045. Trang [0487-0498] - @nhani78 - Team 02 (done)

22/1/16
045. Trang [0487-0498] - @nhani78 - Team 02 (done)
  • :rose:

    Trước kia trong trận Càn Dương, Kỳ đánh thua bị giặc bắt. Niệm và Bảo thì ở trong thành Bình Định, khi thành bị hãm, đều bị giặc bắt. Về sau đem nhau về quân thứ ta, đến nay được triệu về. Vua hỏi về tình hình hư thực của giặc, cho mỗi người 50 quan tiền và quần áo nhiễu, rồi cho Viết Bảo làm Khâm sai thuộc nội cai cơ chánh quản đội Tiểu sai, kiêm các đội thuyền Trung hầu.

    Vua nghĩ quan quân đóng ở Bình Định đã lâu, nhiều người bệnh hoạn, bèn sai phát thuốc để chữa. Hơn 200 người quân bộ thuộc của ốc Nha Mục Nam nước Chân Lạp cũng vì ốm được thả về.

    Ngày Quý hợi, vua bái yết lăng liệt thánh, tha việc binh dao cho các xã hộ lăng.

    Nguyễn Gia Cát dâng bộ Đại Việt sử ký. Vua xem lâu, nhân cùng bầy tôi bàn những truyện cũ của lịch triều, đến mặt trời xế bóng mới thôi.

    Sai Lưu trấn thần Gia Định dùng phép tam trường khảo thí học trò, chia cấp bậc khác nhau. (Kỳ đệ nhất thi chế nghĩa về kinh truyện, lấy đỗ 92 người; kỳ đệ nhị thi chiếu, chế, biểu, lấy đỗ 46 người; kỳ đệ tam thi thơ, phú, lấy đỗ 41 người).

    Tha thuế thiếu cho các sách Man ở đạo Đồng Môn dinh Trấn Biên. Dân Man mười một sách hàng năm phải nộp nhựa trám và sáp ong, năm nay đói, có người trốn thiếu, Lưu thủ Võ Tiến Đẩu đem việc tâu lên, bèn tha cho.

    Tháng 3, vua ngự gác rồng để xem hình thế núi sông kinh thành, rồi đến cửa Eo duyệt chiến thuyền; diễn thủy quân ở các cửa biển Tư Dung và Đại Chiêm.

    Nguyễn Văn Vân bắt được ba người con của giặc Nguyễn Văn Nhạc là Thanh, Hán và Dũng đem nộp, sai giết cả.

    Chở 15.000 phương gạo ở Kinh đến Tân Quan, 40.000 phương gạo ở Gia Định đến Thị Nại. Lại sắc cho Lưu trấn thần Gia Định sai người đi mua thóc ở Xiêm La 500 xe và thu ở Chân Lạp 1.000 xe để chở cấp [cho quân].

    Sai Lê Văn Niêm quản 300 quân thuộc hai vệ Đăng uy và Nghị uy đến Đạm Thủy [Nước Ngọt] theo Phan Văn Triệu đánh giặc.

    Dinh thần Vĩnh Trấn dâng sớ nói: “Năm ngoái về việc hộ tống thuyền lương số người tinh tráng không đủ, phải lấy dân biệt tính sung vào. Vậy xin tha thuế thân năm nay cho họ”. Vua y cho.

    Sai Nguyễn Văn Trương lấy thêm quân giữ sông Gianh và chở thuốc men để chữa bệnh cho quân.

    Sai các quân sửa chữa các cung điện.

    Bộ binh của Lê Văn Duyệt và Lê Chất tiến đến núi Bích Kê; thủy binh của Phan Văn Triệu và Phan Tiến Hoàng theo Đạm Thủy [Nước Ngọt] tiến theo đường bộ. Quân giặc đều nghe hơi bỏ chạy, không ai dám chống.

    Quân ta lấy lại thành Bình Định. Trước là bọn tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đem vài vạn quân cầm cự với quân ta 8,9 tháng, của hết sức mòn, tới nay quân ta chia ba đạo tiến đánh, thế giặc càng ngày càng quẫn. Diệu, Dũng mưu theo đường thượng đạo lẩn ra Nghệ An, bèn đem đồ đảng là bọn Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Mân, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Điểm, Lê Văn Hưng hơn 80 người và quân mạnh 3.000 người, voi đực 86 thớt, ban đêm bỏ thành trốn đi. Nguyễn Văn Thành dò biết tình trạng, truyền hịch cho quân các đạo đuổi theo. Tới nơi thì bọn giặc đã theo đường tắt trong rừng đi mất. Bèn tâu lên. Vua mừng lắm. Hạ lệnh cho Quảng Nam và Cam Lộ đều phái quân đóng giữ các đầu nguồn để chặn đường của giặc. Lại gửi thư cho Xiêm La, Vạn Tượng biết.

