04. 4DHN - GD (done)

22/11/15
04. 4DHN - GD (done)
  • Link docx

    Link pdf

    tại New York những công trình này vẫn còn hoạt động cho đến tận ngày nay ở phó Bourbon Street.

    Cũng ở hội nghị này, những tên găngxtơ đã bỏ phiếu bầu một hội đồng trọng tài toàn quyền xét xử. Hội đồng này sẽ phân giải những mâu thuẫn giữa các thành viên các băng, sẽ quyết định các hình thức trừng phạt đối với những tên không ngoan ngoãn hay vi phạm điều luật đã được thống nhất. Sau này, trong các hồ sơ hình sự đã xuất hiện quan điểm cho rằng kẻ bị kết án hình sự đã xuất hiện quan điểm cho rặng kẻ bị kết án đầu tiên là Al Capone. Danh tiếng của y quả là bất lợi cho y, mỗi người dân Mỹ đều biết tên y, hành động của y, thu thập của y, nhưng y lại tự hào về điều đó. Các sếp mafia đã khiển trách y và để xoa dịu dư luận, lúc này đang bất bình chống đối găngxtơ y phải tự đầu thú và chịu một hình phạt nhỏ.

    Giả thiết trên không được chứng minh mà cũng không thể phủ nhận. Có điều là không lâu sau đó, Al Capone đã yêu cầu viên cảnh sát quen biết là Malone bắt y vì tội mang vũ khí trái phép. Y bị “kết án” và nghỉ ngơi một năm trong một nhà tù tiện nghi đầy đủ. Có ý kiến cho rằng y làm như vậy để tránh các tay súng của những băng cạnh tranh.

    Khi Maranzano trở thành capo di tutti i capi -sếp của các sếp y đã mời hơn 500 găngxtơ quyền lực gốc Sicilie tới dự lễ đăng quang của mình. Khi chia tay, y ngồi lên ngai vàng của mình để mọi người lần lượt theo truyền thống cũ, hôn tay và “kỉnh” phong bì với tò 100 đôla. Người ta nói rằng Maranzano đã bỏ túi tối hơn một triệu đôla trong bữa tiệc đó.

    Khi Lucky Luciano nhậm chức, y cũng tổ chức yến tiệc linh đình tuy nhiên y từ chối không nhận phong bì 100 đôla và chiếm được cảm tình bằng hành động “tiến bộ” sau: không những chỉ mời người Sicilie, y còn mời tất cả những tên ăn cướp Do Thái, Alien và các băng khác nữa. Nghe đâu mafia còn được đổi tên thành Unione Sicilie. Luciano là capo di tutti i capi kiểu mới. Y ăn mặc lịch thiệp, xuất hiện trong các quán ăn đắt tiền, sang trọng nhất ở New York, khi thì cùng với ngôi sao màn bạc Hollywood Orlo, lúc khác thì có mặt những vận động viên nổi tiếng, các chính trị gia hoặc tầng lóp trên của thế giới tài chính. Y có những ngón tay dài và can thiệp tỏi cả đời sống chính trị. Điều này sẽ còn được nói tới sau này.

    Tuy nhiên, tuyên bố của sếp mới rằng Unione Siciliana sẽ tiến hành những hoạt động bất hợp pháp mà không cần dùng vũ lực là một điều mị dân. Không dùng vũ lực sao được, khi mà buôn lậu Whisky và thuốc phiện, cho vay nặng lãi, tống tiền, hối lộ và các trò chơi cờ bạc bất hợp pháp là nội dung kinh doanh của hiệp hội tội ác. Lucky Luciano tuyên bố bãi bỏ chế độ chức sắc cũ cho đến tận sếp của các sếp, mỗi vùng sẽ có sếp riêng của mình.

    “Tôi cho rằng như vậy sẽ tốt hơn” - đồng nghiệp của y, Doc Stacher, bình luận về tuyên bố “lịch sử’ này “Không quan trọng nếu tổ chức tên là Cosa Nostra, Unione Siciliana hay Kosher Connection. Tên gọi tự nó không có giá trị gì cả. Chúng tôi có mục đích khác: xây dựng và phát triển kinh doanh thương mại”.

    Một trong người hoạt động của kinh doanh loại này là mãi dâm có tổ chức và nhiều khi bắt buộc. Có thời nó còn là “ngành công nghiệp” có lời nhất. Khi đến Chicago, thủ đô tội ác lúc bấy giờ, mặc dù còn trẻ, Al Capone đã sẵn sàng làm tất cả mọi chuyện. Ban đầu y đầu tư vào buôn bán rượu lậu. Sau đó y mở rộng địa bàn kinh doanh sang mạng lưới nhà thổ đang “phất”. Lucky Luciano biết điều đó, y là bạn thân của Al Capone mà. Trong lần viếng thăm Chicago, y đã được đón tiếp linh đình.

