Tô làm Phó vệ úy, Đại đô đốc Trương Phúc Phượng quản hai vệ Khánh võ và Trinh võ, Chánh vệ Phan Văn Hài làm Vệ úy vệ Khánh võ Phó vệ Hà Văn An và Lê Văn Hoằng làm Phó vệ úy, Đô đốc Lê Văn Thái làm Vệ úy vệ Trinh võ, Phó vệ Lê Kim Ngũ và Nguyễn Văn Ba làm Phó vệ úy, Chánh vệ Nguyễn Đình Dũng làm Vệ úy vệ Thắng võ, Phó vệ Chu Văn Trung và Trương Phúc Tường làm Phó vệ úy.

    Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu thường sai người theo đường biển đi Bắc Thành truyền đệ thư tín. Vua dụ Lê Văn Duyệt phái binh ra mai phục ở Lý Dữ [cù lao Ré] đón bắt.

    Sửa đắp đường quan từ Phú Xuân đến Động Hải.

    Ngày Bính thân, vua đi Quảng Bình, lưu Quốc thúc Tôn Thất Thăng ở lại giữ kinh thành. Thuyền ngự khởi hành từ sông Hương (sông Hương tức là sông Hương Trà, vì nước ngọt nên gọi thế). Ngày Mậu tuất đến xã Hồ Xá. Ngự giá lên đường bộ, đi đến đò Cừ Hà rồi lại theo đường thủy đi. Ngày Kỷ hợi đến Động Hải. Xa giá đi đến đâu nhân dân đều vui mừng chiêm bái, tranh nhau đem trâu rượu đến dâng. Vua yên ủi cho về. Bèn xem khắp hình thế lũy Trấn Ninh, chia đồn đặt súng, cùng bầy tôi bàn định việc quân. Ngày Quý mão hồi loan.

    Đổi châu Nam Bố Chính làm châu Bố Chính nội, châu Bắc Bố Chính làm châu Bố Chính ngoại.

    Sai Triệu Đại Sĩ(1) đi Quảng Đông. Đại Sĩ là người nước Thanh sang buôn, bị quân giặc biển Tề Ngôi cướp bắt, quân ta đánh phá giặc biển nên bắt được. Vua thấy kinh đô cũ đã khôi phục được, bèn đem tình hình trong nước gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng. Đại Sĩ xin đi. Bèn sai đi.

    (1) Có lẽ là Nhậm 任 vì húy tên Tự Đức nên sách chép 任 là Sĩ 仕.

    Hạ lệnh cho các phủ huyện châu ở Thuận Hóa, phàm ruộng lương cấp cho quan quân ngụy và những ruộng đất khẩu phần đều cho cày cấy nộp thuế như cũ. Dụ rằng: “Hiện nay việc quân đương bận, chế độ ruộng đất chưa kịp bàn định đến mà việc của dân thì lại không thể hoãn được. Vậy nên cho chiếu theo sổ sách năm Canh thân mà nhận ruộng cấy như cũ cho kịp thời vụ, đợi sau khi bình định sẽ có xử trí. Còn như các ruộng ngụ lộc, quan điền, quan trại, nếu trước đã có người lĩnh canh thì cũng cứ cho, nếu không thì trả cho dân, không được bỏ hoang”.

    Sai Trần Văn Trạc thu thêm thuế ruộng công và tư ở Quảng Nam, mỗi mẫu 5 thăng gạo, chở đến Thanh Hảo. Trạc dâng sớ xin chiếu thu tiền thuế đất dâu và thuế nguồn đầm để chi việc quân. Vua y cho.

    Lấy Cựu đại đô đốc Lê Quốc Cầu làm Chánh quản, Tham đốc nghĩa binh thượng đạo là Tăng Ngọc Ninh làm Phó quản, sai đem quân bản bộ theo đường núi châu Bố Chính ngoại lẻn đến Nghệ An, chiêu tập binh mã để thừa cơ đánh giữ. Cầu đến Nghệ An, lại làm phản theo giặc.