    Triệu Nguyễn Đức Xuyên về. Xuyên đến. Vua cho 2.000 quan tiền để chia cấp cho tướng sĩ sở thuộc.

    Lê Văn Duyệt bắt được đại đô đốc giặc là Trần Đại Cựu giải về kinh. Vua tha, vời hỏi rằng: “Dư đảng của giặc Diệu hãy còn nhiều, cớ sao không đánh mà chạy ?”. Thưa rằng: “Quân của Diệu ngoài tuy mạnh, nhưng trong thì yếu, nên phải nhổ trại trốn đi, để cầu trộm sống, không có mưu chước gì khác”. Vua cho là phải, bèn ban cho áo mặc. Quân ta bắt được tướng giặc rất nhiều, đều tha tội cả, sai Lê Đình Chính trông nom, nhưng người bị bắt vẫn lo không giữ nổi mình. Vua biết ý, dụ Nguyễn Văn Khiêm rằng: “Bọn Trần Đại Cựu trước làm tướng giặc, nay làm bầy tôi của ta. Ta suy lòng thành mà đãi, thương yêu không phân cách gì. Ngươi nên yên ủi vỗ về, cho họ yên lòng”. Rồi lựa quân đầu hàng bổ vào quân Túc trực, ngày đêm quây quần, những người ngờ sợ bèn yên.

    Những binh trốn ở các vệ quán ở Bình Khang và Bình Thuận, sở tại bắt dân thay thế, dân khổ lắm. Vua dụ rằng: “Từ tháng 12 năm Tân dậu trở về trước, binh trốn đều tha, còn từ tháng giêng năm nay trở về sau thì phải sung điền như lệ”.

    Ngày Canh dần, đúc năm quả ấn:

    1- Ấn “Thảo tội an dân chi bảo” (dùng để sai tướng ra quân).

    2- Ấn “Sắc chinh vạn dân chi bảo” (dùng để sức răn thần dân).

    3- Ấn “Mạnh đức chi bảo” (dùng về việc thăng thụ các hoàng thân đại thần từ tước công trở lên).

    4- Ấn “Chế cáo chi bảo” (dùng về việc thăng thụ từ tước hầu trở xuống).

    5- Ấn “Quốc gia tín bảo” (dùng làm việc thường).

    Đúc lại ấn công đồng và ấn các quân (năm quân Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, quân Thần võ, quân Chấn võ (đều đóng bằng son).

    Triệu nguyên Lễ bộ kiêm đốc học Nguyễn Thái Nguyên, nguyên Hộ bộ Phan Thiên Phúc, Tham tri Hộ bộ Lê Viết Nghĩa, Tham tri Lễ bộ Trần Hưng Đạt, Tham tri Binh bộ Lê Quang Định ở Gia Định về Kinh.

    Hạ lệnh cho các đạo quân thủy bộ ở Bình Định rút về. Để lại Nguyễn Văn Thành đóng giữ đất ấy, chiêu tập vỗ về cư dân, bắt trị dư đảng của giặc.

    Dụ cho quân và dân Bình Định rằng: “Bọn ngươi đều là con đỏ của Triều đình, bỗng gặp giặc Tây Sơn chiếm cứ, bị thế ép buộc. Nay rộng tha tội cho. Phàm kẻ nào nhận chức của giặc, có xin đem sức lập công ta cũng tùy tài thu dụng. Năm đồn quân Ngự lâm và hai vệ Tín trực và Thiên trường kén binh, cứ theo ngạch cũ năm Kỷ mùi mà bổ cho theo quân thứ, ngoài ra, những tiểu dân chưa tới tuổi bị giặc bắt theo thì tha về làm ăn”.

    Lấy Khâm sai thống binh cai cơ đạo Hưng Phước là Lê Văn Lân làm Lưu thủ Bình Định, cải bổ Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Văn Khiêm làm Cai bạ Bình Định, Cai bạ Quảng Trị là Ngô Triều Cao làm Ký lục Bình Định. Dụ rằng: “Đất này trải binh cách đã lâu, sức dân hao mòn, bọn ngươi nên tuyên dương đức ý, ra sức vỗ về, khiến cho kẻ ốm lâu ấy được hồi lại nghỉ ngơi, mới khỏi phụ sự ủy thác”.

