044. Trang [0475-0487] - @da.nguyen (đã xong) - Team S03

11/11/15
044. Trang [0475-0487] - @da.nguyen (đã xong) - Team S03
  • Lê Văn Duyệt hạ lệnh bắt dân bồi thường số tiền là 1.236 quan nộp vào kho. Vua nghe tin nói: “Trong luật nói “ban đêm đến nhà người, không là dâm thì là trộm, đương trường giết chết không có tội. Thuần đương đêm tự tiện vào nhà người ta, lạ gì người ta không ngờ là trộm, đã không có lời tử tế, lại còn đánh nhau, chết là đáng rồi, còn đền gì nữa”. Bèn hạ lệnh chỉ cho lấy tiền vàng hương 36 quan, còn thì trả hết cho dân.

    Đại đô đốc giặc là Lê Đình Chính đem hơn 70 người quân cơ Hùng thắng đến quân thứ Thanh Hảo đầu hàng. Lê Văn Duyệt sai đóng gông giải về kinh. Vua tha tội. Chính nhân đó đem dâng địa đồ 13 đạo thừa tuyên ở Bắc Hà. Sai thu để xem.

    Ngày Bính tuất, sai Hữu ty lập đàn ở đồng An Ninh để hợp tế trời đất. Vua thân đến làm lễ. Lễ xong, bầy tôi chúc mừng.

    Lại sai Tống Phước Lương quản suất binh thuyền đến cửa biển Tùng Luật, chờ thuận gió sẽ vượt biển tiến ra sông Gianh hội với Đặng Trần Thường đánh giặc.

    Duyệt tướng sĩ các dinh quân thủy bộ.

    Sai Hữu tham tri Công bộ Nguyễn Khắc Thiệu đem hai cơ Kiên châu và Thiện châu cùng hơn 390 người ty Công bộ về Gia Định, đóng 200 chiếc thuyền ô, thuyền sai và thuyền chiến, Nội viên Tăng Quang Lư đi Hà Tiên nấu luyện diêm tiêu để sung quân dụng.

    Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây bêu đầu ở chợ. Con trai, con gái, họ hàng và tướng hiệu của giặc 31 người đều bị lăng trì cắt nát thây. Thiên hạ lấy làm khoái.

    Đem việc khôi phục kinh đô cũ và giết trừ đảng giặc bá cáo cho Gia Định biết.

    Lời cáo rằng: “ Then máy trời đất không sai, đông qua rồi lại sang xuân. Khí hóa xưa nay vẫn thế, loạn hết thì đến trị. Xưa Thiếu Khang nhà Hạ dấy một quân mà trả được thù của tổ phụ ; Quang Vũ nhà Hán có mấy nghìn binh mà rửa được hận của thần người. Ta nay đến vận trung hưng, gặp cơ tái tạo, tướng sĩ ùa tới, xa gần hưởng theo. Cơn giận bùng lên, quét sạch gió bụi Tây tặc; quân vua kéo tới, thu hết bờ cõi Nam Hà. Hiện nay từ Phú Yên, Quy Nhơn, đến Thuận Hóa thẳng tới Hoành Sơn, đều đã thuộc vào đồ bản. Bắt được con cái tướng tá của Nguyễn Văn Huệ nhiều không kể xiết. Thật là lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt, loạn thần tặc tử, pháp luật không dung. Nay đã phá hủy mồ của vợ chồng giặc Huệ, bêu đầu phơi xác. Đồ đảng của chúng bắt được cũng đều giết hết. Vậy đặc biệt bá cáo, để hả lòng người”.

    Sai sứ đem quốc thư và các thứ vàng bạc, đồ sứ và hương quế, sang nước Xiêm đáp lễ.

    Đảng giặc là Từ Văn Chiêu phạm bảo Mỹ Ý. Lê Văn Duyệt giục Thủ bảo là Trịnh Ngọc Trí ra đánh và tự mình đem tinh binh giáp đánh. Quân giặc cả vỡ.

    Nguyễn Văn Thành kén quân cảm tử hơn 100 người, ban đêm sai đến đánh đốt bảo Phủ Sơn. Đô đốc giặc là Nguyễn Thắng thua chạy.

    Sai chúa tàu Phượng phi là Nguyễn Văn Chấn và chúa tàu Bằng phi là Lê Văn Lăng chở 15.000 phương gạo từ Quảng Nam đến quân thứ Thị Nại.