    CHÍNH BIÊN
    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XV
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ
    Tân dậu, năm thứ 22 [1801], mùa thu, tháng 8, bổ quân mới hàng ở Bình Định làm vệ Tuấn võ Tiền quân; lấy Phó vệ vệ Kiên võ là Phạm Văn Quỳnh làm Chánh vệ, Cựu đô ty Trần Văn Điền và Đỗ Văn Điểm làm Phó vệ.

    Lấy Phó vệ vệ Địch võ Tiền quân là Nguyễn Xuân làm Chánh vệ, Cựu đô ty Trần Thanh Đạo làm Phó vệ, Phó Hậu chi Nguyễn Văn Sự làm Chánh vệ vệ Tiệp võ, Phó vệ vệ Địch võ là Nguyễn Đình Nguyễn làm Phó vệ, Khâm sai cai đội Trương Văn Châu làm Phó vệ vệ Kiên võ, Trưởng hiệu Mai Văn Điểm làm Phó hậu chi.

    Thiếu phó giặc Trần Quang Diệu và Tư đồ Võ Văn Dũng mưu cướp Hoa An, Hoa Lộc để lấy đường tranh Phú Yên, bèn dàn nghi binh từ Sơn Trà cho tới sông Dinh, giả làm thế đánh úp, rồi đem hết quân tinh nhuệ đến đánh bảo Hoa An, Hoa Lộc. Nguyễn Văn Thành thân đốc các quân đánh dữ luôn mấy ngày, quân giặc bị tử thương nhiều, bèn kéo lui. Thành đắp thêm đồn lũy, phòng giữ nghiêm hơn. Giặc lại đánh đồn Khôi Diêu [Lò vôi]. Vệ úy vệ Địch võ Nguyễn Xuân đánh đuổi chạy.

    Điển quân thượng đạo là Lưu Phước Tường đem sáu chi quân bản bộ đánh Nghệ An. Nước Vạn Tượng cũng sai tướng là Phá Nhã Khu Bô đem hơn 4.000 quân Man đều tiến, từ Xỉ Đa Khâm Cát đi xuống. Binh đến Hương Sơn và La Sơn, đánh giặc ở cửa Tam Thoa, cả phá được, thu được thuyền ghe súng ống khí giới rất nhiều. Lại đánh nhau với đô đốc giặc là Nguyễn Văn Hiện ở thành Lục Niên [huyện] Thanh Chương. Hiện thua chết. Quân giặc kéo đến đầu hàng như đi chợ. Nghệ An chấn động.

    Quân giặc bèn đốt cháy nhà dân mấy huyện để làm kế thanh dã(1). Lương không đủ ăn, quân Vạn Tượng phải rút lui. Tường đem binh thuyền đi từ cửa Sót về sông Gianh. (Xỉ Đa, Khâm Cát đều là tên đất Man; Hương Sơn, La Sơn, Thanh Chương đều là tên huyện).

    (1). Vườn không nhà trống, không để lương cho địch.

    Đặt quan công đường ở bốn dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam. Vua mở xem đồ bản các dinh, lấy ba huyện Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang thuộc phủ Triệu Phong làm dinh Quảng Đức (tức phủ Thừa Thiên ngày nay) ; hai huyện Đăng Xương, Hải Lăng thuộc phủ Triệu Phong và huyện Minh Linh thuộc phủ Quảng Bình làm dinh Quảng Trị ; hai huyện Lệ Thủy, Phong Lộc thuộc phủ Quảng Bình và hai châu Bố Chính nội ngoại làm dinh Quảng Bình ; ba huyện Duy Xuyên, Lễ Dương, Hà Đông thuộc phủ Thăng Hoa và hai huyện Diên Khánh, Hòa Vang thuộc phủ Điện Bàn vẫn lệ thuộc vào dinh Quảng Nam. Lấy Khâm sai tổng nhung cai cơ tri Đồ gia Nguyễn Công Hòa làm Lưu thủ dinh Quảng Đức, Cai bạ Bình Khang Hoàng Ngọc Uẩn làm Cai bạ, Ký lục Trung quân Lê Văn Quý làm Ký lục; lấy Khâm sai cai cơ Hậu quân Đinh Văn Dụ làm Lưu thủ dinh Quảng Trị, Thiêm sự Lễ bộ Ngô Triều Cao làm Cai bạ, Cựu hữu đồng nghị Lễ bộ Nguyễn Viết Ưng làm Ký lục ; lấy Khâm sai cai đội Tân dinh Tôn Thất Huyên làm Lưu thủ dinh Quảng Bình, Tri bạ tri Nội đồ gia Đinh Công Quý làm Ký lục; lấy Hiệu úy Tiền chi Trung quân Hoàng Văn Khánh làm Lưu thủ dinh Quảng Nam, Ký lục Bình Thuận Nguyễn Văn Khiêm làm Cai bạ, Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Văn Phương làm Ký lục.

