049. Trang [0529-0540] - @pannycratasi (done)

1/10/15
049. Trang [0529-0540] - @pannycratasi (done)
  • :rose:
    Thái phó Khiêm quốc công Lại Thế Khanh, Thái úy Chí quận công Hồ Văn Khu, Thái phó Quế quận công Nguyễn Hữu Đức, Thái bảo Phú quận công Bùi Khắc Nhất, Phổ quận công Nguyễn Tường, Mai quận công Phùng Khắc Khoan, Hộ bộ thượng thư Lương Trí, Thiếu úy Phú quận công Hoàng Nghĩa Lãng Thái úy Gia quốc công Vũ Công Mật, Trình quận công Lê Phước Trật).

    Sai các quan trấn Thanh Hoa nội là bọn Tôn Thất Chương kiêm lãnh trấn Thanh Hoa ngoại.

    Vua thấy Thanh Hoa nội và ngoại trước vẫn là một trấn, trung gian mới chia làm hai, bèn sai bọn Tôn Thất Chương kiêm lãnh cho có thống thuộc. Phàm việc binh dân kiện tụng ở ngoại trấn có việc quan trọng đều do quan nội trấn xét định, duy có tô dung thuế khóa thì thu nộp ở ngoại trấn thôi.

    Ban quan tước cho các thổ tù ở Bắc Hà. Vua cho rằng thống lãnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái tập họp các thổ mục ứng nghĩa có công nên phong cho tước quận công; các phiên thần ở Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên là Nông Phước Liêm, Ma Thế Cố làm Tuyên úy đại sứ, Ma Sĩ Trạch, Nguyễn Quảng Chiếu, Nguyễn Khắc Trương, Ma Thế Nhi, Đinh Công Vượng, Đinh Công Trinh làm Tuyên úy sứ, Đinh Công Kiêm làm Chiêu thảo sứ, Phan Bá Phụng làm Khâm sai cai đội, đều phong tước hầu, Cầm Nhân Nguyên làm Phòng ngự đồng tri, Lê Kim Công làm Phòng ngự thiêm sự, đều phong tước bá.

    Sai Bắc Thành đóng gông đưa 7 tên giặc bắt được là bọn Dương Thất Nguyên, Ngô Tam Đồng sang nước Thanh.

    Vua cùng bầy tôi bàn phép khoa cử, dụ rằng: “Khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu được. Phải nên giáo dục thành tài, rồi sau thi Hương thi Hội lần lượt cử hành, thì người hiền tài sẽ nối nhau lên giúp việc”.

    Đặt chức đốc học ở các trấn Bắc Thành, lấy học sĩ Nguyễn Đình Tứ làm đốc học phủ Phụng Thiên, Lê Huy Sầm làm đốc học Kinh Bắc, Ngô Xiêm làm đốc học Tây Sơn, Vũ Đình Tử làm đốc học Sơn Nam thượng, Nguyễn Huy Thảng làm đốc học Sơn Nam hạ. (Đốc học Kinh Bắc kiêm đốc học Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng; đốc học Sơn Tây kiêm đốc học Hưng Hóa, Tuyên Quang, đốc học Hải Dương kiêm đốc học Yên Quảng).

    Lấy Nguyễn Gia Cát làm Cần chính điện học sĩ kiêm chế cáo lệnh, cùng với Phạm Thích họp làm công việc từ chương ở Bắc Thành.

    Cho Bùi Huy Bích 200 quan tiền. Huy Bích người làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, đỗ tiến sĩ triều Lê, có tiếng văn học, làm quan đến chức Tham tụng. Năm Bính ngọ Tây Sơn cướp miền Bắc, vua Lê ghét vì cầm chính quyền mà không nên gì, đổi ra làm giám quân. Quân tan vỡ, nhà Lê mất, Huy Bích ẩn nấp ở chốn dân gian, khôn khéo giữ được mình. Đến nay nhờ Nguyễn Huân tâu xin được vào bái kiến. Vua thấy già yếu, cho ngồi hỏi chuyện, ban cho hậu rồi cho về.

    Lấy Cai bạ Bình Định là Nguyễn Văn Khiêm làm Hộ bộ.

    Triệu Ký lục Quang Binh là Nguyễn Văn Quý đến hành tại. Vua hỏi về mùa màng tốt xấu thế nào và về tình trạng dân gian. Thưa rằng: “Từ sông Gianh về Nam, thóc lúa được mùa, dân đều ca ngợi ơn trạch nhà vua”.

    Lấy Hiệp trấn Kinh Bắc là Nguyễn Văn Lễ làm Hữu tham tri Binh bộ, Ký lục Quảng Nam là Nguyễn Văn Phương làm Hiệp trấn Thanh Hoa.