    Ban cho Lê Chất 500 quan tiền. Dụ rằng: “Ta đối với khanh sau trước một lòng, trong ngoài không phân cách, người khác không bì được. Gần đây nghe tin trong lời nói năng Lê Văn Duyệt có chỗ hơi quá đáng, mà khanh cũng nín nhịn không lấy làm quan tâm, ta đã biết rõ rồi. Khanh nên hiểu rõ ý ta, lấy việc nước làm trọng, hà tất phải nói nhiều. Vả ở trong quân chi phí rất nhiều, đặc biệt ban cho số tiền này tiêu dùng vào việc khoản đãi tướng sĩ và tân khách”. Còn mẹ già và vợ con Chất ở Gia Định lại sắc cho lưu trấn thần thăm hỏi.

    Dùng Cựu đô đốc Nguyễn Hữu Phụng làm Phó vệ úy vệ Hưng võ Tả đồn quân Ngự lâm, Cựu tham đốc Nguyễn Văn Lưu làm Phó vệ úy vệ Thắng võ.

    Giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản cử đại binh thủy bộ 30.000 người vào cướp. Quang Toản đã trốn ra Bắc Thành, lại cùng em là Quang Thùy cất quân vào Nam để làm thanh ứng cho bọn Diệu và Dũng ở Quy Nhơn. Vợ Diệu là Bùi Thị Xuân cũng đem đồ đảng 5.000 người đi theo. Quang Toản đến dinh Hà Trung, trước sai Tư lệ giặc là Đinh Công Tuyết đem 3.000 quân xâm phạm bờ cõi. Đặng Trần Thường đi xem địa thế Hoành Sơn, chợt bắt gặp, quân của Thường chỉ có hơn 500 người, hai bên giao chiến tự giờ dần đến giờ mùi, quân ta nhiều người chết và bị thương. Hai vệ Đằng uy Nghị uy chạy sang hàng giặc hơn 200 người. Thường liều chết cố đánh, bắt được 10 tên quân giặc, giặc không dám theo sát nữa. Thường lui về bảo Thanh Hà, đem việc báo lên. Vua dụ sai kén kỹ lấy thân binh bảy tám trăm người để lại giữ nơi ấy, nếu giặc quả nhiên vào sâu thì từ từ rút lui, còn dư thì rút hết về Động Hải.

    Tư lệ giặc là Đinh Công Tuyết tiến đóng đồn ở Bụt Sơn. Thiếu tể Nguyên (không rõ họ) đóng đồn ở Pháp Kệ (tên đất), Tổng quản Siêu (không rõ họ) đóng đồn ở Ba Đồn, binh thế rất thịnh. Đặng Trần Thường lui giữ Ngõa Dinh [Dinh ngói], cho chạy thư về báo.

    Vua bàn việc thân chinh. Dụ cho quân thứ Thị Nại Nguyễn Văn Thành, quân thứ Thanh Hảo Lê Văn Duyệt và Lê Chất rằng: “Quân phẫn uất của Quang Toản đánh một trận có thể phá được, duy bọn Diệu, Dũng chiếm giữ Bình Định thì không thể để cho lan tràn. Nay quân chia hai đường thấy có thể được hay biết là khó thì chỉ bọn khanh tự liệu. Đều phải hết lòng trù tính, tuỳ cơ hoặc đánh hoặc giữ, để cho ta được thư mối lo về phía nam”.

    Sai Quốc thúc Tôn Thất Thăng Lưu thủ Kinh thành, Phó vệ úy Túc trực Nguyễn Văn Khiêm đem các quân Thần sách và Ngự lâm theo lệnh của Thăng, Quản dinh Hữu thủy Nguyễn Công Nga và Quản dinh Tiền thủy Nguyễn Hữu Chính đem binh thuyền đóng giữ cửa Eo.

    Ngày Ất mùi, xa giá xuất phát tự Kinh sư. Ngày Nhâm dần đến Động Hải đóng lại, chia phái các tướng đóng giữ để phòng quân giặc.

    Tháng 12, triệu PhạmVăn Nhân đến hành tại.

    Giặc đánh vào Ngoã dinh [Dinh ngói], Đặng Trần Thường lui về Động Hải.

    Tha thuế dầu rái và mây sắt cho dân man Cà Ta ở nguồn An Đại.

    Nước Vạn Tượng sai sứ mang quốc thư đến hành tại Động Hải bái yết. Vua ban cho hậu rồi khiến về. (Nhiễu đỏ 3 tấm, bạc 100 lạng, tiền 50 quan).

    Binh thuyền của Tống Phước Lương đến cửa biển Nhật Lệ. Vua cả mừng, bảo các tướng rằng: “Đường biển thuận lợi là sức thần giúp”. Sai làm lễ tạ.

    Chở 2 vạn phương gạo lương ở Quảng Đức đến kho Thương Lập để dự bị chuyển cấp.