    Bãi các khoản thị nạp thị mãi ở Gia Định. Dụ rằng: “Gia Định là đất phục hưng, binh dân của cải đều do ở đó. Nay kinh đô cũ đã lấy lại được, đáng nên đội nhiều ơn trạch. Nhưng vì giặc Tây Sơn còn chạy ra Bắc, giống ác chưa trừ hết, việc quân còn bận, nên nay hãy tạm quyền nghi giảm bớt. Ra lệnh rằng những tiền thóc về sai dư tô thuế đều cứ theo phép chính cung, ngoài ra các món thị nạp thị mãi ngoại ngạch (mây, song, dầu rái, nhựa trám, tơ gốc, vải trắng, gỗ tay cong, mái chèo) thì đều miễn cả”.

    Đổi phủ Gia Định làm trấn Gia Định.

    Lấy Lê Bá Phẩm làm Cai bạ Quảng Nam, Trần Văn Tuân làm Cai bạ Quảng Trị.

    Sai Hoàng Viết Toản, Trịnh Ngọc Trí, Tôn Thất Liêm đi Gia Định, rước quốc mẫu về Kinh. Trước kia, khi vua tự đem quân đánh giặc, quốc mẫu ở lại Gia Định, đến nay Bình Định đã lấy lại được, đường sá không bị ngăn trở, mới sai bọn Hoàng Viết Toản đi rước về.

    Giảm sưu thuế cho dân Gia Định. Dụ rằng: “Từ khi vận nước nửa chừng suy đốn, Tây Sơn nổi loạn, ta rước quốc mẫu về Gia Định, tôi dân miền ấy không ai là không cùng lòng tôn kính. May được ngày nay khôi phục đất cũ, ta rước từ giá(1. Từ giá: Xa giá của mẹ vua.1) về Kinh, nên đặc biệt thi ân điển này cho thoả lòng dân mong đợi. Vậy hạ lệnh phàm thuế sai dư và các hạng sưu (thóc đồn điền, lĩnh láng, lĩnh thâm, dầu rái, nhựa trám, than gỗ, mây, song, sáp ong, vải trắng, dầu lạc, am sơn(2. Am sơn: Chỉ các nậu am hiểu đường rừng núi để đi kiếm trầm kỳ. 2), đồi mồi) của các dân chính hộ, khách hộ, biệt nạp và các sắc thuộc quân, từ năm Quý hợi về sau, đều giảm một phần ba”.

    Tha binh dao và thuế thân cho dân hộ lăng ở thôn Hanh Thông trấn Gia Định.

    Mùa hạ, tháng 4, sửa đắp hoàng thành định các điều cấm trong ngoài kinh thành.

    Lấy Nguyễn Viên làm Cần chánh điện học sĩ kiêm Thái thường tự khanh. Viên là người Bột Thượng (tức là Hoằng Nghĩa ngày nay), Thanh Hoa, đỗ hương cống triều Lê, khi nhà Lê mất đem đồ đệ làm quân ứng nghĩa, muốn đến Gia Định giúp việc, nhưng đường không đi được. Kịp khi Trương Công Vĩ phụng mệnh chiêu dụ người Bắc Hà, Viên được Vĩ dẫn vào yết kiến. Vua yêu người có học thuật, đặc biệt trao cho chức ấy.

    Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Nguyễn Hoàng Đức, Phạm Văn Nhân từ Bình Định về, vào yết kiến. Vua yên ủi hồi lâu, ban cho áo mũ. Những tướng sĩ ở ngoài có ai đau ốm đều có thuốc thang điều trị.

    Vua sắp cử đại quân Bắc phạt, sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phước Lương sửa soạn thuyền ghe, Lại bộ Trần Văn Trạc và Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế kiểm duyệt số lương thực khí giới để tâu lên.

    Lại sai Nguyễn Hoàng Đức duyệt thuyền đi biển và Lê Văn Duyệt lựa chọn voi chiến.