    Trấn thủ Hải Dương là Trần Công Hiến và Hiệp trấn là Ngô Đức Tuấn ức hiếp người buôn lấy tiền của, việc phát giác, vua cho rằng Công Hiến là người võ biền chỉ đánh roi, cho Đức Tuấn là quan văn mà khinh nhờn pháp luật nên bị miễn. Lấy Nguyễn Văn Quý làm Hiệp trấn Hải Dương.

    Vua cùng bầy tôi bàn đến chế độ đinh điền. Dụ rằng: “Đời xưa lấy thuế ở dân có chế độ cho nên có thể trị yên lâu dài. Giặc Tây Sơn đánh thuế không có chuẩn đích, chính lệnh bất thường, không thất bại sao được? Nay nên đổi tệ ấy đi, lập làm phép giản dị bình thường, khiến quan có chỗ giữ, dân có chỗ theo, thì mới có thể lâu mà không sinh tệ”. Bầy tôi đều nói rằng: “Nhà vua nghĩ đến thế, thực là Phước cho sinh dân trong nước”.

    Định bỏ thầu về các quan tân đầm mỏ ở Bắc Thành. Phàm người lãnh trưng hằng năm cứ đến cuối mùa đông thì đấu giá, bộ Hộ và bộ Binh họp lại cho thầu. Ai bỏ giá cao hơn thì cấp bằng cho (bằng đóng ấn “Sinh tài hữu đạo chi ấn” (1. Sinh tài hữu đạo: Làm ra của cải phải có đạo.1)). Người lãnh trưng chia từng kỳ mà nộp.

    Cho Nguyễn Văn Trương 500 quan tiền, Lê Văn Duyệt và Lê Chất mỗi người 1.500 hộc thóc.

    Lấy Vệ úy vệ Địch võ là Nguyễn Xuân làm Khâm sai chưởng cơ phó thống Tiền đồn Tiền quân.

    Lấy Lê Thế Khoan làm Cai đội, sai mộ dân ngoại tịch lập làm cơ Thiên hùng.

    Cho Ngô Hữu Du là con Hình bộ Ngô Hữu Hựu được ấm thụ chức hàm Cai hợp.

    Bàn đặt chức Tổng trấn Bắc Thành. Vua sắp hồi loan, dụ bầy tôi rằng: “Nay võ công đã yên mà ta chưa bái yết Thái miếu; huống chi hai ba năm nay xa cách Từ cung, mối tình quạt nồng ấp lạnh, canh cánh bên lòng. Nếu cứ ở ngoài mãi để đợi đại điển bang giao thì lòng ta có chỗ không yên. Vậy nên bàn việc hồi loan. Duy đất Bắc Hà vừa dẹp yên, dân vật đều mới, mà thành Thăng Long lại là nơi quan trọng của Bắc Hà, cần có trọng thần để trấn giữ mới được”.

    Lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, ban cho sắc ấn, 11 trấn nội ngoại đều lệ thuộc. Phàm những việc cất bãi quan lại, xử quyết kiện tụng, đều được tùy mà làm rồi sau mới tâu. Lại đặt ba tào Hộ Binh Hình ở Bắc Thành, Hộ bộ Nguyễn Văn Khiêm, Binh bộ Đặng Trần Thường, Hình bộ Phạm Như Đăng lãnh các tào ấy, theo quan Tổng trấn để xét biện công việc.

    Sai các quân ở lại đóng giữ Bắc Thành. Lấy Chưởng dinh là Nguyễn Đình Đắc quản 3 vệ Nghiêm dũng, Kiên dũng, Hiến dũng quân Thần sách, Phó tướng Hoàng Văn Điểm quản 10 cơ ngũ Kính ngũ Tiệp Trung quân, Chưởng cơ Nguyễn Văn Thụy quản 10 cơ ngũ Chấn ngũ Địch Tiền quân, Trần Quang Khương quản 10 cơ ngũ Kiên ngũ Nhuệ Tả quân, Ngô Văn Ngữ quản 10 cơ ngũ Uy ngũ Thắng Hậu quân, Nguyễn Đình Tuyển quản 10 cơ ngũ Hùng, ngũ Dũng quân Thần võ, Thống binh cai cơ Hồ Văn Thụy quản 4 cơ tứ Dực dinh Phấn dực.

    Lấy 3 cơ Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng Tượng dinh cho đóng giữ Bắc Thành, 3 cơ Tiền kích, Trung kích, Tả kích cho đóng giữ trấn Sơn Nam thượng, 2 cơ Hữu kích, Hậu kích cho đóng giữ trấn Thanh Hoa ngoại.