    Sai Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế thu trước thuế ruộng năm Nhâm tuất của ba huyện dinh Quảng Đức.

    Lấy Nguyễn Đình Hiển hiệu Trung nghĩa Trung quân làm Cai cơ, Cai đội hiệu Nghĩa dũng là Đặng Đình Thuyền làm Phó vệ úy vệ Tráng uy.

    Đổi ba vệ Phấn dực dinh Phấn dực quân Thần sách, vệ nhất làm vệ Tiền dực, vệ nhị làm vệ Tả dực, vệ tam làm vệ Lưu dực.

    Giặc phạm xã Trấn Ninh, thiêu hủy nhà cửa của nhân dân.

    Vua thân hành đi tuần xét, khiến các quân dựng rào gỗ để đợi, ngày đêm phòng bị nghiêm ngặt. Lại đặt nhiều thám tử, động tĩnh trong quân địch không việc gì là không biết.

    Vua hỏi Nguyễn Văn Trương nên đánh hay giữ. Trương thưa rằng: “Giặc nay vào sâu, quân ta đóng vững để giữ, chờ khi đường biển gió nước hơi tiện, thần xin đem đại đội thủy binh đánh úp thuyền giặc, thẳng tiến vào sông Gianh chặn lối về của bộ binh giặc thì chúng mảnh giáp cũng không còn nguyên”. Vua cho là phải.

    Sai Tham quân Tượng dinh quân Thần sách là Lê Nguyễn đem quân vệ Hưng nghĩa đi Mang Khê và Trà Khê ở nguồn An Đại xem thế đất mà đóng quân để phòng giặc.

    Đặt chức huyện lệnh ở các dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam. Buổi quốc sơ thì mỗi huyện đặt hai tri huyện. Vua bàn trở lại chế độ xưa, bèn sai quan công đường các dinh cử người có thể làm việc được cho làm. (Quảng Đức 3 huyện: Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang; Quảng Trị 3 huyện: Đăng Xương, Hải Lăng, Minh Linh; Quảng Bình 2 huyện: Lệ Thủy, Phong Lộc; Quảng Nam 5 huyện: Duy Xuyên, Lễ Dương, Hà Đông, Diên Khánh, Hòa Vang, Diên Khánh sau đổi làm Diên Phước). Duy hai châu Bố Chính nội và ngoại thì mỗi châu đặt một tri châu và một quản châu, chia giữ công việc trong châu.

    Sai các dinh thần Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, chiêu tập tàn quân của giặc Tây Sơn và mộ dân ngoại tịch để lập làm quân của dinh. (Quảng Đức thì đội Tiệp sai, đội Tráng bộ, mã đội và thuyền; Quảng Trị thì cơ Trung kiên gồm 5 thuyền, chi Hậu định gồm 5 hiệu; Quảng Bình thì hai đội Kiên sai; Quảng Nam thì hai thuyền Tiệp sai, thuyền Hữu đao, thuyền Tráng nhất; Quảng Ngãi thì 5 đội Cường uy, hai đội Tiệp sai và Kiên nghĩa, thuyền Định nhất). Còn các đầu nguồn cửa biển và quân kho quân xe, ngày trước lấy thổ dân sung bổ thì vẫn theo ngạch cũ. (Quảng Đức: Nguồn Phù Âu, đội Súng Sơn 10 người, nguồn Tả Trạch, nguồn Hữu Trạch, nguồn Thâu Lai 3 đội 27 người; kho Phú Xuân hai thuyền Định Nhất, An Nhị 56 người; Quảng Trị: Đạo Cam Lộ, đội Sái Nguyên 43 người; Ai Lao cơ Trung Định, đội Uy nhất 52 người, ba tuần Hiếu Giang, Lỗ Bát, Ngưu Cước, bộ đội 26 người, Tuần Sơn, đội Chiến Phong 12 người, cửa Luật [Tùng luật], thuyền Bình Hải nhất 26 người, kho Cát Dinh, thuyền Khang Nhất 35 người, kho Thượng Lập, thuyền An Nhất 42 người, hiệu Công xa nhất 79 người; Quảng Bình: Nguồn Cẩm Lý, đội Thủ ngự thuyền Bình Sơn 33 người, ba nguồn An Đại, cơ Hữu Tiệp, hai thuyền Tiệp Nhất, Tiệp Nhị 93 người, nguồn An Náu, đội Đồng Sách 9 người ba kho Động Hải, Thanh Hà, An Trạch, các thuyền An Nhất, An Nhị 82 người hiệu Công xa nhị 69 người ; Quảng Nam: Ba nguồn Thu Bồn, Hữu Bang, Chiên Đàn, thuyền Liềm Súng 46 người, nguồn Cu Đê, ba đội Thượng Ải, Trung Ải, Tân Ải 81 người, thuyền Kiên Nhất 18 người, nguồn Ô Da, đồn Liêu Sơn thủ quân 32 người, cửa biển Đại Chiêm thủ quân 42 người, cửa biển Đà Nẵng thủ quân 17 người, Kim Bồng, thuyền Tân An nhất 44 người, trường Sai Dư đội Thủ Trường 42 người, kho Phú Triêm, thuyền Tân An nhị 44 người, trường Biệt Nạp, đội Thủ Trường 50 người; Quảng Ngãi : Nguồn Ba Tơ, đội Thủ Nguyên 14 người, cửa biển Sa Huỳnh, đội Ngự Hải 13 người, kho Phú Đăng, thuyền An Nhất 39 người, thuyền Thuận Nhất 25 người, đội Thủ Trường 17 người, kho An Khang, thuyền Định Nhất 32 người).