    Vua từng cùng bầy tôi bàn việc dụng binh, bảo rằng: “Bắc Hà là nước cũ của nhà Lê, từ khi liệt thánh ta xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, hơn 200 năm vẫn theo chính sóc nhà Lê. Gần đây Tây Sơn trộm quyền, ta phải lo dụng binh chỉ là để phục thù, mà thôi. Nay bờ cõi cũ đã được khôi phục, mà đầu sỏ giặc lại trốn ra Bắc, nếu ta cử binh Bắc phạt thì sau khi bắt được tội nhân rồi đối với nhà Lê sẽ thế nào ?”. Bọn Đặng Đức Siêu và Trần Văn Tạc đều tâu rằng: “Từ khi vua Lê chạy sang nước Thanh, đi không thấy trở lại, đất Bắc Hà đã lọt vào tay giặc Tây Sơn rồi. Huống chi từ khi quân nhà vua lấy lại đô cũ tới nay, những tôi dân nhà Lê không một người nào ứng nghĩa để đánh giặc, nhà Lê không dấy lại được đã có thể biết rõ rồi. Nay ta diệt được giặc Tây Sơn, chiếm được đất đai, đó là ta lấy ở giặc Tây Sơn chứ không phải lấy ở nhà Lê. Công việc xong rồi, thì sẽ xử trí. Duy việc cất quân thì quý ở có danh nghĩa, mà đội quân ứng mệnh trời thuận lòng người thì trước phải đổi chính sóc. Nay ta đánh miền Bắc mà còn vẫn dùng niên hiệu nhà Lê, thực e người Bắc bảo ta mượn tiếng phù Lê, chi bằng cứ chính đế vị, đổi niên hiệu, tỏ bày đại nghĩa với thiên hạ, như thế thì được nước là chính đáng, không ai dị nghị được”. Vua nói: “Đó là việc lớn, bọn khanh nên nghĩ kỹ xem”.

    Lấy Trần Văn Năng làm Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách.

    Lưu trấn thần Gia Định tâu nói: “Thuyền vận lương ở Gia Định đi lại kế tiếp, mà hằng năm chinh chiến, quân có nhiều người trốn hay chết, xin đòi dân thay thế để đủ việc vận chuyển”.

    Vua thương dân ấy khổ sở đã lâu mà chưa được nghỉ ngơi, hạ lệnh từ nay trở đi có vận chở thì đổi cho quân kinh làm thay.

    Bầy tôi dâng biểu xin vua lên ngôi và đổi niên hiệu, đại lược nói: “Trời sinh dân chúng, cần có người coi giữ chăn nuôi, cho nên nghĩa kinh Xuân thu lấy nhất thống làm lớn. Nhà nước ta gây nền vương nghiệp, thần truyền thánh nối hơn 200 năm. Giữa chừng vận nhà Lê suy, quyền họ Trịnh nắm, gây nên binh biến mà lấn bờ cõi của ta, rồi tiếp đến giặc Tây Sơn nổi loạn, thôn tính đất đai, thiên hạ không yên. Vương thượng ta chí mưu khôi phục, khó nhọc hơn hai mươi năm, dẹp yên tiếm nghịch, quân đi tới đâu người đều hướng theo, dẫu các vua hiền trung hưng ngày xưa cũng chẳng hơn thế. Nếu cứ dùng theo hiệu cũ Cảnh Hưng nhà Lê thì trong ngoài bỡ ngỡ không biết hướng về đâu. Bằng nay không sớm chính vị hiệu thì sợ không lấy gì giữ vững lòng người. Cúi xin vương thượng nghĩ việc rạng rỡ công liệt của tổ tiên và hết đạo hiếu của con cháu, trên vâng ý trời, dưới theo lòng dân, sớm lên ngôi tôn, xuống chiếu đổi niên hiệu cho phu lòng tôn kính của thần dân, để bền nghiệp vô cùng cho miếu xã”.

    Vua dụ rằng: “Thành Gia Định vừa lấy lại, đã lên ngôi vương là vì lòng người tôn kính lâu rồi. Nay kinh đô cũ dẫu mới khôi phục, mà giặc nước chửa trừ xong, việc lên ngôi tôn chưa thể bàn được. Duy vương giả đổi họ chịu mệnh, nghĩa cần đổi mới, năm phải có hiệu, cho nên đổi niên hiệu là phải. Bọn khanh nên bàn mà làm”.

    Nguyễn Văn Thành dâng sớ nói: “Thần nghe các thánh vương đời xưa giết trừ kẻ bạo loạn, bạo loạn đã trừ thì có thể làm chính trị kế tiếp lâu dài được. Nay nước nhà dựng lại, mọi việc bắt đầu, những chế độ về quan lại, lễ nghi và hình luật đều là việc đầu tiên của chính trị. Xin sắc cho bầy tôi tìm tòi điển cũ, châm chước bàn bạc để thi hành. Lại chín phủ từ Bình Thuận đến Bố Chính (Diên Khánh, Bình Khang, Phú Yên, Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Điện Bàn, Thăng Hoa, Triệu Phong, Quảng Bình) và một châu (Bố Chính), dẫu đã đặt quan công đường mà chưa đặt binh vệ. Dinh thần chỉ coi việc dân, chợt có sự biến phải đợi triều đình điều động quân nơi khác đến, lâm cơ ứng việc, sợ không nhanh chóng. Nay sắp có việc Bắc phạt, xin hạ lệnh cho các dinh đều đặt tinh binh coi giữ và ở nơi quan trọng thì cho đại thần trấn trị mà kiêm lãnh dinh khác, khiến cho cánh tay và ngón tay giúp đỡ lẫn nhau, khi hoãn khi cấp đều sẵn sàng cả, như thế ngõ hầu không phải lo ở bề trong nữa”. Vua khen lời ấy là phải.