    Lần đó Meyer Lansky cũng được mời. Al Capone đón tiếp bọn này như các nguyên thủ quốc gia. Đe chào mừng chúng, nhưng chủ yếu là để biểu dương sức mạnh và quyền lực, y triệu tập các sếp mafia địa phương từ tất cả các thành phố và đặt cho bọn này những căn phòng đắt tiền trong những khách sạn sang trọng nhất Chicago. Chúng sống trong các khách sạn “Blackstone” và “Congress”, và có hàng chục tên vệ sĩ bảo đảm an ninh. Đó là lần gặp mặt đầy đủ nhất các đại diện của thế giới ngầm Hoa Kỳ: ở đây tập trung găngxtơ từ tất cả các nhóm dân tộc khác nhau, người Thiên chúa giáo. Tin lành, người da đen từ Pooctôri và cả những tên găngxtơ tập sự từ châu Mỹ La tinh cũng tới dự. Tất nhiên không thể thiếu người trùm tội ác như Dutch Schultz, Moe Dalitz và Bugsy Siegel.

    Đó là tính họa thế giới ngầm. Những tên nhỏ hơn và lính trơn thì phải làm những việc vất vả. Giá công gây lộn là hai đôla, biêu đầu sứt trán bcm đô, giập lá mía mười đô, đánh nhừ tử mười lăm đô, cắt một tai cũng chỉ nhận được mười lăm đô, bẻ gãỵ chân hay tay chỉ có mười chín đôla, đâm hay bắn vào chân hai lăm đô, thủ tiêu đối phương 100 đôla. Giá thấp nhất ở các nhà thổ ngoại ô là một đôla, ở những thanh lâu chất lượng cho các tầng lốp trên thì khách hàng phải trả giá tới 50 đôla hay nhiều hơn nữa. Đó là những công ty “dịch vụ” trang bị tôn kém nhưng hấp dẫn với hệ thống cửa ra vào màu sắc phong phú. Đứng ở cửa là người thường trực chỉnh tề trong bộ đồng phục đen ngù vàng, bên cạnh ý là một “trật tự viên”. Đấy không phải là chức vụ thấp hèn. Ngay cả Al Capone cũng bắt đầu ở New York như một “trật tự viên”. Bên trong bốn phía tường giát gỗ đào, trên trần đèn chùm pha lê lấp lánh, lộng lẫy, ghế bành da trong phòng tiếp khách, bàn con với đèn nhỏ ánh sáng mờ ảo ở quầy rượu, dàn nhạc hạng một chơi những bài du dương gợi cảm. Phần chính của quán rượu là một bar rộng lớn. Ngồi trên những ghế cao là những người đàn bà bán thân mình, như vậy họ có điều kiện khoe cặp chân dài. Họ hút thuốc màu kẹp trong những ngón tay dài loè loẹt và quyến rũ khách chơi bằng những cái nhìn mời mọc.

    Ngồi thu tiền trên hành lang dẫn đến các phòng “tiếp khách” là một mụ tú bà. Nếu khách hàng nào không thèm puôc-boa vào tiền công thì chưa hết thời gian quy định, mụ đã đến tống cổ y ra kèm theo những lời chửi rủa tục tằn. Những người “làm công” chỉ nhận được một phần rất nhỏ trong số tiền thu được, thậm chí có khi chỉ là của bố thí. Vì vậy, và cũng vì bị bắt buộc “hành nghề”, họ được gọi là “nô lệ trắng”.

    Mãi đâm có tổ chức là một trong những lĩnh vực kinh doanh bất hợp pháp của găngxtơ và mafia. Lucky Luciano trở thành vua của các nhà thổ ở Mỹ và những “nô lệ trắng” là nguyên nhân thất bại của y. Bởi vậy, ta hãy xem qua một sốvụ có ghi trong tài liệu của John Kobler.

    ở Chicago, tại góc phố’ Mười Chín và đại lộ Armour Avenue là một dãy nhà rẻ tiền “Red Bug Row”, tất cả đều là nhà chứa với gái làm tiền da đen. Đấy là “dịch vụ” rẻ nhất loại này, vé vào cửa chỉ có hai mươi lăm xen. Liền đó, phía đổi diện là công ty “Bucket of blood”, một tổ hợp phòng khách với thanh lâu, vài bước nữa trên phố Dearborn Street là “hãng” “California”. Công ty này nổi tiếng thế giối bằng” cải cách” mạnh dạn của mình: ngay từ những năm hai mươi, những người đàn bà bán mình đã ngồi trong tủ kính trưng bày, mặc đồ trong suốt và bằng những cử động khêu gợi, họ quyến rũ khách qua đường.