    Vua thường cùng bầy tôi bàn về chính trị các triều đại hay dở thế nào, dụ rằng: “Trị nước lấy được lòng dân làm gốc. Khi ta mới tiến lấy Phú Xuân, quân giặc quay giáo quy hàng, sĩ dân vui mừng, hỏi tại sao mà được lòng dân như thế? Thực là bởi những thánh vương đời trước lấy ơn để cố kết lòng dân nên dân không thể quên”.

    Đặt quân sáu đạo ở Quảng Ngãi (Trung kiên, Tiền kiên, Tả kiên, Hữu kiên, Hậu kiên, Nội kiên). Quảng Ngãi đất dọc theo đường núi, man Thạch Bích [Đá Vách] hay quấy rối biên giới. Buổi quốc sơ, lấy dân đặt làm sáu đạo để chống giữ. Vua lưu ý việc biên thuỳ, bèn sai dinh thần theo ngạch cũ mà biến bổ đội ngũ để chống giặc Man.

    Lê Văn Duyệt dâng sớ nói bọn ngụy trị huyện ba huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa (sau đổi làm Mộ Đức) thuộc Quảng Ngãi đem nhau đến quân thứ hàng, xin cho họ giữ chức như cũ. Vua chuẩn y lời tâu.

    Sai Gia Định đóng chiến thuyền (chiến thuyền Anh, chiến thuyền Vũ, chiến thuyền Thước, chiến thuyền Nga, chiến thuyền Quyên, chiến thuyền Phu, chiến thuyền Lộ, chiến thuyền Diên, chiến thuyền Chiên, chiến thuyền Ly(1. Theo tên các loài chim: ác mó, vẹt, quạ, ngỗng, chim cuốc, vịt trời, cò, diều hâu, chim cắt, chim oanh. 1), tất cả 10 chiếc).

    Nguyễn Văn Thành dâng sớ xin tạm đặt các vệ chi tòng chinh ở quân thứ làm năm đồn (Trung đồn gồm 3 vệ Kiên võ, Địch võ, Tuấn võ; Tiền đồn gồm Trung chi, Tả chi, Hữu chi, Hữu dục [vệ] Tín võ; Tả đồn gồm 3 vệ Trang võ, Tín uy, Tín võ và Trung chi của Tiền quân; Hữu đồn gồm 3 vệ Võ uy, Nghiêm võ, Lương võ và Tả chi của Trung quân; Hậu đồn gồm Tiền chi, Hậu chi, Tiền dực, Hậu dực của vệ Tiệp võ), lấy Khâm sai cai đội quản [vệ] Chấn uy và các hầu thuyền là Võ Viết Bảo làm chánh Trung đồn Chánh vệ vệ Kiên Võ Tiền quân là Nguyễn Bá Xuyến làm Phó Trong đồn, Chánh trưởng chi Trung chi Tín võ Tiền quân là Nguyễn Văn Kiên làm Chánh Tiền đồn, Chánh trưởng chi Hữu chi Tiền quân là Hoàng Văn Long làm Phó Tiền đồn, Vệ úy vệ Tín uy Trung dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí làm Chánh Tả đồn, Vệ uý vệ Võ uy Hữu dinh quân Thần sách là Trần Văn Phương làm Chánh Hữu đồn, Chánh trưởng chi Tiền chi Tiền quân là Nguyễn Văn Thiệu làm Chánh Hậu đồn, Chánh trưởng chi Hậu chi Tiền quân là Nguyễn Văn Lân làm Phó Hậu đồn. Vua y cho.