    Sai mộ những thầy thuốc ngoại khoa.

    Ghi chép các công thần chết trận và chết bệnh, gồm hơn 500 người. Tặng Khâm sai thuộc nội cai cơ quản Nội thủy Trung thủy thuyền là Võ Di Nguy, Thần sách quân Trung dinh Đô thống chế là Tống Viết Phước, Hậu dinh Đô thống chế là Mai Đức Nghị làm thiếu bảo quận công; Tả thủy dinh chánh dinh Thuộc nội cai cơ là Nguyễn Hữu Nghị, Trung dinh tuyển phong tiền vệ Vệ úy là Nguyễn Văn Hựu, Uy võ vệ Vệ úy là Hoàng Phúc Bảo, Trung võ vệ Vệ úy là Trần Văn Xung, Dũng võ vệ Vệ úy là Trương Văn Hoảng, Tiền thủy dinh Tiền chi Thống binh cai cơ là Nguyễn Văn Cẩm, Tả dinh Dương võ vệ Phó vệ úy là Nguyễn Vĩnh Hựu làm Chưởng dinh; Thuộc nội cai đội quản Tiểu sai đội là Nguyễn Cửu Kỷ, Tiền thủy dinh Phó dinh thống binh cai cơ là Hoàng Văn Định, Ngự lâm quân Tiền đồn Đô thống chế là Hoàng Công Thành, Tả đồn Thống chế là Võ Đình Nhai, Hậu đồn Thống chế là Nguyễn Văn Phát, Tả dinh Diệu võ vệ Vệ úy là Trương Văn Bỉnh, Toàn võ vệ Vệ úy là Nguyễn Đình Bảo, Hậu quân Hùng phong vệ Vệ úy là Phạm Văn Trường, Nghi võ vệ Vệ úy là Nguyễn Công Giao, Chiêu võ vệ Vệ úy là Nguyễn Văn Phụng, Võ lương vệ Vệ úy là Phan Văn Thịnh, Cung võ vệ Vệ úy là Hoàng Văn Tứ làm Chưởng cơ; Lại bộ Nguyễn Bảo Trí, Hộ bộ Trương Đức Khoan làm Tham chính; Binh bộ tham tri Trần Phúc Tri làm Binh bộ. Còn dư bao nhiêu, về hàng võ thì tặng cai cơ cai đội, về hàng văn thì tặng tham mưu tham luận, theo thứ bực khác nhau. (Di Nguy, Viết Phước, Văn Hựu, Phúc Bảo, Văn Xung, Văn Hoảng, Vĩnh Hựu, Văn Định, Văn Phát, Văn Bỉnh, Công Giao, Văn Tứ, đều là chết trận).

    Lấy Trương Phúc Đặng làm Cai đội coi đội Nội hầu nhất. Đặng là con Thuộc nội cai cơ quản Tả vệ Trương Phước Tuấn, mùa đông năm Giáp ngọ Tuấn theo xa giá vào Nam, đến mùa hạ năm Đinh mùi bị bệnh chết ở trong quân. Vua nghĩ công lao lấy con để dùng.

    Ấm thụ cho Duy Tâm là con tham mưu Đào Duy Mân chức hàm cai hợp. Duy Mân năm Tân dậu tòng quân chết ở Quảng Nam. Vua nghĩ công lao, ấm thụ cho con.

    Thả các binh đồn điền và trấn thành ở Gia Định. Lưu trấn thần cho rằng quân số không đủ, nên phải lấy 2 phần 10 dân các trại đồn điền tổ chức thành chi hiệu, cùng với quân năm chi trấn thành đều đưa ra quân thứ bổ vào các vệ Túc trực và Hậu quân, theo Nguyễn Văn Khiêm quản lãnh để đánh giặc. Nay vua cho rằng đô cũ đã khôi phục, hậu thưởng rồi thả cho về.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XVII

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Nhâm tuất, năm Gia Long thứ 1 [1802], mùa hạ, tháng 5, ngày mồng 1 Canh ngọ, lập đàn ở đồng An Ninh hợp tế trời đất cáo về việc đặt niên hiệu.

    Ngày Tân mùi, kính cáo vong linh liệt thánh [tổ tiên]. Làm lễ xong, vua ngự ở điện, nhận lễ chầu mừng. Đặt niên hiệu là Gia Long, đại xá cho cả nước.