    Những mụ tú bà ban đầu cũng là gái mại dâm. Ada và Mind Everleigh cũng vậy. Nhưng sau năm tháng làm công, từ “nô lệ trắng” chúng trở thành chủ nô. Bắt đầu bằng nhà chứa lưu động, chúng tiến tới làrti chủ một thanh lâu lớn nhất Chicago, một tòa nhà ba tầng hiện đại với đầy đủ tiện nghi. Phòng tiếp khách được trang trí bằng những cây lá lạ mắt, thấp thoáng giữa những khóm dừa cảnh là các tượng đài cẩm thạch. Bên cầu thang bằng gỗ đào hồng tâm là bà chủ nhà, ăn mặc không chê vào đâu được, đứng tiếp khách. Một thiếu nữ xinh xắn, đội mũ trắng và mặc váy viền đăng ten, dẫn khách lên các tầng trên. Trên đó là những xalông với sàn gỗ bóng lộn, thảm trang trí Phương Đông sặc sỡ và đồ gỗ kiểu cách. Ghê bành là trang bị quan trọng nhất. Rộng thoải mái và êm như bông. Các nhạc công piano chơi những bản nhạc êm dịu. Ada và Mina chỉ tuyển dụng những đầu bếp, hầu bàn hạng một, thìa dĩa đều bằng vàng hoặc bạc, dĩa sứ Trung Quốc, cốc pha lê mài. “Phòng” làm việc của “nữ nhân viên” cũng rất kiểu cách và phong phú: kiểu Nhật và Thổ Nhĩ Kỳ, kiểu Rôma và A Rập, trong tất cả các phòng đều. có những vòi phun nhỏ phun nước hoa ra bốn phía. Bữa ăn tôi có rượu giá năm mươi đôla, trong những năm hai mươi như vậy là quá nhiều. Còn mỗi cô gái làm tiền thì tùy theo chất lượng, giá từ mười tối năm mươi đôla. Mỗi đêm, những mụ tú bà thu tối hơn 2500 đôla. ở Chicago, trong những năm hai mươi, thu nhập của những chủ nhà chứa lên tỏi 60 triệu một năm với hơn 15 triệu đôla tiền lãi. Đó là tiền lời của hơn một nghìn thanh lâu lớn nhỏ, trong đó hơn năm nghìn phụ nữ “làm việc” ngày đêm. Ngoài ra, ở Chicago còn có hàng nghìn gái làm tiền nghiệp dư và callgirls- gái làm tiền được đặt hàng tối tận nhà bằng điện thoại, cũng thu nhập tối mười triệu đôla hàng năm.

    Lucky Luciano, những mụ tú bà và những kẻ giúp việc cho chúng đã phạm một tội ác không thể tha thứ, chống nhân phẩm con người. Bỏi vì nhiều cô gái đã không chịu làm việc một cách tự nguyện. Chủ các thanh lâu không khi nào có đủ người làm việc, do vậy, chúng phải tuyển dụng nhân công với mọi giá. Chủ nô nổi tiếng nhất lúc bấy giờ là Mary Hastings. Mụ đi khắp Hoa Kỳ và lừa gạt các thôn nữ xinh xắn từ mười ba đến mười bảy tuổi Mụ kể về cuộc sống hấp dẫn ở các thành phố lớn, hứa với họ chỗ làm tốt và một tương lai huy hoàng, nhưng mụ lại dẫn họ đến tòa nhà ba tầng của thanh lâu trên quảng trường Custom House Place.

    Những cô gái đáng thương này bị lột trần truồng và nhốt trong một chỗ trên tầng ba. Sau đó tới lượt những tên “dạy nghề”. Chúng cưỡng hiếp các cô gái và truyền cho các các “thủ thuật” hành nghề. Doạ nạt, đánh dập, bỏ đói và sau đó ma túy, đó là người phương tiện “giáo dục”. Một số cô gái thành nghề được Mary hasting giữ lại thanh lâu của mình, còn đa số mụ bán lại cho đồng nghiệp với giá từ năm mươi tới ba trăm đôla tuỳ theo nhan sắc và tuổi tác. Một trong những cô gái bị bóc lột đã ném được xuống đường mẩu giấy với tiếng kêu thất vọng: Họ giữ tôi ở đây như một nô lệ trắng! Một người đi đường đã mang mảnh giấy đến trình cảnh sát, và trong biên bản tòa án xử Mary Hastings, lần đầu tiên xuất hiện tên gọi “nô lệ trắng”. Và Người phụ nữ nô lệ này, tưởng như đã mất hết tinh thần và ý chí, đã đưa được “ngài chủ nô” Lucky Luciano ra trước vành móng ngựa và cuối cùng phải vào tù.