    Triệu Trần Văn Trạc về Kinh.

    Cấp phát quần áo cho quan và binh các đạo. (Quân thứ Thanh Hảo và Động Hải thì do Kinh may phát cho; quân thứ Bình Định thì do Gia Định may phát cho).

    Tha thuế năm nay cho các sách Man ở nguồn Đồng Hương dinh Bình Khang.

    Chở sản vật ở Bình Khang và Bình Thuận về Kinh (Buồm lá, dầu rái, nhựa trám, mây sắt, mây nước, song và nến lớn nến nhỏ).

    Sai Thị thư viện soạn các bộ Cương mục chính biênTiền biên dâng vua xem. Vua thích xem sách, dù ở trong quân cũng thường lấy sách vở làm vui, nhiều lần triệu các văn thần đến giảng bàn, đến đêm mới thôi. Vua dụ các quan rằng: “Học trò ở Thuận Hóa, gặp loạn Tây Sơn, nghiệp học bỏ trễ. Nay nên cho theo học tập đợi sau khi bình định sẽ mở khoa thi để thu lấy những người thực học”.

    Hạ lệnh cho Lưu trấn thần Gia định rằng: “Phàm các quan văn võ, người nào theo hầu ở Kinh thì thuộc binh của họ ở lại nguyên quán đều được miễn dao dịch”.

    Sai ngũ trưởng của đội Nội mã, Tả mã, Hữu mã chia đi các trạm dọc đường để quản suất các phu trạm. Phàm người được sai phái, xét có lệnh tiên, long bài, chỉ sai, công đồng sai, thì theo lệ mà chuyển đệ và đăng ký vào sổ minh bạch, mỗi tháng gộp nộp sổ một lần; kẻ nào thiện tiện bắt chuyển đệ thì bắt trị tội.

    Tán lý Đặng Trần Thường đến Kinh vào bái yết. Vua vời vào cùng bàn việc quân, ban cho 1.000 quan tiền, sai đi bảo Động Hải hiệp cùng Nguyễn Văn Trương dự làm việc quân. Thường đến, điểm duyệt quân số bốn vệ Quang uy, Minh uy, Nhuệ uy, Tuyên uy, chỉ có 800 người, dồn làm hai vệ, dâng sớ xin đổi hai vệ Minh uy, Quang uy làm vệ Đằng uy, hai vệ Nhuệ uy, Tuyên uy làm vệ Nghị uy. Lại dồn những quân lạc tòng sở thuộc đặt làm vệ Tráng uy, còn những người ở xa mới đến theo và các hàng tướng có danh sắc cũ thì đặt riêng làm Nghĩa dũng đoàn. Vua y cho.

    Lấy Phó vệ úy vệ Minh uy cũ là Hoàng Tiến Trường làm Vệ úy vệ Đẳng uy, Cai đội Tống Văn Sở và Nguyễn Văn Nhạn làm Phó vệ úy, Phó vệ úy Nhuệ uy cũ là Ngô Văn Đắc là Vệ úy vệ Nghị uy, Phó vệ úy Phạm Văn Sâm và Cai đội Nguyễn Văn Vân làm Phó vệ úy, Cai cơ Lê Văn Thắng và Cai đội Thái Bá Hùng làm Phó vệ úy vệ Tráng uy.

    Các tù trưởng Man ở Ai Lao đến Kinh chúc mừng. Vua ban cho hậu, rồi cho về.
    cute_smiley26