    Lấy Nguyễn Đình Đức làm Tham tri Hộ bộ giúp công việc Hộ tào Bắc Thành, Trần Đại Luật làm Trấn thủ Sơn Nam thượng, Phan Tiến Hoàng làm Trấn thủ Kinh Bắc.

    Sai Công bộ Trần Văn Thái kiêm quản công việc Trường Đà. Văn Thái nhân cử Trần Văn Đức làm Cai đội, coi những đà công (tay lái) và thủy thủ (chân chèo) ở các đội Trường Đà, Thuận Thủy, Mã Hải, Kỵ Hải, Trường Thọ, hằng năm vận chở thóc thuế ở các địa phương về Kinh. Vua y cho.

    Sai Nguyễn Văn Thành lượng cắt binh lính mới kén cấp cho các trạm, mỗi trạm 150 người, để sung vào việc đài đệ. Lại sai dinh thần Quảng Bình chỉnh bị ghe thuyền chờ ở bến đò Thượng Lập.

    Ngày Bính thân, xa giá đi từ thành Thăng Long. Dụ Nguyễn Văn Thành rằng: “Công việc Bắc Thành, ủy hết cho khanh, khanh nên cố gắng”. Văn Thành lạy xin vâng mệnh, nhân đó tâu rằng: “Việc binh việc dân và việc lý tài ở Bắc Thành ba điều ấy rất quan trọng, phải xếp đặt rất nhiều, thần xin ngày ghi từng việc, mỗi tháng đóng thành tập đệ tâu một lần”. Vua cho là phải.

    Sai Nguyễn Văn Trương, Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Tống Phước Lương đều đem thủy quân bộ quân đi trước, bọn Nguyễn Đức Xuyên và Trần Văn Tín đi theo hầu.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển XIX - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Nhâm tuất, năm Gia Long thứ 1 (1802), mùa đông, tháng 10, ngày Kỷ hợi, mồng 1, xa giá đến Thanh Hoa yết lăng miếu ở núi Thiên Tôn.

    Ngày Nhâm tý, xa giá đến Hành cung Thượng Lập, ra lệnh đi đường sông. Ngày Quý sửu đến Kinh sư. Ngày Đinh mão, vua thân yết Thái miếu rồi đến thăm sức khỏe của Từ cung. Đặt yến lớn đãi bầy tôi.

    Nước Vạn Tượng sai sứ đến cống. Ban cho 100 quan tiền rồi cho về.

    Gia Định bị đói. Chiếu cho lưu trấn thần phát một vạn hộc thóc cho dân nghèo vay. Những nhân viên hưu dưỡng và các quan kinh có vợ con ở quê quán cũng được vay.

    Triệu Lưu thủ Bình Định là Lê Văn Lân về Kinh, lấy Khâm sai cai cơ Mai Tiến Huệ làm Lưu thủ Bình Định.

    Vua thấy trấn Hà Tiên từ sau khi gặp cuộc binh loạn, dân chưa trở về đủ, bèn sai Trấn thủ Mạc Tử Thiêm chiêu phủ dân về, khiến cho yên họp, hết thảy phú thuế dao dịch đều miễn cả.

    Cho Trần Đình Hoán được nhiêu ấm. Đình Hoán là cháu gọi Cai đội Trần Đình ái bằng chú bác. Đình ái là người Thanh Chương, đi đánh giặc bị chết trận. Vua thương vì không người kế tự, cho Đình Hoán được nhiêu ấm để giữ việc thờ cúng.

    Sai trấn Gia Định xét tình hình động tĩnh của dân gian và tình hình mùa màng tốt xấu, mỗi tháng đóng thành tập để tâu.

    Sáu ngoại trấn Bắc Thành kén điểm thổ binh, nhân dân nhiều người ngờ sợ. Vua nghe tin, sai tuyên dụ các phiên thần rằng: “Thổ binh 10 người chỉ lấy 1 người, so với 5 nội trấn thế là đã rộng rãi rồi. Huống chi thổ binh lại do quan thổ trông nom. Triều đình lập pháp rất tiện cho dân, đừng nghi ngờ nữa”. Từ đó dân thổ mới được yên lòng.

    Vua thấy từ Nghệ An ra Bắc ruộng đất bị bỏ hoang nhiều, sổ sách ghi chép lại không được thực, bèn sai quan sở tại, phàm các nơi có bãi nổi chưa thành thổ và ruộng hoang chưa khai khẩn hết thì khám xét rõ ràng, làm sổ đệ lên cho Hộ bộ bàn định thuế khóa.