    Tạm thời y đang đứng trên đỉnh cao danh vọng. Tuy vậy, hàng triệu đôla thu nhập bất chính đã không làm y thỏa mãn, y khao khát một địa vị xã hội và quyền lực tương ứng. Dưới cái tên Charles Ross, y chuyển tới khách sạn sang trọng “Waldorf- Astoria”, Ăn, hít và làm tình vô độ, y bảy lần bị lậu và một lần bị giang mai. Cuối cùng, nghe đâu ghê tởm đồng tiền dơ dáy từ các nhà thổ, y muốn bán chúng đi. Rõ ràng đầy là một quảng cáo hòng chiếm cảm tình dư luận.

    Sau đó y đến ở trong tòa nhà đẹp nhất New York “Ritz Towers”. Y ăn mặc như chủ nhà băng, giao du với những nhân vật nổi tiếng và thích thú khi báo chí viết về mình. Giông như Al Capone, Luciano cũng rất háo danh và điều đó đã làm hại y.

    Tạm thời triều đình của y đang hưng thịnh, Lucky Luciano, chủ tịch hiệp hội,là người tổ chức giỏi, một thương gia cừ khôi. Phó chủ tịch và Vito Costello là thứ trưởng thương mại, phụ trách xổ số và các trò chơi bất hợp pháp. Y quản lý các máy chơi tự động, các cuộc đua ngựa và đua chó, y độc quyền tổ chức và điều hành các văn phòng xổ số ở Floriada. Dandy Phil là tỉnh trưởng chỉ huy thế giới ngầm ở Louisiana, Joe Adois chịu trách nhiệm kho tàng và xưởng tàu ở cảng New York. Ngoài ra, y còn là “uỷ viên chính phủ” phụ trách các quan hệ xã hội và chính trị, và y cũng là sếp của hãng giết thuê Murder Inc. Albert Anastasia chỉ huy vùng bờ biển Brookly, ngoài ra y còn là chỉ huy trực tiếp đội hành quyết của Murder Inc, Meyer Lansky, một chính khách đa mưu túc kế và là cố vấn thản cận nhất của Luciano. Tên đồ tể Bugsy Siegel phụ trách các sòng bạc, đặc biệt ở bò biển phía tây và ở La Habana. “Bộ trưởng” Louis Lepke Bachalter chịu trách nhiệm nhiều ngành công nghiệp khác nhau: thực phẩm, đồ da, dệt và may mặc, điện ảnh và giao thông. Ngoài ra, y còn nắm cả công đoàn và là trưởng ban thu nhận “lệ phí an toàn”. Dutch Schultz là con cừu đen của hiệp hội tội ác. Y không nằm hoàn toàn trong hội và có những kinh doanh riêng của mình, tuy nhiên y cũng là “thứ trưởng” phụ trách công nghiệp thịt các nhà hàng và hộp đêm ở vùng New York và New Jersey.

    Lucky Luciano trở thành “bố già” quyền lực vô biên và một thời gian dài mọi việc đều trôi chảy. Y có hàng triệu đôla, có quen biết đáng kể, có địa. vị xã hội, thậm chí chính trị nữa. Nhưng cũng có kể thù mà y không hề hay biết. Người đó tên là Thomas E.Dewey. Ông ta là đặc phái viên chính phủ tại khu vực nam New York và đang chuẩn bị một cuộc thập tự chinh chống tổ chức tội ác. Ông ta biết về hiệp hội tội ác, hầu như tất cả, khá đủ, để bắt đầu một đòn hiệu giả.

    CUỘC THẬP TỰ CHINH CHỐNG TỘI ÁC
    Bước vào Nhà Trắng, Tổng thống Roosevelt đã làm cho những tên găngxtơ thất vọng. Ký lệnh bãi bỏ việc cấm rượu, ông ta đã làm mất đi một nguồn thu nhập đáng kể của các băng găngxtơ, hơn nữa ông ta còn tỏ rõ quyết tâm, bằng mọi phương tiện, tiêu diệt tổ chức tội ác.

    Thoma E.Dewey đặc phái viên chính phủ ở vùng nam New York. Ông ta là một luật sư trẻ, đầy tham vọng. Thành tích đầu tiên của ông ta bắt tên tội phạm Waxey Gordon, bị các nhà báo coi là một bước mạo hiểm, vì hiệp hội tội ác không thể bỏ qua cho ông chuyện này. Không mảy may lo sợ, Dewey tuyên bố công khai là sẽ tiễu trừ từng sếp mafia một. Lần này đến lượt Dutch Schultz, chiến hữu của Luciano.