    Lấy Cựu chánh trưởng chi Trung chi Tín võ Tiền quân là Nguyễn Huệ làm Phó tướng Tiền quân, Phó trưởng chi Trung chi Tín võ là Bùi Văn Thái làm Chánh trưởng chi, Phó trưởng chi Tiền chi là Nguyễn Văn Trị làm Chánh trưởng chi, Trưởng hiệu Võ Văn Chính làm Phó trưởng chi, Phó trưởng chi Hữu chi là Lê Công Lý làm Chánh trưởng chi, Trưởng hiệu Đồng Văn Đạt làm Phó trưởng chi, Chánh vệ vệ Tiệp võ là Nguyễn Văn Hiếu làm Chánh trưởng chi Hậu chi, Chánh vệ vệ Tín võ là Hoàng Văn Tường làm Chánh vệ vệ Trang võ, Phó trưởng chi Trung chi Lê Công Nhị làm Chánh vệ vệ, Tín võ, Cai đội Nguyễn Văn Trâm làm Phó vệ.

    Nguyễn Văn Thành dâng sớ mật nói rằng bọn tướng giặc Trần Quang Diệu mưu đồ liều chết giữ thành, chưa có thể đánh phá ngay được, mà lương quân ở Thị Nại thì chỉ chi được vài tháng nữa, sợ khó kế tiếp được. Vua sai quản dinh Tiền thủy là Nguyễn Hữu Chính chở 25.000 phương gạo ở Kinh cấp cho.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển XVI - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Nhâm tuất, năm thứ 23 [1802] (Từ tháng 5 năm này trở về sau là Gia Long năm thứ 1, Thanh - Gia Khánh năm thứ 7), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1, vua ở hành tại Động Hải. Dinh Quảng Nam chạy trạm dâng quả lòn bon [nam trân], chia cho tướng sĩ.

    Giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai Nguyễn Quang Thuỳ và tổng quản Siêu phạm luỹ Trấn Ninh, tư lệ Đinh Công Tuyết, đô đốc Nguyễn Văn Đằng, đô đốc Lực (không rõ họ) kết với hơn trăm thuyền của bọn giặc biển Tề Ngôi bày thủy trận ở ngoài cửa biển Nhật Lệ.

    Vua sai Nguyễn Văn Trương điều bát thủy binh ra biển ngăn ngừa, Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường đem bộ binh chia đường chống đánh.

    Giặc đến sát lũy Trấn Ninh. Vua sai quân Túc trực ra ụ bắn ở cửa, bắn giết được hơn một nghìn quân giặc. Giặc đem hết quân đến sát núi Đâu Mâu, bám vào như kiến mà bò lên. Quân ta từ trên núi thả đá xuống, quân giặc bị đè chết rất nhiều. Vợ Trần Quang Diệu là Bùi Thị Xuân cưỡi voi thúc quân liều chết đánh từ sáng đến trưa chưa chịu lui. Vừa gặp thủy binh của Nguyễn Văn Trương, nhân được gió đông bắc đánh phá quân giặc ở ngoài biển cướp được 20 chiếc thuyền, bộ binh giặc nghe tin thủy binh thua, sợ mà tan vỡ. Quang Toản chạy về Đông Cao (tên xã, thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình ). Nguyễn Văn Kiên đem quân đầu hàng.

    Vua hỏi biết thuyền lương của giặc ở sông Gianh có 50 chiếc, tức thì sai Tống Phước Lương và Nguyễn Văn Vân đi binh thuyền đến ngay để đánh. Quảng Toản chạy qua sông Gianh, quân đi theo chưa tới 1- 2 phần 10. Quân ta chợt đến, bắt được hết thuyền lương, quân giặc cả vỡ, hơn 700 người bị bắt. Hoàng Văn Điểm đem bộ binh đuổi giặc đến Tiên Cốc [Hang Tiên] (thuộc huyện Bình Chính). Quân giặc ra đầu hàng 3.000 người; ta thu được 700 cỗ súng lớn, 500 con ngựa. Thượng thư giặc là Nguyễn Thế Trực, đô đốc là Trần Văn Mô, tham đốc là Bùi Văn Ngoạn và thiếu tể Nguyên đều bị quan quân bắt được.

    Vua sai các đạo ghi hết những người, ngựa, súng ống, khí giới đã bắt được dâng lên. Trận này quân giặc bị thua vùi giập, lòng dân Bắc Hà xôn xao. Quân nhà vua thành thế chẻ tre vậy.

    Xa giá đến bảo Thanh Hà. Nhân dân tranh đem trâu rượu mừng rước. Bèn dụ cho các xã dân từ Quảng Bình vào Nam rằng phàm tàn quân của giặc Tây Sơn chạy về làng xóm thì cho chúng đều được yên nghiệp làm ăn, không được doạ nạt quấy nhiễu.