    Chiếu rằng : “Ta nghe kinh Xuân thu trọng nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi mở đầu. Từ Tiên Thái vương ta dựng nền ở miền Nam, thần truyền thánh nối đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. Ta phải xiêu dạt một nơi, rất lo nghĩ về miếu xã và sinh dân. Nằm gai nếm mật, mong sao cho được yên vui. Năm Canh tý ta mới ở thành Gia Định, được các tướng sĩ suy tôn, đã lên ngôi vương để giữ lòng người. Duy đô cũ chưa phục, nên còn theo niên hiệu cũ. Nay ơn trời giúp đỡ, các thánh để phúc, bờ cõi cũ đã lấy lại, cơ nghiệp xưa đã trở về, các quan văn võ tại triều dâng sớ chương khuyên ta lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu. Nhưng ta nghĩ rằng giống giặc chưa trừ xong, đất nước chưa thống nhất, không nên vội lên ngôi tôn. Duy cứ theo niên hiệu đã qua mà thi hành những lệnh đổi mới thì không phải là nêu rõ được khuôn phép. Vậy nên chuẩn lời xin đặt niên hiệu mới, định lấy ngày mồng 1 tháng 5 năm nay kính cáo trời đất, ngày hôm sau kính cáo liệt thánh, chép niên hiệu là Gia Long, để thống nhất kỷ cương, làm mới tai mắt. Vậy xuống 6 điều ân điển :

    1. Những số tiền thóc thuế nhà nước còn lưu khiếm ở dân từ tháng 12 năm Tân dậu trở về trước đều tha cả.

    2. Lệnh xá đến ngày nào thì số tiền thóc nhà nước các nha còn thiếu đều tha cả.

    3. Những tù hiện đương bị giam, không kể đã xử án hay chưa xử án, đều được tha hết, duy kẻ giết người và kẻ đầu đảng kẻ cướp thì không tha.

    4. Phàm số tiền thuế sai dư của các dân chính hộ, khách hộ, biệt nạp và các sắc thuộc quân từ năm Quý hợi trở về sau, thì cho giảm 2 phần 10.

    5 - 6. Các hạng thóc đồn điền, lĩnh láng, lĩnh thâm, dầu rái, than gỗ, sáp ong, vải trắng, dầu lạc, nhựa trám, buồm lá và hết thảy các thứ thuế vặt, từ năm Quý hợi trở về sau, đều được giảm 2 phần 10.

    Ôi ! Hiệu lớn ban ra, đã cùng thiên hạ mà đổi mới ; đổi mà giữ tín, để giữ cơ đồ khó chuyển lay”.

    Từ nay những cáo dụ mệnh lệnh đều dùng chữ chiếu (Đầu tờ giấy dùng ấn “Thủ tín thiên hạ, văn võ quyền hành”) trong ngoài dâng chương sớ đều dùng chữ tấu. (Phàm các chương sớ đều phải tuyên đọc ở trước mặt vua, đợi được chuẩn y mới thi hành).

    Thưởng cho các quân thủy bộ. Chiếu rằng : “Bàn công để thưởng, đó là phép thường của nước. Bọn các ngươi ra trận đánh giặc, công lao khó nhọc ta đã thấy rõ. Nay là buổi đầu lấy lại kinh thành, trước hết hãy thưởng cho bọn ngươi 1.000 lạng vàng, 10.000 lạng bạc, 30.000 quan tiền để khuyến khích. Còn người có công trạng đợi sau sẽ thưởng”. Thế rồi thống quản các dinh quân đem danh sách dâng lên, thăng thụ cho các thống chế, thống đồn, chưởng cơ, cai cơ, cai đội, phó đội, đội trưởng, tham quân, tham luận, cai án, thư ký, tri bạ, cai hợp, theo thứ bực khác nhau.

    Ban ấn cho Quốc thúc quận công Tôn Thất Thăng (ấn khắc chữ triện “Quốc thúc chi ấn”).

    Phong Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Văn Nhân, Phạm Văn Nhân tước Quận công.

    Cho Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Lê Văn Duyệt là Khâm sai chưởng Tả quân bình Tây tướng quân, đổi Tả đồn quân Ngự lâm làm Hậu quân, cho Lê Chất làm Khâm sai chưởng Hậu quân bình Tây tướng quân.

    Đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân cho Nguyễn Văn Nhân phụ trách, Hậu quân cũ là Thần võ quân cho Phạm Văn Nhân phụ trách.