    Định lệ thuế quan tân ở Bắc Thành. Phàm thuyền buôn đi lại thì chiếu hàng hóa 40 phần đánh thuế 1 phần. Lại dụ khắp cho các xã dân các trấn, thu tô những ruộng phụ canh, ngoài thuế chính cung không được đòi hỏi gì khác.

    Kén 50 người giáo phường ở Thanh Nghệ đến cuối mùa đông vào Kinh để dâng ca nhạc tế Thái miếu.

    Khai mỏ vàng, bạc, đồng, kẽm ở Tuyên Quang và Hưng Hóa, sai bọn thổ mục Ma Doãn Điền, Hoàng Phong Bút và Cầm Nhân Nguyên lãnh trưng. (Ma Doãn Điền khai mỏ chì Kim Tương, Hoàng Phong Bút khai mỏ đồng Tụ Long, mỏ bạc Nam Đương, mỏ vàng Tú Sơn, Cầm Nhân Nguyên khai mỏ vàng Mẫn Tuyền, mỏ chì Tú Dung), định sang năm bắt đầu trưng thuế. Lại thấy dân Man các tộc Sơn Tử, Sơn Trang và Sơn Man có nhiều người bỏ trốn, sai các thổ mục vời gọi về, đợi khi đã hồi phục lường định thuế khóa.

    Tháng 11 làm lễ tuyên cáo võ công. Ngày Quý dậu tế thiên địa thần kỳ. Ngày Giáp tuất hiến phù (1. Hiến phù: Dâng những người bắt được trong chiến tranh.1) ở Thái miếu.

    Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì cho 5 voi xé xác (Dùng 5 con voi chia buộc vào đầu và hai tay hai chân, rồi cho voi xé, đó là một thứ cực hình), đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại (2. Ngoại đồ gia: Sau đổi là Vũ khổ. 2) (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài.

    Chiếu rằng: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù (1. Xuân Thu, Công Dương truyện, Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù chín đời.1) là nghĩa lớn kinh Xuân Thu; thương muôn dân mà đánh giặc là lòng nhân của vương giả. Truân hanh (2. Trải qua khó nhọc mà đến thành công là quẻ truân mà đến hào hanh.2) mới rõ công to; hoán hãn (3. Chỉ hiệu lệnh của vua.3) để ban hiệu lệnh. Nhà nước ta, Tống Sơn đúc khí thiêng, Gia Miêu gây điềm tốt. Từ Tiên vương cả gây nền lớn, nhân hậu một mạch cùng truyền. Đến Liệt thánh vâng nối công to, thái bình hai trăm năm lẻ. Chợt nửa chừng gặp lúc gian truân, để ngoan dân gây nên biến loạn. Chiếm giữ thành ấp ta; tàn ngược sinh dân ta. Từ Nhạc, Huệ về sau, đến Quang Toản về trước, chứa tội ác không phải một ngày; Từ Thuận Quảng vào Nam, đến Linh Giang ra Bắc, gây tai họa khắp cả mọi phương. Trẫm nghiến răng vì thù nước, đau ruột bởi ách dân. Dời đổi không thường há như Thiếu Khang nhà Hạ ở Hữu Nhưng (4. Vua nhà Hạ là Thiếu Khang sinh ở Hữu Nhưng, rồi sau dẹp yên loạn Hậu Nghệ mà trung hưng được nhà Hạ.4); lo lắng phục hồi, còn hơn Quang Vũ nhà Hán ở Bạch Thủy (5. Hán Quang Vũ dấy quân ở quận Bạch Thủy, đánh Vương Mãng mà dựng nghiệp trung hưng.5). Bởi trời muốn thử thách để trao mệnh lớn, nên trẫm phải ẩn nhẫn để chờ thời cơ. Vận hội lúc đã đến trung hưng. Quân đánh dẹp ngày càng chỉnh đốn. Năm Mậu thân mới từ Xiêm La trở về Gia Định. Năm Kỷ mùi tiến lấy Quy Nhơn; năm Tân dậu đánh được Phú Xuân. Bọn giặc vội vàng; một ngựa bỏ chạy. Từ đó, Hoành Sơn một giải, cõi xưa thu về. Duy còn giặc Diệu quân cô, lũy cũ vẫn đóng. Nghĩ trừ ác trước nên trừ mống, mà căm thù ta phải mài gươm. Quân giáp đánh vừa qua lũy mạnh, giặc trốn đi bỏ mất thành Bàn. Nó đã nhụt khí phải chạy đêm, ta bèn đem quân đánh ra Bắc. Tháng 5 năm nay ta đem đại chúng thẳng vượt sông Gianh. Theo gió phóng lửa, mạnh tựa đốt lông; hẹn ngày thành công, dễ như chẻ trúc. Các đạo Hoan ái, chốc đã phá tan. Giặc Diệu giặc Dũng, cùng đường sa hố. Thẳng một lối sấm vang chớp giật; khắp mọi thành ngói lốc tro bay. Giống giặc bắt xong; tội nhân được hết. Mây tối quét sạch, cả gầm trời bờ cõi sáng trong; ngựa bay khải hoàn, bao sông núi đầy đường tươi đẹp. Đó thực là nhờ được Trời cao giúp đỡ, chín miếu (6. Chín miếu ở đây là miếu thờ chín đời chúa Nguyễn trước Gia Long.6) thiêng liêng, các tướng gắng công, ba quân đua sức, nên mới được thế. Ngày mồng 6 tháng này, tế cáo Trời Đất; ngày mồng 7 yết tế Thái miếu, làm lễ hiến phù, bọn Nguyễn Quang Toản và ngụy thái tể Quang Duy Nguyên súy Quang Thiệu, Đốc trấn Quang Bàn, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Tư đồ Võ Văn Dũng, Tư mã Nguyễn Văn Tứ; Đổng lý Nguyễn Văn Thận, Đô ngu Nguyễn Văn Giáp, Thống tướng Lê Văn Hưng, cùng với bè lũ đầu sỏ đều đã bắt giam, đều đem giết cả, bêu đầu bảo cho dân chúng. Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. Ôi! Tàn tặc dẹp yên, đã thành công đại định; xa thư một mối, hưởng chung Phước thái bình”.