    Schultz là một tên tội phạm tay nghề cao. Tuy học nghề cò bạc, y là thành viên của một băng cướp. Khi còn ở tuổi thiếu niên. Y tham gia các vụ trấn lột, cạy ké và cả giết người. Thích ăn mảnh, y không muốn hoàn toàn tuân theo những nguyên tắc mới do Luciano đề ra. Dutch Schultz sinh ra ở Bronx. Từ nhỏ y đã là một đứa trẻ lập dị. Khi mà hiệp hội tội ác đã biến đổi thành một tổ hợp thương mại bất hợp pháp thì y vẫn tiếp tục làm ăn bằng cách tống tiền. Y đi đến nhà hàng cho gọi chủ quán và thông báo một cách bình thản nhưng cương quyết, thời, hạn và sôlượng tiền mà chủ quán phải nộp, nếu ông ta không muốn những tên du con lạ mặt đổ các hóa chất hôi thối vào thức ăn, nếu ông ta không muốn quán ăn của mình bay lên trời, hoặc thậm chí, nếu ông ta không muốn rời bỏ thiên đường trần gian này một cách tự nguyện. Cuối cùng tất cả các chủ quán ở New York, New Jersey và các bang lân cận phải trả “lệ phí an toàn” cho y.

    Y tên thực là Arthur Flegenheimer và là một trong những tên găngxtơ Do Thái thông minh nhất. Lần đầu tiên y phải vào tù khi mới 17 tuổi, sau đó y đã tỏ ra thận trọng. Y không kết bạn với bất kỳ một ai và chuyên đi làm ăn một mình, có thể vì vậy mà thu nhập của y lên tối hàng triệu mỗi năm. Cánh tay phải của y là Joe Ras. Đây cũng là một găngxtơ có hạng. Y có những quen biết trong chính phủ và là thành viên của câu lạc bộ “Tammany Hall” của đảng Dân chủ, nổi tiếng bởi những vụ biển lận.

    Trò chơi “policy” cũng tương tự như những trò chơi xổ số khác. Ba trong 100 số được rút ra từ hộp kín, ai đặt tiền và đoán đúng tất cả ba số được ăn 60% số tiền đặt. Từ những người dân da đen ở các đảo vùng Caribê, trò chơi này đã lan truyền ra khắp nước Mỹ vào đầu thế kỷ này. Ở Mỹ, các trò trơi cò bạc bị cấm và mặc dù “policy” cũng thuộc vào loại những trò chơi này, dưới mọi hình thức nó vẫn được, lưu hành cho tới ngày nay. Đây là trò chơi cho tất cả mọi người giàu cũng như nghèo, số tiền đặt thấp nhất là năm xen. Nó được thịnh hành nhất trong tầng lớp nghèo nhất ở các khu da đen New York. Chỉ với năm xen, một người thấp nghiệp mua một hy vọng trong vài tiếng đồng hồ, rằng tối nay mình sẽ trở thành người giàu có, “Poliocy” là một áp phe khổng lồ. Dutch Schltz trở thành chủ nhân của “mỏ vàng” này với tổng số doanh thu hàng năm lên tới 300 triệu đôla.

    Y đi đến ngôi bá chủ không phải bằng con đường hợp pháp. Trước hết, y phải gạt bỏ chủ nhân trước là người da đen Casper Hollstein. Người này đưa trò chơi vào Hoa Kỳ và nắm vững chắc trong tay một mạng lưới gồm hàng nghìn người thu tiền, kiểm soát viên, liên lạc và kế toán. Schultz cho bắt cóc Hollstein. Y đòi năm mươi ngàn đôla tiền chuộc. Bỗng nhiên y có 50 ngàn, hơn thế nữa y còn khủng bố được tinh thần Hollstein. Vì quá khiếp sợ, người này •đã phải chuyển xuống phía nam và sông ở đó cho đến hết đời trong im lặng. Hollstein chết năm 1941.

    Schultz chiến thắng, y tiếp nhận cả một hệ thông sòng bạc với nhân viên của nó và tự xưng là chủ tịch của hội. Y chỉ định các giám đốc địa phương, thẩm tra lại các trưởng phòng trong toàn nước Mỹ, thiết lập những văn phòng mới và ngân hàng riêng để xử lý hàng triệu đô la doanh thu mỗi ngày.

    Đây là tổ chức bất hợp pháp khổng lồ với hàng ngàn nhân viên. Những người này cũng được bảo hiểm, nếu chẳng may họ lọt vào tay cảnh sát và phải ngồi tù một thời gian thì họ vẫn được lĩnh nguyên lương cho tối khi đi “làm” lại. Schultz lo việc hối hộ dự thẩm, cảnh sát. Y lấy quĩ của hội để nộp tiền bảo lãnh và thưởng cho các luật sư bào chữ. Tồn tại một hệ thông phức tạp để trao đổi kết quả xổ số nếu chẳng may có ai đó thắng được một số tiền lớn. Nhiều người biết điều đó nhưng họ vẫn tiếp tục chơi. Mất mát thì tôi thiểu không có gì mạo hiểm mà hy vọng lại lớn. Cảnh sát bất lực. Hầu hết các chỉ huy cảnh sát lĩnh tiền hối lộ hằng tháng, nhân viên bình thường cũng nhận “lương” tháng hay “tiền thưởng”.