    Lấy Lê Văn Phong làm Đô thống chế Tả dinh quân Thần sách, Võ Doãn Văn làm Phó đô thống chế, Phan Văn Đức làm Phó tướng Tả quân, Võ Đình Duyên làm Phó tướng Hậu quân, Lê Tiến Sâm làm Phó tướng Chấn võ quân, Trần Quang Thái làm Phó tướng Thần võ quân, Nguyễn Văn Xuân làm chánh thống Hữu đồn Tả quân, Trương Phúc Phương làm chánh thống Hậu đồn, Nguyễn Văn Thống làm phó thống Trung đồn, Lê Văn Niệm làm chánh thống Tiền đồn Hậu quân, Mai Gia Cương làm chánh thống Hậu đồn (Phúc Phương là cháu bốn đời của Tả phủ đô đốc quận công Trương Phúc Thức)

    Trước kia Bình Định bị vây, chánh trưởng chi Trung chi Tiền quân là Ngô Văn Tôn và chánh trưởng chi Hậu chi Hậu quân là Trần Tiến Voi đầu hàng giặc, tới nay việc đã yên, sai cho đình thần nghị tội, chém để rao cho công chúng.

    Tiết Đoan dương, vua ngự ở điện, nhận lễ chầu mừng.

    Lấy Tả tham tri Lại bộ là Phạm Ngọc Uẩn làm Binh bộ.

    Sai Nguyễn Hoàng Đức làm án trấn trấn dinh Quy Nhơn, Nguyễn Hoài Quỳnh làm Hiệp trấn kiêm lãnh hai dinh Phú Yên và Quảng Ngãi, lấy Nguyễn Văn Hiếu làm Phó tướng Hữu quân, theo làm việc công ở trấn.

    Bọn Hoàng Đức dâng sớ cử sáu người có thể bổ làm huyện lệnh, xin bổ Tri huyện ba huyện Bồng Sơn, Phù Ly (sau chia làm Phù Mỹ, Phù Cát) và Tuy Viễn (sau chia làm Tuy Viễn và Tuy Phước). Vua y cho.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Sĩ làm Phó quản dinh Tiền thủy, Nguyễn Thụy làm Phó quản dinh Hậu thủy, Lê Văn Tiến làm Vệ úy vệ Hổ uy, Nguyễn Văn Khương làm Vệ úy vệ Diệu võ, Phạm Văn Châu làm Phó vệ úy vệ Thần võ.

    Người nước Thanh là Triệu Đại Sĩ(1. Có lẽ là Đại Nhậm, vì húy Tự Đức nên viết nhậm thành sĩ. 1) từ Quảng Đông về. Vua hỏi sự thể nước Thanh, rồi sai Binh bộ hậu cấp lương cho.

    Cho Vệ úy vệ Uy võ là Nguyễn Văn Soạn làm Khâm sai thuộc nội chưởng cơ, cai cơ vệ Ban trực hữu là Đoàn Văn Trương làm Khâm sai thuộc nội cai cơ, Phó vệ úy là Hoàng Văn Viễn làm tham quân Hữu dinh quân Thần sách, Tham luận là Nguyễn Văn Thạc làm Tham quân tượng dinh.

    Sai Cai đội Nguyễn Thành giữ kho thuốc súng, kiêm quản các đội An công.

    Cho Thống quản đồn Xiêm binh là Nguyễn Văn Tồn làm Cai cơ, sở thuộc là bọn Nguyễn Văn Điền hơn 200 người đều được trao chức cai đội, phó đội, đội trưởng theo thứ bậc khác nhau.

    Sai Khâm sai cai cơ Phạm Văn Nhân làm thủ ngự hai nguồn Thạch Bàn và Quy Hóa (thuộc tỉnh Bình Định), chia đặt đồn bảo để ngăn bọn ác man.

    Ban cấp sắc thị cho các viên biền(1. Viên biền : Gọi chung các quan võ và nhân viên trong quân đội. 1) các dinh quận. Trước kia các tướng sĩ theo việc quân chỉ cấp cho chỉ sai, chỉ truyền và công đồng phó, cho lệ theo các dinh quân sai khiến, đến nay chưởng lãnh quan đệ danh sách tâu xin cấp cho sắc son và thị son.

    Sai Phó vệ úy vệ Kiên võ là Hoàng Vĩnh mộ dân ngoại tịch ở Gia Định lập làm đội Thanh Châu để đi tuần các cửa biển.

    Sai bọn Tham luận Nguyễn Văn Thịnh và Cai hợp Võ Xuân Lý giữ các cửa biển Kim Bồng, An Dụ, Hà Ra, Tham luận Loan Đức Lợi trông nom thuế đầm, các đồn Hải Hạc và Hải Đông.