    Thưởng cho các quân thủy bộ.

    Chiếu rằng: “Từ khi khắc phục kinh đô, giống giặc chạy ra Bắc, trẫm thấy giặc nước chưa trừ, cần phải dấy binh tiến đánh. Tướng sĩ thủy bộ các ngươi cùng lòng căm giận, thề diệt cừu thù. Cuối cùng trừ hết giống giặc, cả định võ công, đều là nhờ ở sức của tướng sĩ cả. Nay tới cuộc mừng khải hoàn, thưởng cho 5 vạn quan tiền, chia cấp cùng nhau yến hưởng, để đáp sự khó nhọc đặc biệt”.

    Ưu cấp cho các công thần về hưu. Vua bảo bầy tôi rằng: “Trẫm từ khi vận nước suy vi, bôn ba nhiều chỗ, các tướng sĩ đi theo giúp đỡ, khi trú ngụ ở thành Vọng Các, nếm đủ gian khổ, hoặc năm Mậu thân mới lấy Gia Định, ứng nghĩa cần vương. Sau có người nhân đánh giặc bị thương hoặc già ốm mà phải về quê quán nghỉ ngơi. Hiện nay nước nhà đã yên, trẫm nhớ lại công trước, nên bàn việc đáp đền”. Bèn chuẩn định những người theo đi Vọng Các, hằng tháng được cấp tiền lương, những người đầu quân từ sau năm Mậu thân trước năm Canh thân, cho lập thuộc binh, đều chia làm ba hạng, ban cấp theo bực khác nhau. (Phàm người có dự theo đi Vọng Các, thì biền binh về hưu mà đánh trận bị thương là hạng nhất, người bệnh khỏi đợi dùng, cùng người tuổi già ốm yếu là hạng nhì. Người can phạm kỷ luật đã xá miễn là hạng ba. Chánh vệ, chánh chi thì hạng nhất mỗi tháng cấp 12 quan tiền, 12 phương gạo, hạng nhì 6 quan tiền, 6 phương gạo, hạng ba 3 quan tiền, 3 phương gạo; phó vệ phó chi thì hạng nhất 10 quan tiền, 10 phương gạo, hạng nhì 5 quan tiền, 5 phương gạo, hạng ba 2 quan 5 tiền, 2 phương 15 uyển gạo; trưởng hiệu cai cơ, cai đội thì hạng nhất 8 quan tiền, 8 phương gạo, hạng nhì 4 quan tiền 4 phương gạo, hạng ba 2 quan tiền, 2 phương gạo; phó đội thì hạng nhất 6 quan tiền 6 phương gạo, hạng nhì 3 quan tiền, 3 phương gạo, hạng ba 1 quan 5 tiền, 1 phương 15 uyển gạo; đội trưởng thì hạng nhất 4 quan tiền, 4 phương gạo, hạng nhì 2 quan tiền, 2 phương gạo, hạng ba 1 quan tiền, 1 phương gạo; binh đinh thì hạng nhất 2 quan tiền, 2 phương gạo, hạng nhì 1 quan tiền, 1 phương gạo, hạng ba 5 tiền, 15 uyển gạo. Từ năm Mậu thân về sau, năm Canh thân về trước, biền binh về hưu và đánh trận bị thương là hạng nhất; người bệnh khỏi đợi dùng là hạng nhì; người tuổi già ốm yếu là hạng ba. Chánh vệ thì hạng nhất cho lập thuộc binh 8 người, hạng nhì 6 người, hạng ba 5 người; phó vệ chánh chi thì hạng nhất được lập thuộc binh 7 người, hạng nhì 5 người, hạng ba 4 người. Phó chi thì hạng nhất được lập thuộc binh 6 người, hạng nhì 4 người, hạng ba 3 người; trưởng hiệu, cai cơ, cai đội thì hạng nhất được lập thuộc binh 3 người, hạng nhì và ba đều 2 người; phó đội thì hạng nhất được lập thuộc binh 2 người, hạng nhì hạng ba đều 1 người. Những thuộc binh đều được miễn dao dịch.