    Nhưng chiến dịch chống tổ chức tội ác đã bắt đầu. Ở Chicago, các nhân viên FBI đã quyết định tiêu diệt vua thế giới ngầm Al Capone. Y phải ra tòa vì tội trôn thuế và đến “ở” trong nhà đá trên đảo Alcatraz. Số phận tương tự đang chờ Schultz ở New York. Y đánh hơi thấy nguy hiểm và quyết định dọn bãi vì “trong 36 chước”, chước chuồn là hơn” Như những triệu phú khác, y du lịch vòng quanh thế giới. Y xuất hiện trên các bãi biển có tiếng. Một thời gian, y sông ở Acapulku, sau đó y .lại đi tiếp. Y tạm thời bàn giao việc điều hành công ty cho chiến hữu là Bo Weinberg. Còn các đồng nghiệp găngxtơ thì rình thời cơ thuận lợi để chiếm đoạt gia tài đồ sộ của y.

    Nhiệm vụ của Weinberg quả là không dễ dàng chút nào. Đôi thủ quá mạnh: Luciano và hiệp hội tội

    ác của y. Đầu tiên chúng chiếm đoạt một phần các nhân viên chuyên đi thu tiền đặt. Sau khi bị mất luôn nguồn thu nhập từ các các chủ quán ăn. Wienberg nhận được tối hậu thư. Chống lại ưu thế của đối phương. Weinberg không có một mảy may hy vọng. Thế là y đầu hàng và nộp cho hiệp hội tội ác tất cả mạng lưới xổ số “policy” bất hợp páp. Đây là một thất bại lớn và Weinberg đã phải trả giá đắt cho nó.

    Cảnh sát tăng cường việc lùng bắt Schultz. Trên tường nhà các thành phố ở Mỹ xuất hiện 50 ngàn lệnh truy nã. Tên găngxtơ chạy trốn, nhưng y không đầu hàng, y có khá nhiều chỗ quen biết có thế lực bị y hôì lộ, và tin rằng họ sẽ lôi y ra khỏi .nguy hiểm. Thế là xuất hiện một người lạ mặt ở sở cảnh sát. Từ chối khai tên và chỗ ở, nhưng y mang đến một: tin nhắn: Dutchz sẵn sàng trả 100 ngàn đô la : (thời đó, đây là khoản tiền lớn hơn một triệu bây giờ, nếu cảnh sát ngừng quấy rầy y. Số tiền này sẽ được trao một lần cho nhân viên thu thuế. Đề nghị được chuyển tối tận bàn làm việc của bộ trưởng tài chính Morgenthau. Tất nhiên là bộ trưởng không có ý kiến gì cả. Dutch Schultz hiểu y không có hy vọng trôn thoát. Bởi vậy, y phải thay đổi chiến thuật.

    Ở New York có nhiều nhân viên cảnh sát cao cấp mà bằng hăm dọa, y có thể bắt họ phải giúp y.Thế là y xuất hiện ở sở cảnh sát và làm như không biết chuyện gì cả. Người ta bắt y, đọc cho y nghe lời buộc tội. Lưật sư bào chữa nộp tiền bảo lãnh và người khác lo chạy

    sao cho y không bị xử ở New York mà là ở Syracuss. ở đó dù sao Schultz cũng còn có cơ hội lớn hơn là sẽ thoát khỏi vụ này với một hình phạt có thể chấp nhận được. Thế là cả hiệp hội tội ác chuyển động. Găngxtơ hối lộ, hăm dọa các dự thẩm viên, dọa nạt hoặc hứa hẹn với các nhân chứng, chúng còn “lưu ý” để các tài liệu buộc tội “không cánh mà bay”. Trong khi đó, Schultz ra sức tranh thủ cảm tình dư luận. Y biếu một số lớn tiền cho các hội từ thiện. Y tuồn được vào báo chí các bài báo ca ngợi y như là một công dân Mỹ thành đạt: từ hai bàn tay trắng, y đã làm nên sự nghiệp, y mang lại công ăn việc làm cho hàng trăm người và xổ số bất hợp pháp, xét cho cùng, là một ngành kinh doanh từ thiện, vô tội, y có cướp của ai đâu, ai trúng số thì nhận được tiền ngay ngày hôm ấy cơ mà.