    Triệu hàng tướng là đại đô đốc Lê Đình Chính hỏi về tình thế dụng binh ở Bắc Hà khó dễ thế nào. Chính thưa rằng: “Dân Bắc Hà khổ về chính sách bạo ngược của giặc đã lâu. Sau khi quân Quang Toản thua thì không thể làm gì được nữa. Xin cho thần một trăm chiếc thuyền cơ tiến đánh, chắc có thể bắt sống được [Toản] dâng ở cửa cung”. Nhà vua lặng yên.

    Đóng gông những giặc bắt được giải về Kinh.

    Vua bàn rút quân về. Các tướng đều xin thừa thắng đánh miền Bắc. Vua bảo rằng: “Bỏ nơi gần mưu nơi xa, không phải là thượng sách. Hiện nay trong bọn giặc chỉ Trần Quang Diệu là ghê nhất. Diệu chưa trừ xong, không nên khinh tiến. Hãy đợi hạ thành Bình Định, không phải lo lắng về phương Nam nữa, rồi tiến đánh Bắc Hà cũng chưa muộn.”

    Ngày Tân tỵ, xa giá khải hoàn. Sai Tống Phước Lương, và Đặng Trần Thường giữ sông Gianh, Nguyễn Văn Trương giữ Động Hải, Hoàng Văn Điểm giữ cửa Ròn. Ngày ất dậu tới Kinh, bầy tôi lạy mừng.

    Nước Vạn Tượng sai sứ dâng phẩm vật địa phương. Vua ban cho hậu, rồi khiến về.

    Cho quân lính ở Thuận Hóa về quê nghỉ ngơi. Trước kia vua ở Gia Định, nhiều người Thuận Hóa tòng quân phục vụ, được bổ vào các dinh vệ đội thuyền các quân. Đến nay vua nghĩ họ đi trận lâu ngày nên thả về.

    Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên đánh luỹ giặc ở Kỳ Sơn, chiếm được, giết giặc rất nhiều. Trần Quang Diệu đem quân và voi theo đường sau núi xông ra vây bốn mặt. Phó tướng Tiền quân là Nguyễn Huệ chết trận. Đức Xuyên thu quân, vừa đánh vừa lui, lui tới bảo Sạ Dã [Đồng Sạ] để chống giữ, dâng sớ xin chịu tội.

    Vua dụ rằng: “Nay thế lớn của thiên hạ, mười phần đã được đến tám chín phần. Chỉ còn một góc Bình Định này, thế như nốt ruồi, còn trốn vào đâu được ? Ngươi nên cố gắng cùng các tướng sĩ cùng lòng góp sức để diệt lũ hung cuồng, chớ vì một sự lầm lỡ mà nản chí.”

    Sai Lê Văn Duyệt tiến đánh thành Bình Định. Trước là tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đã hãm thành Bình Định, chiếm giữ một phương, sửa giáp binh và chọn đinh tráng để làm thanh ứng ở xa cho Nguyễn Quang Toản, chặn đánh cuống họng phương Nam. Tới đây, Quang Toản thua rồi, quân vua tiếng tăm lừng lẫy. Vua thấy cơ hội có thể được mới giục Duyệt đánh. Lại sai đem cho kèn hiệu và trống trận để làm hiệu lệnh hô quân, và sắc cho các đạo chia binh chặn các đường trọng yếu, để đề phòng quân giặc chạy trốn.

    Lê Văn Duyệt đánh quân giặc ở Lộ Bôi (tên đất), bắt được đô đốc giặc là Chu Hữu Mỹ và đồ đảng hơn 30 người, giải về kinh.

    Vua sai dẫn bọn bị bắt là thiếu tể Nguyên và đô đốc Trần Văn Mô đến quân thứ để cho giặc biết. Quân giặc trông thấy đều sợ mất vía.

    Vua thấy trận sông Gianh, bắt được quân giặc ở Bắc Hà rất nhiều, thương mà thả về, người nào ốm không đi được thì sai sở tại cho ăn.

    Đúc ấn phong tặng.

    Đặt ba vệ Dực uy, Thắng uy và Toản võ.

    Tặng Chưởng Hậu quân bình Tây tham thặng đại tướng quân quận công Võ Tánh làm Dực vận công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thượng trụ quốc thái úy quận công, thuỵ Trung liệt, Lễ bộ Ngô Tòng Chu làm Tán trị công thần đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu trụ quốc thái tử thái sư quận công, thuỵ Trung ý, Cai cơ đạo Ứng nghĩa Nguyễn Tiến Huyên làm Tuyên lực công thần đặc tiến phụ quốc chiêu nghị tướng quân, Cẩm y vệ chưởng vệ sự chưởng cơ, thuỵ Tráng liệt. Lại lập đàn ở chùa Thiên Mụ để tế, tế khắp cả các tướng sĩ chết trận.