    Sai Nguyễn Văn Thành kén dùng 600 người giản binh ở Bắc Thành lập làm đội Uy chấn, để luyện tập phép bắn súng, lấy cai đội tòng quân là Nguyễn Văn Huyên làm cai đội, đội trưởng Tô Văn Chấp làm phó đội để trông coi.

    Bàn thưởng công bắt giặc. Thăng Phó đô thống chế Tả dinh là Võ Doãn Văn làm Chưởng dinh, Phó thống Tiền đồn là Hoàng Đăng Lý làm Chưởng cơ, Cai cơ Phan Long Vân và Phó vệ Nguyễn Văn Mẫn làm Khâm sai thống binh cai cơ, Chánh thống tiền đồn là Lê Đức Định làm Tổng nhung cai cơ, Chánh vệ Nguyễn Văn Cường làm Tổng binh cai cơ, Cai đội Phạm Nhữ Quá làm Cai cơ. Lại thưởng lộc điền và thuộc binh, chiết cấp bằng tiền theo thứ bậc (Ruộng họp 200 mẫu chiết cấp tiền 10.000 quan; thuộc binh 200 người chiết cấp tiền 6.000 quan).

    Chép công những người theo đi Vọng Các.

    Chiếu rằng: “Bọn ngươi theo đòi bên cương ngựa nếm đủ mọi sự gian nan. Nay giặc nước đã trừ, võ công cả định, trẫm nhớ lại những công lao buổi trước, thực rất chú tâm. Những người già ốm về hưu thì từng đã ưu cấp tiền lương. Những người có chức trách quản suất đều được kén dùng. Duy ở hàng ngũ trong Kinh những người chưa có chức việc còn nhiều, chưa lục chép tới. Vậy hạ lệnh cho quan trưởng lãnh ghi lấy số để cất dùng”.

    Vua nghĩ tướng sĩ đi theo hàng trận đã lâu, thể tất tâm tình, mới dụ rằng: “Các ngươi lìa thân thích bỏ mồ mả theo ta trong chốn tên đạn, trải qua hàng trăm trận đánh, mới có ngày nay, chính là lúc cùng hưởng vui với nước. Các ngươi là nanh vuốt của nước, trẫm vốn muốn lưu ở hai bên tả hữu dùng làm can thành (1. Cái mộc và cái thành, đều là vật để che giữ chống giặc.1), nhưng lại nghĩ lâu ngày nhớ nhà, nhân tình không ai khỏi được, mà trong ấy thì cũng có người vui theo việc vua, có người mong về làng cũ, tình không giống nhau, cũng không nên cưỡng ép. Đặc biệt hạ lệnh cho các dinh vệ cơ hiệu đội thuyền các quân thủy bộ, từ đội trưởng trở xuống, phàm những người quán ở các dinh Gia Định, Bình Thuận, Bình Khang, ai tình nguyện ở lại quân ngũ thì được bội cấp tiền gạo lương tháng để giúp cho nuôi cha mẹ vợ con, ai tình nguyện về quê nghỉ ngơi thì cho được tự do. Như có người đau ốm và chết thì quan sở tại phải gia tâm phủ tuất (1. Vỗ về thương xót.1). Từ phó đội trở lên, đã có chức việc thì vẫn ở Kinh hầu hạ, có người nào xin về thăm nhà thì cấp giấy cho hạn. Những người quê ở Phú Yên trở ra Bắc thì cho được chia phiên thay đổi nhau, khiến được nghỉ vai”.

    Sai Nguyễn Đức Xuyên kén điểm binh ở châu Bố Chính ngoại, biên thành đội ngũ, lệ theo Tượng dinh.

    Đặt vệ Tương võ, lấy Khâm sai cai đội là Phan Bá Phụng làm Vệ úy, Nguyễn Văn Lẫm và Lê Văn Bản làm Phó vệ úy.

    Miễn binh dao và thuế thân cho dân An Du. An Du là làng cũ của Quốc mẫu. Vua nhớ ơn Thích lý (2. Thích lý: Làng họ ngoại.2) nên đặc biệt miễn cho. Phàm những người binh đinh lệ thuộc các dinh cơ vệ hiệu đội các quân đều cho về dân. Lại cho người họ ngoại là Phùng Thế Thanh chức hàm khám lý.

    Lấy Tham tri Binh bộ là Lê Quang Định làm Thượng thư Binh bộ sung Chánh sứ sang nước Thanh, Thiêm sự Lại bộ là Lê Chính Lộ và Đông các học sĩ là Nguyễn Gia Cát sung Giáp ất phó sứ. Trước là khi vua đã lấy lại Bắc Thành gửi thư cho tổng đốc Lưỡng Quảng đem việc ấy chuyển đạt lên vua Thanh, vua Thanh sai phục thư nói nước ta đã vỗ yên được toàn cõi An Nam thì nên làm biểu sai sứ xin phong. Còn sứ bộ trước là bọn Trịnh Hoài Đức thì cho chuyển đến Quảng Tây, đợi sứ bộ xin phong đến thì đều tiến đến Yên Kinh đợi lệnh. Bọn Chính Lộ đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho bọn Quang Định đem quốc thư và phẩm vật (kỳ nam 2 cân, ngà voi 2 cặp, sừng tê 4 tòa, trầm hương 100 cân, tốc hương 200 cân và trừu, the, vải đều 200 tấm) đi xin phong và xin đổi quốc hiệu làm Nam Việt.

    Sai Bắc Thành sửa dựng hành cung và Sứ quán.

    Vua cho sự thể bang giao là một việc quan trọng, hạ lệnh cho quan Bắc Thành noi theo việc cũ của triều Lê, xây thêm điện vũ (Đặt điện Cần chánh ở bên trong năm cửa trước điện Kính Thiên, ngoài cửa điện Cần chánh dựng một cái rạp dài, đằng trước đặt cửa Chu Tước) và nhà tiếp sứ ở bên sông. Lại hạ lệnh cho Lạng Sơn sửa đài Ngưỡng Đức. (Đài ở Nam Quan thuộc Lạng Sơn, làm từ đời Lê cũ). Từ sông Nhị Hà đến Lạng Sơn tính đường đặt bảy sở nhà trạm (Gia Quất, Cầu Lim, Mỹ Cầu, Cần Dinh, Hòa Lạc, Nhân Lý, Mai Pha), ở đó đều đặt công quán.

    Cho Nguyễn Văn Tồn đem quân Xiêm sở thuộc về quê nghỉ ngơi. Văn Tồn chiêu tập binh đinh, theo việc binh nhung đã lâu. Vua thương tình khó nhọc, bèn cho thả về. Sai đặt đồn Trà Ôn ở Trấn Giang cho Tồn kiêm quản cả hai phủ Trà Vinh và Mân Thít, lệ vào dinh Vĩnh Trấn.

    Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Đảng và Tham hiệp là Nguyễn Đăng Cơ có tội đều bị cách chức.

    Lấy Hiệp trấn Tuyên Quang là Nguyễn Trí Hòa làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham luận Tiền quân là Lê Đình Điền làm Tham hiệp. Lại lấy Tri phủ Thường Tín là Nguyễn Nhu làm Hiệp trấn Tuyên Quang.

    Ban tiền tuất cho các tướng sĩ chết bệnh và chết trận. Phàm những người đem hài cốt về táng ở làng thì quan địa phương phải theo lệ mà cấp tiền tuất cho nhà.

    Cai đội Tiền hiệu Trung quân là Nguyễn Văn Lân lấy cớ cha già, xin về Gia Định theo trấn sai phái, nhờ ở gần để tiện thăm nuôi. Vua y cho.

    Điển quân thượng đạo Lưu Phước Tường tâu rằng: “Đầu năm Kỷ mùi vâng mệnh đi theo việc quân ở thượng đạo, sở thuộc viên biên là bọn Nguyễn Vinh Xiêm, Trần Văn Cảm tất cả 98 người, theo việc sai phái đã lâu, xin lượng xét công lao, thưởng cho quan chức, để khen chút công khó nhọc”.