    Schultz tổ chức mít tinh, bày tiệc chiêu đãi các chính trị gia thế lực và các ký giả. Y trả tiền trước để cho bất cứ ai cũng có thể uống chúc sức khoẻ của y trong bất cứ quán bia, nào trong thành phố. Y bị ra trước tòa và hội đồng dự thẩm đã giải thoát cho y. Nhưng uỷ viên công tố Dewey không nhụt chí trong việc cố gắng đưa tên găngxtơ nguy hiểm vào sau song sắt nhà tù. Vụ án mới được tiến hành ở thành phố nhỏ, mãi tận biên giới Canada. Ở đây, y cũng được tòa tha bổng. Nhưng Lucky Luciano không phải là kẻ thương người và Schultz đã phải trả giá đắt cho những cuộc đàm phán hậu trường nhằm giải thoát cho y. Quả là hiệp hội có cấp cho Schultz một lợi tức đến hết đời nhưng y phải trao tất cả các cơ sở làm ăn của mình cho tổ chức tội ác.

    Bị ép đến tận chân tường như vậy nhưng Schultz vẫn không chịu đầu hàng. Y đã phạm sai lầm khó hiểu đầu tiên là phản bội tín ngưỡng Do Thái và xin nhập đạo Thiên chúa. Găngxtơ Do Thái coi đây là một sự phản bội và đã kết án hắn. Y lại phạm sai lầm thứ hai khi y buộc tội biển thủ cho phó sếp của mình là Abraham Bo Weinberg. Y tuyên bố công khai rằng Weinberg đã lợi dụng tình hình “đục nước béo cò”, phản lại sếp và chiếm đoạt gia tài của y, rằng Weinbrg đã bật đèn xanh cho đối phương thôn tính vương quốc của y. Y nêu tên tội phạm: Lucky Lucianò, Meyer Lansky, Bugsy Siegel. Hơn thế nữa, y còn tuyên bố rằng y sẽ khai tất cả những gì y biết, nếu y bị công tố uỷ viên Dewey đưa vào sau song sắt nhà đá. Đó là sai lầm cuối cùng: Ai vi phạm luật im lặng, người đó phải chết. Dutch Schultz đã tự ký vào bản án tử hình y.

    Phái viên chính phủ Dewey, saụ một thời gian làm việc khác, nay trở lại cơ quan và hợp tác với thống đốc New York Fiorello La Guardia. Ông này, trong đợt vận động tranh cử, đã hứa với cử tri là sẽ trừng phạt mọi tội ác và sẽ tống cô những tên găngxtơ nguy hiểm vào nhà đá. Ông ta quyết tâm thực hiện lời hứa của mình. Ông cũng mở đầu chiến dịch chống nạn thajn nhũng. Giám đốc cảnh sát Lewis J.Valentine đã nhận lệnh bắt đầu cuộc tiến công.

    Trong khi đó Schultz thuê người giết Bo Weinbrg và xác chết sau khi chân bị đổ bê tông, được vứt xuống đáy sông Hudson. Đồng thời cảnh sát cũng thu được những bằng chứng về vụ sát hại một trong các vệ sĩ của Schultz. Nếu như tòa kết tội y về vụ này thì ít nhất y cũng bị mấy năm tù giam, cảm thấy nguy hiểm đang tối gần, và mặc dù quan hệ của y với lãnh đạo hiệp hội tội ác không hữu hảo cho lắm, y cũng đề nghị triệu tập hội đồng lãnh đạo.

    - Dewey quả là khó chịu, thưa các ngài, y tuyên bố- Bây giờ là tôi, nhưng rồi sẽ đến lượt các ngài. Nếu chúng ta khoanh tay, hắn sẽ tóm hết chúng ta, người này sau người kia. Chúng ta phải khử ngay hắn. Không có sự lựa chọn khác.

    Người ủng hộ, kẻ phản đối, một số biết điều thì lưu ý cả bọn sự phản ứng của cảnh sát. Nếu xảy ra vụ ám sát, chứng khó lòng tránh khỏi đòn trả thù, cuối cùng, chúng nhất trí với chiến thuật “án binh bất động”. Rõ ràng là không ai muốn mạo hiểm vì Schultz.

    Mặc dù vậy, để chắc chắn, Murder Inc tiến hành chuẩn bị ám sát uỷ viên công tố Dewey. Anastasia dự thảo phương án, những tên giết thuê khác theo dõi ngài phái viên chính phủ. Chúng đã điều tra được các cảnh sát viên, trong những bộ đồ dân sự, bảo vệ Dewey rất kỹ. Hầu như ông ta không ra khỏi nhà, tuy nhiên ông đi ăn trưa rất đều đặn tại một cửa hiệu nhỏ. Ở đây ông ăn một chút gì đó, uống nước, rồi ra nhà vệ sinh. Đấy là cơ hội cho những tên giết người. Anastasia đã đề nghị phương án sau: các tay súng sẽ giấu mình trong các ca bin của nhà vệ sinh. Lúc các bảo vệ của Dewey đang ngồi trong quán, chúng sẽ bắn uỷ viên công tố bằng súng lục giảm thanh và sẽ có đủ thời gian để tẩu thoát.

    Nhưng Thomas E.Dewey không bị ám sát, vĩ găngxtơ quyết định một giải pháp khác. Duteh Schultz không biết điều bất lợi này. Đôi với “hội nghị tôi cao” mafia và giới lãnh đạo của nó, y đã cư xử một cách vô lễ và rất không thận trọng. Một lần nữa y đứng lên, phát biểu trước hội đồng tôi cao mafia, một lần nữa y nhấn mạnh nguy hiểm từ phía công tố uỷ viên Dewey, và khi không thuyết phục được đồng bọn, y giận dữ, hai tay đút túi, nhổ vào mặt chúng:

    - Đồ hèn nhát. Các anh không muốn bị ướt tay. Được các anh muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, tôi sẽ một mình thanh toán chuyện này với hắn. Tôi sẽ chịu trách nhiệm về ngài Dewey.

    Y không linh cảm thấy rằng đồng bọn dửng dưng trước những lời khiển trách của y. Y không thể biết rằng sẽ chẳng bao giờ y có cơ hội để nổ súng.

    - Tất cả đều đồng ý với quyết định đó?

    - Về việc vô hiệu hóa Schultz thì nhất trí 100% -sau này, một thành viên của hội đồng mafia. Doc Stacher, nói lại.

    - Các anh đã kết án tử hình y?

    - Tôi không nói như thế. Nghe không hay lắm. Tất cả đều hiểu rằng không thể để Dewey bắt

    Schultz. Sckulzt không được phép nói, vì vậy phải có người khóa mõm nó một cách kịp thời.

    - Như vậy đó chẳng phải là bản án tử hình sao?

    - Quan điểm của chúng tôi là một con voi điên sẽ nguy hiểm cho cả đàn.

    - Ai phải thi hành bản án?

    - Ban đầu là Anastasia

    - Sau đó các anh thay đổi quyết định?

    - ừ. Chúng tôi bàn với nhau: việc gì phải bẩn tay, hãy để cho bạn bè Do Thái của nó giải quyết việc này. Quả là nó mới nhập đạo. Thiên chúa đấy, nhưng có lẽ đầu óc nó lúc đấy mụ mẫn cả rồi.

    - Thế thì ai?

    - Có người đề nghị Bugsy Siegel. Cũng là tay súng tin tưởng. Nhưng ở đây có một vấn đề khó xử.

    - Vấn đề gì?

    - Vệ sĩ của Schultz tất nhiên cũng là người Do Thái và một đứa trong bọn, Otto Abbadabba Berman, thậm chí còn là bạn của Bugsy Siegel.

    - Bugsy Siegel từ chối?

    - Không, nhưng tất cả hiểu rằng, y không muốn và thế là cuối cùng sếp chọn Charlia Workman tức

    con rệp .

    - Tại sao lại chính là hắn?

    - Nó cũng lại chính là hắn?

    - Nó cũng cẩn thận và máu lạnh như Anastasia và là người của chúng tôi. Vì thế chúng tôi báo cho nó biết quyết định này.

    - Hắn không phản đổi?

    - Tại sao? Xin lỗi các ngài. Đó là một vinh dự cho nó. Chúng tôi cho xe đi trước, sau hai tiếng nó đến và nhận lời?

    - Anh cũng có mặt lúc đó, Stacher?

    - Không. Tôi được nghe kể lại. Chả là sau này người ta bận tán nhiều về chuyện này.

    - Anh còn nhớ đến thế cơ à? Dù sao thì cũng đã bao nhiêu năm rồi.

    - Các ngài coi tôi là người thế nào? Tất nhiên là tôi nhớ. Các ngài có biết, tôi kể lại chuyện này cho báo chí bao nhiêu lần rồi không? Thế thì các ngài hãy nghe đây, hay viết cũng được. Hôm đó là ngày 23 tháng 10 năm 1935. Cũng như mọi lần, chúng sử dụng .xe hòm đen, giống như xe cảnh sát. Chúng đến Newark lúc'-mặt trời đã lặn.

    - Dưới Hudson? Đường ngầm Holland?

    - Ngài thông thuộc đằng ấy?

    - Tôi có đến đó. Ai ở trong xe?

    - Charlie Wprpman, Mendy Weiss và một tay nữa không ai biết hắn cả. cả đời tôi chưa bao giờ nghe tên hắn.

    - Người ta gọi hắn là Piggy.

    - Làm thế nào ngài biết được?

    - Tôi quan tâm tối vụ này.

    - Nhưng tại sao ngài lại hỏi tôi?

    - Tôi muốn biết nhiều hơn những cái đã biết. Nếu được thì anh hãy nói tất cả.
  • Chia sẻ trang này