    Lấy Vệ úy vệ Túc uy là Lê Văn Tường làm Vệ úy vệ Hữu nhị Thị trung dinh Túc trực, Vệ úy vệ Kham võ là Nguyễn Đức Thu làm Vệ úy vệ Tả nhị, Cai cơ Hữu chi đạo Ứng nghĩa là Phạm Hữu Tâm làm Khâm sai cai cơ.

    Vua muốn thu dụng nhân tài, hạ lệnh cho các bộ viện đều đề cử những người mình biết để bổ vào các ty ở bộ và các viện Hàn lâm và Thị thư, Những cống sĩ và hàng quan ai có tài dùng được cũng bổ vào các ty ở bộ.

    Lấy bọn Lê Đắc Tần, Lê Chính Lộ, Nguyễn Đăng Đệ, Đoàn Đại Thận, Nguyễn Xuân Tình làm Thiêm sự Lại bộ, Nguyễn Viết Cơ, Trương Chí Lý, Đào Văn Lễ, Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Đình Chất, Lê Công Bật, Hoàng Trọng Mộ làm Thiêm sự Binh bộ, Trần Quốc Cao, Trần Bá Bảo làm Thiêm sự Hình bộ.

    Lấy bọn Trần Quang Mân, Nguyễn Hữu Thận, Võ Tiến Ngôn, Nguyễn Đăng Cơ làm Hàn lâm viện chế cáo ; Thái Văn Nguyên, Nguyễn Kim Phương, Phan Đức Hiến, Hoàng Đường, Nguyễn Văn Công, Võ Doãn Thiếp, Nguyễn Đăng Thiệp, Nguyễn Công Trực, Nguyễn Đức Đàm, Võ Xuân Biều, Trần Duy Điển, Đoàn Đức Khánh, Đinh Khắc Lộc, Nguyễn Công Túc, Nguyễn Đăng Tuân, Dương Công Thiệu, Trần Đình Điều, Mai Đức Giai, Lê Văn Quyền, Nguyễn Viết Phú, Võ Thế Chương, Ngô Văn Uyển, Hoàng Kim Hoán, Nguyễn Đức Tư, Hoàng Văn Phiến, Hoàng Văn Vận, Võ Xuân Cẩn, Lê Quang Thực, Nguyễn Văn Biểu, Lê Minh Huy sung Hàn lâm viện (Kim Hoán là con xử sĩ Hoàng Quang ở Thai Dương).

    Lấy Thị thư viện phụng chỉ là Trương Minh Thành làm Hàn lâm viện thị thư phụng chỉ kiêm Thượng bảo khanh, bọn Thị thư phụng chỉ Trần Đình Trưng, Thị thư Nguyễn Văn Quang, Võ Hữu Hợp, Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Văn Huyền làm Hàn lâm viện thừa chỉ, Thị thư Trần Văn Tính, Trần Viết Bình, Lê Văn Phú, Lê Văn Đồng, Nguyễn Côn Định, Nguyễn Văn Nhiên, Cao Văn Bích, Phạm Ngọc Phong, Vũ Văn Tân, Nguyễn Quang Kiều, Công Tuấn, Nguyễn Công Viên, Nguyễn Công Nghiễm làm Hàn lâm viện thị thư.

    Sai Phó tuần Hải đô dinh là Hoàng Trung Đồng, quản lãnh các thuyền hiệu Hoàng long, Thanh tước, Xích nhạn, vận chở các hạng tiền thóc gang thiếc ở Gia Định đến kinh.

    Thả quân sở bộ của Cao La Hâm Sâm về nước, cho 30 lạng vàng, 300 lạng bạc, 3.000 quan tiền. Trước kia Sâm theo đi đánh giặc, ngầm gửi thư cho tướng giặc là Trần Quang Diệu, vua bắt được, để đấy mà vẫn cấp cho thêm hậu, để cho yên lòng. Đến đây yên ủi cho về.

    Định lệ cấp ruộng lương và ruộng khẩu phần cho quan quân dinh Quảng Đức. Phàm quan quân theo việc binh thì mỗi người cấp một mẫu ruộng lương, ruộng khẩu phần thì theo lệ. Ai bị thương về quê cũng được cấp như thế. Ai bị chết trận hay chết bệnh thì cho vợ con cấy ăn một năm. Quan quân giặc quy thuận đã có sắc thị thì cũng được cấp như quan quân, chưa có sắc thị thì coi như hạng dân, bị bệnh thải về thì coi như hạng lão, ngoài ra ruộng lương của quan quân ngụy thì trả lại dân, người đã chết rồi thì vợ con được cấp như lệ cô quả, người bị bệnh về quê thì được cấp theo hạng tàn tật.