    Vua sai cho các chức tham mưu, tham luận, cai cơ, cai đội, cai hợp, thủ hợp theo thứ bậc khác nhau.

    Sai Hồ Văn Thất là Cai cơ đồn Xiêm binh quản ba đạo Quang Hóa, Xỉ Khê và Giao Dịch. Văn Thất vốn được binh Man ở ba đạo ấy tin phục, Nguyễn Văn Tồn tâu lên nên có mệnh ấy.

    Quan Bắc Thành tâu nói:

    “Ruộng đất công tư ở Bắc Thành nhà Lê trước có đặt làm ruộng ngụ lộc, ruộng thưởng lộc, ruộng chế lộc(1. Ruộng ngụ lộc, cấp cho quan văn, thưởng lộc, cấp cho quan hưu trí, Chế lộc, cấp cho quan võ (V. S. T. G. C. M. quyển XXXV, tờ 14).1). Tây Sơn lấy những ruộng ấy làm ruộng biệt cấp. Nay xin giả hết cho dân. Còn ruộng đất tư của ngụy quan và những quan điền quan trại quan thổ của Lê Trịnh mà bị bá chiếm đều phải sung vào nhà nước”. Vua y theo lời tâu.

    Miễn thuế thân năm nay cho thợ tượng cuộc ở Bắc Thành, vì cớ vào Kinh làm việc. Trấn thủ Lạng Sơn là Lê Đình Chính bị tội tham tang phải cách chức. Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Thụy lãnh trấn thủ Lạng Sơn.

    Lấy Trần Đình Trưng làm Thượng bảo khanh.

    Tha giảm thuế cho Gia Định.

    Chiếu rằng: “Trẫm nghĩ Gia Định là đất dấy nghiệp, từ khi dấy quân tới nay, binh lương đều lấy ở đấy, một phương các ngươi riêng chịu nặng nề đã lâu. Vậy cho tha giảm thuế lệ theo thứ bậc khác nhau.” Lại sai lưu trấn thần xét các thứ thuế tạp chưa được dự vào ngạch giảm thì tâu lên để giảm cho. (Bốn huyện châu Phước Long, Tân Bình, Kiến An và Định Viễn, thuế ruộng các ruộng núi ruộng cỏ lệ nộp bằng thóc và ruộng núi nộp thay bằng tiền, cùng bãi dâu vườn mía vườn trầu, về 3 năm Quý hợi, Giáp tí, ất sửu, đều giảm 2 phần 10. Những ruộng núi ruộng cỏ phải nộp thay vỏ đay, vườn cau phải nộp quả cau thì được miễn cả. Về các hạng dân ở bốn huyện châu và đạo Long Xuyên, các lậu phu biệt nạp các thôn thuộc về xã Minh Hương và đạo Thanh Châu, dân đồn điền, nậu đồn điền người Thanh, đội chăn bò, đội thợ đóng thuyền, ty thợ làm lược, ty giáo phường, đội thông ngôn, lễ sinh ở phủ, thuộc quân ở phủ, thuộc quân các nha, thuộc binh ở dinh đạo, các thuộc dân sổ mới án mới ở các thuyền, ban hát ở các ty trừu nam, lĩnh trắng, lĩnh thâm, lĩnh láng thuộc Nội viên, các đội nậu ty cục biệt nạp sáp ong, vải trắng, dầu lạc, chiếu cói, than gỗ, mây nước, mây sắt, dầu rái, lá buồm trắng, thợ giấy, trường sắt, thợ sắt, nghề sắt, các thôn giáp Thái Hòa, Tân An, Tân Cơ, An Tịch, Thanh Tuyền, thì tiền thuế thân dùng từ Quý hợi về sau 5 năm đều miễn, còn dân đồn điền lệ nộp thóc từ nay trở về sau giảm 4 phần 6, nậu đồn điền người Thanh lệ nộp thóc và nộp thay bằng tiền giảm 5 phần 10, đội dầu rái, đội than gỗ lệ nộp vải trắng, sáp ong, nến trám, hai thôn Phú Hòa, Tân An lệ nộp giấy, sắt, dầu rái, than gỗ, mây nước, mây sắt lá buồm, hai thôn giáp Tân Cơ, An Tịch, lệ nộp chiếu, thôn Thanh Tuyền lệ nộp gỗ muồng, các ty thuộc Nội viên lệ nộp tơ lụa nam đều giảm 5 phần 10, duy về dầu lạc thì giảm 1 phần 3, vôi giảm 4 phần 5, ban hát lệ nộp tiền thuế sai thuyền giảm 5 phần 6; tiền thuế thuyền buôn Nam Vang, hạng nhất 300 quan, hạng nhì 200 quan, hạng ba