    Vua cùng bầy tôi nói về trận Thị Nại. Nhân nghĩ đến binh lính khổ nhục, sắc cho các dinh quân rằng phàm lính ốm quê ở Gia Định thì thả về, hạn cho khỏi bệnh trở lại quân ngũ. Dụ rằng: “Các ngươi theo việc quân đã lâu, ai cũng có tình gia đình, ta nghĩ rất thương. Nhưng nay kinh đô mới khôi phục, giặc nước chưa trừ xong. Vậy các ngươi nên cố gắng hết sức để mưu trọn việc, đợi sau khi bình định cả rồi sẽ trở về làng để hưởng yên vui mãi mãi, há chẳng tốt sao ?”

    Lại dụ cho lưu trấn thần Gia Định rằng phàm các quan văn võ đi đánh giặc có cha mẹ vợ con ở quê quán thì nên thường sai sở tại thăm hỏi, cho trạm chuyển thư nhà đến nơi quân thứ. Nghe tin ấy ai cũng nức lòng.

    Định rõ lệnh cấm rượu ở Gia Định. Người có quan chức nấu rượu thì phạt tiền 200 quan, uống rượu thì phạt tiền 100 quan, đều xử biếm hay bãi chức; quân và dân nấu rượu thì phạt tiền 50 quan, đánh 50 roi, đi đày một năm, uống rượu thì phạt tiền 30 quan, đánh 50 roi. Lý dịch sở tại không ngăn cấm được thì bắt nộp tiền 30 quan để thưởng cho người tố cáo. Nếu tư vị ăn tiền mà dung túng thì xử 90 roi và đày 3 năm.

    Sai các dinh ở Gia Định chia cấp ruộng hoang cho dân nghèo. Gia Định đất đai mầu mỡ, thóc gạo chan chứa mà nhân dân phần nhiều hay làm mạt nghệ((1) Mạt nghệ: Buôn bán 1), nên ruộng đất có chỗ bỏ hoang. Vua bèn dụ cho các dinh thần phải chăm đi khuyên bảo. Người nào không có điền sản thì đem ruộng hoang cấp cho và cho vay thóc giống, đợi thu hoạch xong sẽ y số trả lại nhà nước. Người nào ăn chơi lêu lổng, không chịu làm ruộng thì phạt 3 hộc thóc, và sung làm binh để răn kẻ lười biếng.

    Miễn thuế cửa biển năm nay cho thuyền buôn ngoại quốc. Cấm quan quân không được mua rẻ hóa vật.

    Hạ lệnh cho các dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, phàm ruộng công điền ngụ lộc vẫn theo lệ cũ, đợi sau khi đại định, sẽ bàn định để ban hành.

    Sai giám quân Thần sách là Phạm Văn Nhân lãnh các vệ Hậu quân, quản dinh Hậu thủy là Lê Văn Quế lãnh thủy binh, đến Bình Định để họp đánh giặc. Dụ rằng: “Bọn ngươi đi lần này, nên chung lòng sức, để trừ hết giống giặc còn sót”. Khi quân ra đi, vua ngự gác rồng để xem, đem bọn đô đốc tham đốc giặc bị bắt 20 người chém để ra lệnh.

    Trời không mưa từ lâu, hôm ấy lại mưa. Vua rất đẹp lòng, bảo các thị thần rằng: “Quân ra đi đánh trận mà gặp mưa, xem đó biết được lòng trời. Chẳng những nông dân thỏa lòng mong đợi, mà cái ngày rửa giáp đã ứng điềm tự đây rồi”.

    Vua lại cho rằng Phú Yên là đường vận lương của giặc, bèn dụ cho Nguyễn Văn Thành chia quân cắt đứt để làm khốn cho giặc.

    Vua cùng bầy tôi nói chuyện đến việc hưng phế của nhà Ân nhà Chu, bàn đi bàn lại, rất giận Trụ hôn ám và thương tiếc tài đức sáng suốt của

    Cơ tử.

    Lại định rõ lệnh cấm cờ bạc ở Gia Định. Ai chơi chọi gà chọi cá cũng phải tội.

    Giám thành sứ Tô Văn Đoài chết. (Năm Minh Mệnh thứ 1 truy tặng Chưởng cơ).

    Tháng 2, tế mùa xuân ở Văn miếu. Vua thân đến làm lễ.

    Mở cuộc đúc tiền ở Đông Trì.

    Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hoài Quỳnh từ Bình Định về. Vua triệu vào yết kiến, nhân nói đến việc tử tiết của Võ Tánh và Ngô Tòng Chu. Vua than thở mãi không thôi, hỏi Tham tri Lại bộ là Phạm Ngọc Uẩn rằng: “Ngô Tòng Chu có con không ?”. Thưa rằng: “Có người cháu họ xa là Ngô Tòng Hoảng làm kế tự”. Vua nói: “Nên hậu đãi người con ấy để báo đền kẻ trung thần”.

    Nguyễn Văn Thành đánh giặc thua to ở Kỳ Sơn, đuổi đến Lang viên [Vườn cau] lại đánh phá được. Sai các quân đắp bảo cố giữ để chặn sau lưng giặc. Thế giặc cùng quẫn. Đô đốc Thị (không rõ họ) cùng với đồ đảng hơn 100 người đến cửa quân đầu hàng.

    Đô thống chế Trung đồn quân Ngự lâm là Phan Tiến Hoàng tự trong giặc đem quân lẻn về, sai lệ theo Lê Văn Duyệt để đánh giặc.

    Lê Văn Duyệt và Lê Chất đánh nhau với đảng giặc là Từ Văn Chiêu ở Thạch Tân [Bến Đá] cả phá được. Quân thủy quân bộ đều tiến, phá luôn được nhiều bảo giặc, bắt được đồ quân dụng, và súng ống khí giới rất nhiều. Chỉ mình Chiêu chạy thoát. Bọn Duyệt bèn đem bộ binh tiến đóng ở Tùng Châu [tên đất], sai Phan Văn Triệu và Phan Tiến Hoàng đem thủy binh tiến đến Đạm Thủy [Nước Ngọt] và Tân Quan. Tin thắng trận báo lên. Thưởng cho một vạn quan tiền.

    Vua thấy quân ta chia hai đạo đánh thành Bình Định, sợ thả cho quân chém giết cướp bóc, bèn dụ rằng: “Quân vương giả đánh giặc chỉ cầu yên dân. Trong khi lâm trận phàm bắt được quân giặc đừng nên giết bừa. Vả đất Bình Định từ khi có việc binh giáp tới nay đã bị tàn tệ rất nhiều. Nên răn cấm quân nhân không được cướp bóc, để cho nhân dân đều được yên ổn làm ăn”.

    Đổi 10 đội của vệ Túc trực quân Thần sách làm 10 vệ Thị trung dinh Túc trực, mỗi vệ có 5 đội, mỗi đội có 100 người, cấp thêm quân mới hàng để sung vào. Lấy Phó vệ úy Nguyễn Văn Khiêm làm Đô thống chế dinh Túc trực, Cai đội Trần Văn Trí làm Vệ úy vệ Trung nhất Thị trung, Hoàng Công Lý làm Vệ úy vệ Trung nhị, Nguyễn Văn Tĩnh làm Vệ úy vệ Tiền nhất, Phan Văn Miên làm Vệ úy vệ Tiền nhị, Hồ Văn Bôi làm Vệ úy vệ Tả nhất, Lê Văn Hạnh làm Vệ úy vệ Tả nhị, Hoàng Văn Tùng làm Vệ úy vệ Hữu nhất, Lê Văn Thịnh làm Vệ úy vệ Hữu nhị, Trần Văn Xuyên làm Vệ úy vệ Hậu nhất, Nguyễn Văn Phân làm Vệ úy vệ Hậu nhị, bọn Phó đội Văn Nguyên, Võ Văn Lạc, Nguyễn Văn Liên, Nguyễn Văn Cúc, Lê Văn Hậu, Nguyễn Văn Bằng, Đỗ Văn Thuyên, Phạm Văn Hóa, Nguyễn Công Đình, Nguyễn Mậu Xuân làm Phó vệ úy.

    Lấy Tống Phước Châu làm Thống chế dinh Trung thủy, Đào Văn Lương làm Thống chế dinh Tả thủy, Nguyễn Công Nga làm Thống chế dinh Hữu thủy, Lê Văn Quế làm Thống chế dinh Hậu thủy.

    Nước Xiêm La sai tướng là Ốc Nha Trà Tri đem 5.000 quân theo đường thượng đạo hợp với quân Vạn Tượng đánh phá quân giặc ở Nghệ An tại
    Sa Nam (tên đất) và sai sứ đến dâng tin thắng trận. Vua sai phục thư
    khen ngợi.

    Phó đô thống chế trung dinh quân Thần sách là Phan Văn Kỳ, thống chế Tiền đồn quân Ngự lâm là Lê Văn Niệm, Khâm sai cai đội là Võ Viết Bảo từ Bình Định về.:rose: