05. chương 5 (done)

19/7/15
05. chương 5 (done)
  • Chương 5 Sự thật về nợ quốc gia về lạm phát

    KHI TỔNG THỐNG George W. Bush mãn nhiệm vào ngày 20 tháng 1 năm 2009, con số nợ của chính phủ Mỹ là 9,2 nghìn tỷ USD, tương đương với khoảng 70% tổng sản phẩm quốc dân. Một vài người bày tỏ nỗi lo ngại rằng đất nước sẽ bị phá sản nếu chính phủ tiếp tục chi nhiều hơn số thuế thu được.

    Nợ quốc gia có lớn quá không?

    Ngay từ năm 1790, nước Mỹ mới thành lập đã có nợ quốc gia vào khoảng 75 triệu USD khi chính phủ Mỹ tiếp quản số nợ phát sinh trong cuộc Chiến tranh giành độc lập. Trừ một khoảng thời gian ngắn trong thập niên 1830 khi nợ chính phủ giảm xuống bằng không, còn lại chính phủ Mỹ luôn luôn mắc nợ. Trong Thế chiến thứ nhất, nợ quốc gia đã tăng rất nhanh, từ 1,2 tỷ USD năm 1916 lên 25,4 tỷ USD năm 1919.

    “Thập niên hai mươi bùng nổ” thịnh vượng đã chứng kiến nợ quốc gia giảm xuống. Đến năm 1929, tổng nợ chỉ còn 16,9 tỷ USD, tương đương 16% GDP. Nợ chính phủ liên bang giảm là nhờ chính phủ chi ít hơn so với tổng số thuế thu được một số tiền là 5,8 tỷ USD trong khoảng thời gian 1919-1929. Nói cách khác, trong gần như toàn bộ thập niên 1920, tiết kiệm của chính phủ liên bang đã tăng lên đáng kể. Nhưng nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng và thịnh vượng. Thực tế này cho thấy nếu và khi khu vực tư nhân chi tiêu đủ nhiều để mua phần lớn sản phẩm của các ngành sản xuất thì chính phủ không cần phải thực hiện chính sách chi tiêu thâm hụt ngân sách chỉ để duy trì một nền kinh tế giàu mạnh.

    Tuy nhiên, từ năm 1929, tổng chi tiêu của khu vực tư nhân lại đột ngột giảm và cuộc Đại Khủng hoảng bắt đầu diễn ra. Vì doanh số bán hàng hóa và dịch vụ sụt giảm nên các công ty không còn kiếm được lợi nhuận và thất nghiệp tăng rất nhanh. Thu nhập của các hộ gia đình giảm. Kết quả là số thuế thu được giảm từ 4 tỷ USD năm 1930 xuống còn chưa đến 2 tỷ USD năm 1932. Khi Roosevelt nhậm chức tổng thống vào tháng 3 năm 1933, nợ quốc gia đã lên tới gần 20 tỷ USD, xấp xỉ 20% GDP của Mỹ vào thời điểm đó.

    Như đã nói trong chương 2, chính phủ của Roosevelt trải qua nhiệm kỳ đầu tiên với thâm hụt ngân sách hàng năm rất lớn. Đến năm 1936, nợ quốc gia đã tăng lên tới 33,7 tỷ USD, tương đương khoảng 40% GDP. Rất nhiều "chuyên gia” thời đó cho rằng đất nước sẽ phải đối mặt với thảm họa nếu tiếp tục chi tiêu thâm hụt ngân sách như vậy. Do đó, Roosevelt đã cắt giảm chi tiêu chính phủ trong năm tài khóa 1937. Nền kinh tế ngay lập tức rơi vào suy thoái mạnh mẽ. Chính phủ đã phải phục hồi chính sách chi tiêu thâm hụt lớn vào năm 1938. Tính đến năm 1940, nền kinh tế đã tăng trưởng đáng kể trong khi nợ quốc gia lên tới 43 tỷ USD, tức là vào khoảng 44% GDP.



    Khi Mỹ tham chiến vào năm 1941, nỗi lo ngại về thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia đã bị lãng quên. Trong giai đoạn 1941-1945, GDP tăng hơn gấp đôi, còn nợ quốc gia tăng hơn 500%. Đến cuối năm 1945, nợ quốc gia đã tương đương với 119% GDP. Khi chiến tranh chấm dứt, đất nước không những không phá sản mà con số nợ quốc gia khổng lồ này còn đem lại thịnh vượng cho nền kinh tế. Vào năm 1946, một hộ gia đình Mỹ trung bình có đời sống kinh tế tốt hơn nhiều so với thời kỳ trước chiến tranh. Hơn nữa, con cháu của những người sống trong thời kỳ Đại Khủng hoảng - Thế chiến thứ hai vẫn chưa phải trả gánh nặng nợ quốc gia khổng lồ kia. Ngược lại, trong 25 năm tiếp theo, nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng và thịnh vượng chưa từng thấy. Cùng lúc đó, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã được thu hẹp đáng kể. Đây là thời đại hoàng kim cho sự phát triển kinh tế của nước Mỹ.

    Hồi khủng hoảng kinh tế thì tôi còn nhỏ, đến Thế chiến thứ hai thì ở tuổi thiếu niên, tôi chưa bao giờ cảm thấy gánh nặng thâm hụt ngân sách dồn lại do chính phủ chi tiêu nhiều trong thời kỳ Đại Khủng hoảng và thời kỳ chiến tranh tiếp sau đó. Di sản mà thế hệ vĩ đại, những người sống trong thời kỳ khủng hoảng và Thế chiến thứ hai để lại cho con cháu là một nền kinh tế dư dả và giàu có. Tôi được thừa hưởng một nền kinh tế cho phép tôi và những người cùng thời dễ dàng tìm được việc làm tốt, đồng thời có cơ hội tuyệt vời để nâng cao mức sống của mình. Nếu đây là gánh nặng mà con cháu phải gánh chịu thì tôi hy vọng thế hệ hiện tại cũng tạo ra được “gánh nặng" đó cho các thế hệ mai sau.

    Bài học từ lịch sử của nợ quốc gia đối với nền kinh tế trong suốt thời kỳ Đại Khủng hoảng và Thế chiến thứ hai là chúng ta không phải lo ngại gì về thâm hụt ngân sách lớn nếu chính phủ là người chi tiêu duy nhất có thể hoàn thành trách nhiệm tăng cầu thị trường đối với sản phẩm của các ngành công nghiệp lên đủ lớn, qua đó duy trì được hệ thống kinh tế sinh lợi nhuận của chúng ta. Đối với chính phủ, chi tiêu ít hơn với hy vọng giảm quy mô nợ quốc gia có nghĩa là làm cho cầu thị trường giảm xuống, do đó cả doanh nghiệp lẫn công nhân đều nghèo khổ hơn.

    Keynes cho rằng chủ nghĩa tư bản hoạt động tốt nhất khi có những người chi tiêu giúp cầu thị trường tăng trưởng lành mạnh, qua đó tạo ra lợi nhuận và việc làm cho xã hội. Điều này được minh chứng rõ ràng trong những năm 1933-1936 và 1938-1945 là thời kỳ chính phủ tăng chi tiêu. Khi Roosevelt cắt giảm chi tiêu công trong năm tài khóa 1937, tình trạng suy thoái mạnh diễn ra cho thấy ở mọi giai đoạn trong quá trình phục hồi kinh tế, không ai khác sẵn lòng hoặc có thể đóng vai trò tạo cầu cho thị trường [ngoài chính phủ]. Vào năm 1938, nếu Roosevelt tiếp tục đi theo chính sách kiềm chế chi tiêu chính phủ để không tăng nợ quốc gia thì hậu quả hẳn sẽ là nền kinh tế rơi vào trì trệ. Khi chiến tranh bùng nổ và không còn ai lo ngại về quy mô nợ quốc gia, chính những khoản chi tiêu của chính phủ đã nhanh chóng đẩy nền kinh tế tiến tới trạng thái đầy đủ việc làm, có nhiều lợi nhuận. Tư tưởng của Keynes về cách thức hoạt động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử giai đoạn này.

    Liệu in tiền có gây ra “Đại Lạm phát” không?

    Để cứu nền kinh tế thoát khỏi suy thoái trầm trọng, chính phủ cần tăng chi tiêu lên rất nhiều, do đó rơi vào thâm hụt ngân sách và số thâm hụt này sẽ được bù đắp một phần hoặc toàn bộ bằng cách bán trái phiếu chính phủ cho Cục Dự trữ liên bang. Thực chất điều này có nghĩa là thâm hụt đã được bù đắp nhờ “in tiền".

    Hành động này có làm tăng cung tiền dẫn tới lạm phát cao không? Ví dụ, trên tạp chí Wall Street ra ngày 29 tháng 1 năm 2009 có một bài viết nhan đề: “Cục Dự trữ liên bang dần hướng tới kế hoạch mua trái phiếu chính phủ". Trong đó hai tác giả J. Hilsenrath và L. Rappaport đã viết về kế hoạch mua trái phiếu chính phủ của Cục Dự trữ liên bang như sau: “Đây vẫn là một động thái gây tranh cãi vào thời điểm thâm hụt ngân sách nhà nước tăng nhanh. Một số người có thể coi đây là hành động gây lạm phát khi bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách in tiền”.

    Dĩ nhiên vẫn tồn tại cách nghĩ cổ lỗ sỹ - thậm chí còn hay được những nhà kinh tế học đoạt giải Nobel như Milton Friedman tuyên truyền rộng rãi - rằng khi cung tiền tăng do chính phủ “in” tiền để chi tiêu thì lạm phát cao là không thể tránh khỏi.

    Quá trình in tiền thực sự diễn ra như thế nào? Vì số tiền chính phủ muốn chi tiêu nhiều hơn so với doanh thu từ thuế nên chính phủ phải bán trái phiếu để có số tiền thiếu đó. Nếu chính phủ không tìm được người tiết kiệm nào trong khu vực tư nhân muốn mua trái phiếu của mình thì có thể bán trái phiếu cho Cục Dự trữ liên bang. Thực chất, Cục Dự trữ mua các công cụ nợ của chính phủ bằng cách cho Bộ Tài chính Mỹ nợ trên tài khoản của bộ tại Cục Dự trữ. Bộ Tài chính khi đó có thể viết séc bằng số tiền tăng lên trong tài khoản tại Cục Dự trữ. Vì séc rút ra từ tài khoản ngân hàng hợp pháp có thể dùng để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng nên số tiền tăng lên trong tài khoản của Bộ Tài chính tương đương với số tiền được chính phủ in thêm. Nhưng số tiền “in ra” này đi vào các doanh nghiệp để khuyến khích họ tăng sản lượng và việc làm thì làm sao nó gây ra lạm phát được?

    Lý thuyết về mối quan hệ trực tiếp giữa chi tiêu gây thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng “in tiền” và lạm phát đơn giản chỉ là suy luận logic từ tiên đề cơ bản thứ hai trong mô hình thị trường hiệu quả cổ điển. Nó được gọi là tiên đề tiền tệ trung tính.

    Tiên đề tiền tệ trung tính nói rằng lượng cung tiền tăng bao nhiêu cũng không ảnh hưởng đến tổng lượng hàng hóa được sản xuất ra cũng như số việc làm trong nền kinh tế. Nói cách khác, tiên đề tiền tệ trung tính khẳng định một chân lý chung không cần chứng minh, đó là cung tiền tăng lên hoàn toàn không có tác động gì lên lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra (tức GDP) cũng như số việc làm.

    Do đó, nếu áp dụng tiên đề tiền tệ trung tính cho mô hình nền kinh tế thì khi chính phủ “in” tiền để mua sản phẩm của các ngành công nghiệp, hậu quả lạm phát là không thể tránh khỏi. Nếu chính phủ chi tiêu toàn bộ số dollar được “in” thêm này thì sẽ dẫn đến cầu hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tăng. Tuy nhiên, nếu thừa nhận tiên đề tiền tệ trung tính thì cầu thị trường tăng do chính phủ in tiền không hề có ảnh hưởng gì lên lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất và bán ra trên thị trường. Giả định tiền tệ trung tính có nghĩa là cầu thị trường tăng không khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê thêm lao động. Lượng cầu tăng lên chỉ làm giá thị trường tăng, gây ra lạm phát. Vì vậy, các nhà kinh tế học cổ điển chỉ đơn giản cho rằng chi tiêu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng in tiền sẽ gây ra lạm phát vì “có quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hóa”. Họ chưa hề chứng minh được, và cũng không tin là cần chứng minh rằng in tiền gây ra lạm phát. Do tiên đề tiền tệ trung tính là hòn đá tảng của lý thuyết thị trường hiệu quả nên các nhà kinh tế học cổ điển chỉ khẳng định lạm phát xảy ra khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng.

    Việc thừa nhận mù quáng giả định tiền tệ trung tính đã khiến các nhà phân tích có logic nhất quán không nhận thấy khi có thất nghiệp cao và năng lực sản xuất không được tận dụng hết thì chi tiêu gây thâm hụt ngân sách của chính phủ có thể và sẽ tạo cơ hội kiếm lợi nhuận, do đó khuyến khích các doanh nghiệp tăng sản lượng và tăng việc làm. Trong trường hợp này, tăng cung tiền “in ra” để bù đắp cho tăng chi tiêu chính phủ không nhất thiết dẫn tới lạm phát.

    Và khi tình hình khó khăn hơn thì ngay cả những người chấp nhận lý thuyết kinh tế cổ điển với giả định tiền tệ trung tính cũng nhận thấy rằng không thể áp dụng lý thuyết này cho hoàn cảnh hiện tại. Bài báo trên tạp chí Wall Street nói trên viết: “Với tình hình kinh tế sụt giảm đột ngột trên toàn thế giới, các quan chức của Cục Dự trữ liên bang giờ đây không còn coi lạm phát là vấn đề đáng lo ngại nữa”. Nhưng với lượng tiền như hiện tại, nếu lạm phát do in tiền không xảy ra ngay thì liệu chúng ta có gặp phải nó khi nền kinh tế phục hồi và sẽ có nhiều hàng hóa, dịch vụ được bán ra hay không? Chẳng phải chúng ta sẽ vẫn có từng đó tiền đuổi theo nhiều hàng hóa hơn rất nhiều hay sao?

    Bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng những người sử dụng tiên đề tiền tệ trung tính để xây dựng các mô hình kinh tế cổ điển lớn trên máy tính cũng thừa nhận rằng giả định tiền tệ trung tính là niềm tin chứ không phải thực tế. Khi nhắc đến những mô hình được các viện nghiên cứu kinh tế có uy tín sử dụng để dự báo tương lai, giáo sư Oliver Blanchard thuộc Học viện công nghệ Massachusetts và là trưởng kinh tế gia của Quỹ Tiền tệ quốc tế đã từng nói: “Tất cả các mô hình mà chúng ta từng biết đều dựa trên giả định cơ bản là tiền tệ trung tính. Đây chủ yếu là vấn đề niềm tin dựa trên lý thuyết hơn là bằng chứng dựa trên thực tế”[24].

    Keynes thì ngược lại, ông cho rằng cũng như với tiên đề ergodic, cần vứt bỏ tiên đề cổ điển về tiền tệ trung tính để giải thích sự vận động của hệ thống tư bản chủ nghĩa trong thực tế. Khi xây dựng khung phân tích mang tính cách mạng của mình năm 1933, Keynes viết:

    “Lý thuyết mà tôi theo đuổi sẽ... nghiên cứu nền kinh tế trong đó tiền tệ có vai trò riêng và có ảnh hưởng đến mọi động cơ và quyết định của mọi người. Nói một cách ngắn gọn thì nó là một trong những nhân tố tác động lên mọi tình huống, khiến chúng ta không thể dự đoán được quá trình diễn ra các sự kiện cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn nếu không biết hành vi của tiền trong giai đoạn giữa thời điểm đầu tiên và thời điểm cuối cùng của quá trình đó. Và đây chính là ý tôi muốn nói khi nhắc đến nền kinh tế sử dụng tiền tệ... Bùng nổ và suy thoái là nét đặc trưng của nền kinh tế trong đó... tiền tệ không hề trung tính"[25].

    Khi bác bỏ tiên đề tiền tệ trung tính khỏi khung phân tích, Keynes đã phủ nhận việc các giao dịch hàng đổi hàng là bản chất của hệ thống kinh tế. Tiền đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong phân tích của Keynes về hệ thống tư bản, khoản chi tiêu chính phủ được bù đắp bằng cách tăng cung tiền chủ yếu nhằm khuyến khích doanh nghiệp sản xuất ra nhiều hơn để bán và có thêm lợi nhuận. Khi không sử dụng tiên đề tiền tệ trung tính thì có thể thấy việc bù đắp chi tiêu bằng cách tăng cung tiền sẽ không dẫn tới lạm phát nếu đang có thất nghiệp cao và các doanh nghiệp chưa tận dụng hết năng lực sản xuất.

    Giải thích lạm phát

    Lạm phát xảy ra khi giá bằng tiền của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ mà người dân trong nước mua sắm tăng mạnh. Nếu đã bác bỏ tiên đề tiền tệ trung tính vì nó chỉ là một lời khẳng định chưa được chứng minh, chỉ mang tính “niềm tin” (như Blanchard phải thừa nhận) thì chúng ta không nên có phản xạ vô điều kiện bằng cách nói ngay rằng khi chính phủ in tiền và chi tiêu theo kế hoạch phục hồi nền kinh tế thì hẳn sẽ có lạm phát.

    Vậy cái gì gây ra lạm phát? Trong cuốn sách hai tập có tên Luận thuyết về tiền tệ (A Treatise on Money) được xuất bản năm 1930, Keynes đã chỉ ra có hai loại lạm phát. Mặc dù lạm phát nào cũng liên quan đến tăng giá, nhưng mỗi loại lại có nguyên nhân khác nhau. Hai loại lạm phát đó là lạm phát hàng hóa và lạm phát thu nhập. Mặc dù loại lạm phát nào cũng liên quan đến giá cả tăng, nhưng mỗi loại lại có nguyên nhân khác nhau.

    Lạm phát hàng hóa

    Lạm phát hàng hóa về cơ bản là loại lạm phát khi giá thị trường của các hàng hóa được sản xuất hàng loạt lâu dài như nông sản, dầu thô, khoáng sản v.v. tăng lên. Những hàng hóa này thường được mua bán trên thị trường công khai có tổ chức, và giá thị trường được công bố trên báo chí và các phương tiện thông tin khác. Trong thị trường các loại hàng hóa này, giá cả có xu hướng gắn liền với ngày giao hàng cụ thể, có thể là giao ngay hôm nay hoặc một ngày nào đó trong tương lai.

    Rất nhiều thị trường chỉ giới hạn thời gian giao hàng tương lai trong khoảng một vài tháng, thông thường không quá mười tháng hoặc ít hơn nữa. Vì phần lớn hàng hóa loại này mất rất nhiều thời gian để sản xuất nên cung hàng hóa trong tương lai gần được giả định là cố định, bằng lượng hàng tồn kho hiện tại cộng với bán thành phẩm hiện vẫn đang trên đường vận chuyển và sẽ trở thành thành phẩm trong tương lai gần, khi đến ngày giao hàng. Do đó, nếu cầu hàng hóa trong tương lai gần tăng đột biến thì sẽ có rất ít hoặc gần như không có lượng cung bổ sung vào ngày giao hàng, vì thế cầu thị trường tăng sẽ làm giá tương lai của hàng hóa tăng theo. Tương tự, nếu cung hiện có đột nhiên biến động trong khi cầu không thay đổi thì giá thị trường cũng biến động theo. Ví dụ, nếu bỗng nhiên có một đợt sương giá làm vụ mùa đang chuẩn bị thu hoạch bị hỏng toàn bộ thì với cầu không thay đổi, chúng ta nên kỳ vọng giá nông sản sẽ tăng, gây ra lạm phát hàng hóa.

    Chúng ta đều biết rõ câu chuyện về những người đầu cơ hàng hóa, họ mua rất nhiều một loại hàng hóa rồi rút số hàng đó ra khỏi thị trường (làm giảm cung hiện có) để làm tăng giá thị trường. Nếu những người đầu cơ thành công thì sau đó họ có thể bán số hàng họ cất giữ để kiếm lợi. Hành động của họ được gọi là “vét thị trường” và góp phần gây ra lạm phát hàng hóa.

    Vì lạm phát giá hàng hóa diễn ra mỗi khi cầu hoặc cung hàng hóa cho tương lai gần biến động bất ngờ, không dự đoán được nên có thể tránh được loại lạm phát này khá dễ dàng, thông qua một tổ chức không hoạt động vì lợi ích cá nhân mà chỉ bảo vệ xã hội khỏi sức ép lạm phát. Muốn tránh được lạm phát hàng hóa thì chính phủ cần phải duy trì một lượng hàng dự trữ để làm “đệm giá”, nhờ đó giá không bị thay đổi mạnh trước mọi biến động cung và/hoặc cầu hàng hóa. Dự trữ hàng đệm giá chỉ là số hàng hóa lưu trong kho, có thể được đẩy vào hoặc rút ra khỏi thị trường, giúp thị trường không gặp phải biến động giá đột ngột bằng cách bổ sung vào cung hoặc cầu khi xảy ra những biến động không dự đoán trước được.

    Ví dụ, sau cú sốc giá dầu hồi thập kỷ 1970, Mỹ đã tạo ra một kho “dự trữ dầu mỏ chiến lược", trong đó dầu thô được tích trữ trong những vòm muối (1) dưới lòng đất ở bờ biển vịnh Mexico. Kho dầu dự trữ này dự kiến được dùng để làm nguồn cung khẩn cấp cho thị trường, ngăn giá dầu tăng lên trong trường hợp cung dầu mỏ từ Trung Đông - vùng đất luôn bất ổn về chính trị - đột ngột bị cắt giảm, sử dụng lượng dầu dự trữ này một cách có chiến lược tức là giá dầu sẽ không tăng lên quá nhiều nếu như có khủng hoảng chính trị nổ ra ở Trung Đông chẳng hạn. Nói cách khác, có thể tránh được lạm phát giá dầu chừng nào vẫn còn lượng hàng đệm giá để bù đắp cho lượng hàng hóa bị thiếu hụt đột ngột. Do đó, trong suốt chiến dịch ngắn Bão sa mạc chống Iraq năm 1991, các quan chức chính phủ Mỹ đã lấy dầu từ kho dự trữ dầu mỏ chiến lược này để cung cấp cho thị trường nhằm tránh khả năng xảy ra những biến động (thực tế hoặc kỳ vọng) ảnh hưởng đến giá dầu mỏ. Bộ Năng lượng Mỹ ước tính rằng nhờ sử dụng đến lượng dầu dự trữ này mà giá xăng thành phẩm đã không tăng lên 30% mỗi gallon trong khoảng thời gian ngắn diễn ra Bão sa mạc. Sử dụng dự trữ dầu mỏ như một cách đối phó với lạm phát hàng hóa là một giải pháp đã có từ rất lâu

    (1) cấu tạo địa chất nâng cao dạng vòm do các đá chứa muối bị dồn nén và đầy lên (ND).

    với câu chuyện trong Kinh thánh kể về Joseph và giấc mơ của Pharaoh về bảy con bò béo và bảy con bò gầy. Thời đó Joseph giống như người dự báo kinh tế, ông cho rằng giấc mơ của Pharaoh là điềm báo về bảy vụ mùa bội thu, và số nông sản (cung) sẽ quá nhiều so với bình thường, khiến cho giá (và thu nhập của nông dân) cũng sẽ thấp hơn so với bình thường. Tiếp theo sẽ có bảy vụ mùa thất bát, sản lượng nông nghiệp hàng năm sẽ không đủ cung cấp lương thực, còn giá bán nông sản mà người nông dân nhận được lại rất cao. Joseph đã đưa ra đề xuất chính sách chống lạm phát rất tiến bộ, đó là nhà nước nên tích một lượng ngũ cốc dự trữ trong những năm được mùa và bán chúng ra thị trường không vì động cơ lợi nhuận trong những năm mất mùa. Nhờ thế giá thị trường sẽ ổn định trong suốt mười bốn vụ, tránh được lạm phát trong những năm mất mùa, đồng thời vẫn bảo vệ được thu nhập cho người nông dân trong những năm mùa tốt. Kinh thánh đã ghi nhận chính sách dự trữ đệm giá hiện đại này là một thành công kinh tế lẫy lừng.

    Lạm phát giá dầu và một số nông sản bùng nổ vào mùa hè năm 2008 có nguyên nhân từ kỳ vọng (sai lầm) rằng với sự tăng trưởng rất nhanh của Trung Quốc và Ấn Độ, cầu hàng hóa của hai nước này cộng với mức cầu bình thường của các quốc gia khác sẽ nhanh chóng đẩy giá thị trường lên tận mây xanh. Một vài chuyên gia dự đoán giá dầu sẽ đạt tới mức 200USD một thùng vào đầu năm 2009. Nếu kỳ vọng này là hợp lý thì mọi người có thể mua dầu trên thị trường khi giá là 100USD một thùng chẳng hạn, sau đó bán lại số dầu đó trong một thời gian ngắn và được lãi 100%.

    Vì vậy, không chỉ các nhà đầu cơ mà những đối tượng tiêu dùng nhiều sản phẩm từ dầu mỏ, ví dụ các hãng hàng không, cũng mua dầu thô bằng hợp đồng tương lai trên thị trường. Các hãng hàng không mua dầu bằng hợp đồng tương lai để bảo đảm vào cuối năm 2008, khi giá dầu là 200USD một thùng thì họ vẫn có được nhiên liệu với giá thấp hơn thế. Tất nhiên đến lúc đó giá dầu đã giảm xuống còn dưới 40USD một thùng, và các hãng hàng không đã mất rất nhiều tiền mua dầu vì họ tin vào suy đoán rằng giá dầu chắc chắn sẽ tăng rất nhanh trong năm 2008 và sau đó nữa.

    Khi lạm phát hàng hóa lên đến đỉnh cao, tôi có viết một bài báo trên tạp chí Challenge số tháng 7-8/2008. Nội dung bài báo là công tác dự báo đã dẫn tới lạm phát hàng hóa dầu thô (và các nông sản khác) như thế nào. Tôi giải thích rằng chính việc dự báo giá dầu thô trong tương lai cao quá mức và thiếu thực tế đã góp phần gây ra lạm phát hàng hóa. Lý luận của tôi dựa trên những gì tôi hiểu về khái niệm lạm phát hàng hóa của Keynes và kiến thức về ngành công nghiệp dầu mỏ. Tôi có hiểu biết về ngành này khi làm trợ lý giám đốc cho phòng kinh tế của một công ty dầu mỏ quan trọng và khi làm một “chuyên gia” chứng kiến vụ kiện chống độc quyền liên quan đến mười ba công ty dầu mỏ lớn sau này. Nhờ thế, tôi nhận ra rằng có một chính sách rất đơn giản có thể chấm dứt được tình trạng đầu cơ nói trên và làm giảm đáng kể giá dầu thô.

    Tôi đề nghị chính phủ liên bang nên làm theo tấm gương Joseph trong Kinh thánh. Với mức giá gần 140USD một thùng dầu, tôi viết rằng nếu chính phủ bán ra thị trường chưa đến 10% số dầu hiện có trong kho dự trữ dầu chiến lược thì giá dầu thô sẽ nhanh chóng giảm xuống còn dưới 100USD một thùng. Kết quả là không chỉ giá các sản phẩm làm từ dầu giảm mà chính phủ còn có lợi nhuận vì họ đã mua số dầu dự trữ đó với giá thấp hơn rất nhiều.

    Mặc dù chính phủ đã không thực hiện chính sách đệm giá này, nhưng cơn bão khủng hoảng tài chính nổ ra vào năm 2008 với tác động gây suy thoái của nó cũng đủ để thổi bay dự báo về lạm phát hàng hóa.

    Nếu trong nhiệm kỳ tổng thống của Obama, Trung Đông xảy ra khủng hoảng chính trị thì hy vọng rằng Tổng thống Obama sẽ sử dụng chính sách đệm giá để tránh nguy cơ xảy ra khủng hoảng giá dầu mỏ.

    Lạm phát thu nhập

    Keynes đưa ra loại lạm phát thứ hai gọi là lạm phát thu nhập. Loại lạm phát này có liên quan đến việc chi phí sản xuất một đơn vị hàng hóa tăng. Khi chi phí sản xuất tăng, các doanh nghiệp sẽ buộc phải tăng giá bán hàng hóa đó trên thị trường nếu họ vẫn muốn có lợi nhuận.

    Hiện tượng chi phí sản xuất bằng tiền tăng lên phản ánh sự tăng lên của số tiền phải trả cho người sở hữu các đầu vào sản xuất, cụ thể là người nhận lương, người cung cấp nguyên vật liệu, người cho vay vốn hoặc người hưởng lợi nhuận. Do đó, ví dụ nếu lương tăng trong khi năng suất lao động của công nhân không thay đổi thì chi phí lao động trên một đơn vị sản lượng sẽ tăng. Mức tăng này khiến các doanh nghiệp phải tăng giá theo nếu họ vẫn muốn tiếp tục sản xuất và có lợi nhuận.



    Nói cách khác, lạm phát thu nhập xảy ra khi chi phí sản xuất bằng tiền tăng lên do chủ sở hữu các đầu vào sản xuất nhận được thu nhập cao hơn trong khi năng suất lại không tăng. Chi phí sản xuất tăng dẫn tới doanh nghiệp bán sản phẩm với giá cao hơn nếu họ muốn có lợi nhuận.

    Thuật ngữ lạm phát thu nhập cho thấy một thực tế rất rõ ràng nhưng lại thường bị bỏ qua, đó là với một quan hệ sản xuất xác định thì lạm phát do tăng giá hàng hóa sản xuất trong nước luôn luôn có mối liên hệ với (và là kết quả của) mức tăng thu nhập bằng tiền của những người tham gia vào quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất của một doanh nghiệp chính là mặt bên kia đồng xu của thu nhập của những người đang cung cấp sức lao động, nguyên vật liệu, đất đai, nhà cửa hoặc vốn cho doanh nghiệp sử dụng.

    Vì vậy, nếu chính phủ muốn kiềm chế tốc độ lạm phát thu nhập của hàng hóa và dịch vụ trong nước thì bằng cách nào đó, họ phải hạn chế mức tăng thu nhập bằng tiền của những người sở hữu đầu vào quá trình sản xuất nhằm tăng năng suất. Lương và các chi phí đầu vào sản xuất khác tăng luôn hàm ý thu nhập của một số người nhất định cũng tăng lên.

    Khi lao động nô lệ là bất hợp pháp trong các xã hội văn minh thì hợp đồng thuê lao động trả lương bằng tiền là loại chi phí phổ thông nhất trong tất cả các chi phí sản xuất. Trong nền kinh tế, chi phí lao động chiếm một tỷ lệ rất lớn trong chi phí sản xuất ngay cả với những sản phẩm công nghệ cao như tàu vũ trụ của NASA chẳng hạn. Đó là lý do tại sao lạm phát chủ yếu là do tiền lương tăng, đặc biệt trong 25 năm sau Thế chiến thứ hai.

    Hợp đồng lao động thường nêu rõ mức lương tính theo thời gian. Chi phí lao động này cộng với phần lợi nhuận tăng thêm để bù đắp chi phí nguyên liệu, chi phí quản lý và lợi tức trả cho nhà đầu tư là cơ sở để nhà quản lý quyết định mức giá bán sao cho họ có lợi nhuận. Nếu tiền lương tăng tương đối so với năng suất lao động thì chi phí lao động để sản xuất ra sản phẩm tăng. Do đó, các doanh nghiệp phải tăng giá bán hàng hóa nếu họ muốn tiếp tục kinh doanh và có lợi nhuận. Khi chi phí sản xuất tăng dẫn tới giá các hợp đồng bán hàng trong cả nền kinh tế đều tăng thì chúng ta đang phải đối mặt với lạm phát thu nhập.

    Rõ ràng là muốn chống lạm phát thu nhập thì cần hạn chế tốc độ tăng thu nhập bằng tiền so với năng suất. Hiện tại, khi nền kinh tế đang chìm sâu vào suy thoái, phần lớn người lao động, chủ đất và các doanh nghiệp đều không có đủ sức mạnh để nâng giá qua đó gây ra lạm phát thu nhập. Vì vậy, không có hoặc chỉ có rất ít nguy cơ kế hoạch kích thích kinh tế của Obama sẽ tạo điều kiện cho lạm phát thu nhập xảy ra. Nếu, và khi chương trình phục hồi kinh tế của Obama hoàn toàn vực được nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng và quay trở lại trạng thái đầy đủ việc làm thì chính phủ mới phải thận trọng, đảm bảo không gây ra tình huống chủ sở hữu các đầu vào sản xuất đòi mức giá cao hơn, tức là lạm phát thu nhập. Nếu vào một thời điểm nào đó trong tương lai xuất hiện sức ép lạm phát thu nhập này thì giải pháp của Keynes để kiềm chế nó sẽ như thế nào?

    Chính sách thu nhập chống lạm phát

    Trong nhiều năm sau Thế chiến thứ hai, mức lương tăng cao ở hầu hết các quốc gia phát triển chính là nhân tố chủ yếu gây ra lạm phát thu nhập. Để hiểu tại sao lạm phát tiền lương này lại đặc biệt mạnh mẽ sau chiến tranh, chúng ta phải nhận biết được những thay đổi trong bản chất xã hội công nghiệp thời kỳ đó. Như nhà kinh tế học John Kenneth Galbraith đã nói: “Thị trường, trong điều kiện xã hội công nghiệp chín muồi và thể chế chính trị liên quan... đã hoàn toàn mất sức mạnh độc quyền kiểm soát... [và] phần nào đó hiện tượng này chính là biểu hiện đặc trưng dân chủ của chúng ta”[26].

    Sau khi các hộ gia đình phải trải qua kinh nghiệm xương máu thời Đại Khủng hoảng những năm 1930, một đặc tính mới của người dân bình thường ở các quốc gia dân chủ đã xuất hiện, đó là con người cần kiểm soát tốt hơn số mệnh của mình. Cuộc Đại Khủng hoảng đã dạy cho tất cả mọi người rằng mỗi cá nhân không thể tự kiểm soát được cuộc sống nếu hoàn toàn phó mặc quyền quyết định thu nhập cho tính chuyên chế của thị trường tự do. Do đó, sau Thế chiến thứ hai, ở các nước đi theo xu hướng dân chủ, người dân không chỉ đòi hỏi hệ thống kinh tế phải đem lại cho họ cuộc sống an toàn hơn, mà họ còn muốn đóng vai trò kiểm soát số mệnh kinh tế của mình. Vai trò này đòi hỏi họ phải có quyền quyết định mức thu nhập họ nhận được. Kết quả là giữa công đoàn, liên minh chính trị, cartel kinh tế và các ngành công nghiệp độc quyền đã xảy ra những cuộc tranh chấp giành quyền được có thu nhập cao hơn. Nếu những cuộc tranh chấp giành quyền lực này dẫn tới thu nhập của ai đó có tham gia vào quá trình sản xuất tăng lên thì hậu quả là lạm phát thu nhập.

    Chừng nào chính phủ còn đảm bảo rằng họ sẽ theo đuổi chính sách tạo ra đầy đủ việc làm thì tất cả mọi công nhân, công đoàn và giám đốc công ty - những người có tính tư lợi - sẽ không phải sợ rằng đòi hỏi giá cao và thu nhập cao của họ sẽ dẫn đến giảm doanh số và mất việc làm. Chừng nào chính phủ còn chấp nhận gánh trách nhiệm tạo ra mức tổng cầu hiệu quả để duy trì sản lượng của nền kinh tế gần tương ứng với trạng thái đầy đủ việc làm thì thị trường sẽ không có động lực chấm dứt được cuộc tranh chấp diễn ra thường xuyên về cách thức phân phối thu nhập - nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát thu nhập.

    Nếu không kèm theo chính sách giới hạn thu nhập thận trọng, được tuyên bố rõ ràng, thì chính sách đầy đủ việc làm sẽ đảm bảo không còn tồn tại cái mà Marx đã gọi là “đội quân dự phòng công nghiệp”, đó là những người thất nghiệp sẵn lòng chấp nhận mức lương thấp hơn so với những người đang có việc làm khác để được làm việc. Khi có rất nhiều người thất nghiệp thì các doanh nghiệp có thể không cần quan tâm đến yêu cầu tăng lương của công nhân. Việc có quá nhiều người có trình độ tương đương nhau bị thất nghiệp khiến những người có việc làm có cảm giác biết ơn vì họ vẫn có công việc và vẫn kiếm được tiền. Do đó, thái độ của những người có việc làm sẽ bớt quyết liệt hơn và họ cũng ít đòi hỏi lương cao hơn trong điều kiện kinh tế suy thoái và số người thất nghiệp là rất cao hoặc ngày càng tăng. Trong thị trường tự do không bị nhà nước can thiệp, tỷ lệ người thất nghiệp cao có thể là yếu tố chính hạn chế đòi hỏi tăng lương của giới lao động có tổ chức.

    Từ những năm 1990, với hệ thống thương mại tự do toàn cầu, những nước như Ấn Độ và Trung Quốc đã đem lại lượng cung gần như vô hạn lao động không có trình độ hoặc trình độ thấp, những người sẵn lòng làm việc với mức lương thấp hơn hẳn mức lương phổ biến ở phương Tây. Số lao động này đã đóng vai trò gần như “đội quân thất nghiệp công nghiệp hóa” như từ ngữ của Marx, hạn chế khả năng đòi tăng lương, thậm chí khả năng duy trì mức lương hiện có của phần lớn công nhân cổ xanh và thậm chí một bộ phận công nhân cổ trắng ở các nước phương Tây. Những công việc phải trả lương cao ở Mỹ đã được giao cho công nhân các nước có lương thấp làm, và điều đó không những làm suy yếu sức mạnh của công đoàn trong nước [Mỹ] khiến họ không còn khả năng đòi tăng lương và phúc lợi cho công nhân như trước, mà còn dẫn tới phá hủy hoặc bào mòn lực lượng lao động trong ngành chế tạo của Mỹ. Chúng ta sẽ thảo luận vấn đề này cùng với chính sách liên quan đến thuế nước ngoài gia công và thương mại quốc tế trong chương 7.

    Theo các nhà kinh tế học cổ điển - những người tin vào lòng từ tâm của “bàn tay vô hình” của thị trường tự do - nếu không có nguy cơ mất việc làm vào tay công nhân thất nghiệp trong nước hoặc công nhân nước ngoài thông qua hình thức thuê gia công ở những nước có mức lương thấp thì chỉ có một cách duy nhất chống lạm phát thu nhập. Trong xã hội tự do, nơi con người chỉ hành động với một động cơ duy nhất là lợi ích cá nhân thì dĩ nhiên, công nhân và chủ doanh nghiệp được tự do đòi hỏi bất cứ mức giá nào cho dịch vụ mà họ cung cấp, cho dù đòi hỏi đó dẫn tới lạm phát. Giải pháp cổ điển để giải quyết lạm phát thu nhập là phải kiềm chế bớt nền kinh tế. Vì vậy, lý thuyết cổ điển hàm ý rằng một trong những quyền của xã hội tự do là quyền tự đặt ra mức giá cao cắt cổ.

    Hiển nhiên nếu chính phủ cam đoan rằng họ sẽ luôn theo đuổi nền kinh tế đầy đủ việc làm thì hẳn không ai có thể đặt mức giá cắt cổ cho hàng hóa và dịch vụ của mình được. Còn trong nền kinh tế thị trường tự do, khi chính phủ không can thiệp cũng như không đảm bảo có đầy đủ việc làm thì rõ ràng là có một cách để chắc chắn rằng đòi hỏi tăng thu nhập của công nhân và giới doanh nghiệp sẽ dẫn tới giá trên thị trường quá cao. Khi có nguy cơ cao xảy ra lạm phát do tăng cầu thu nhập, ngân hàng trung ương có thể tăng lãi suất, qua đó chặn đứng nhu cầu vay tiền và chi tiêu của khu vực kinh tế tư nhân. Kết quả của chính sách tiền tệ thắt chặt này là cơ hội kiếm lợi nhuận bị suy giảm và chủ doanh nghiệp phải sa thải bớt công nhân. Khi thất nghiệp tăng lên, cầu thị trường đối với sản phẩm của các ngành công nghiệp giảm và các doanh nghiệp sẽ phải rất thận trọng trong việc tăng lương và/hoặc tăng giá. Nói cách khác, chính sách thu nhập được những tín đồ của thị trường tự do như Thatcher ủng hộ là: ngân hàng trung ương thực hiện những chính sách tiền tệ với chủ định giảm tổng chi tiêu và giảm cầu thị trường.

    Ví dụ, khi ngân hàng trung ương tuyên bố tỷ lệ lạm phát mục tiêu là 2% chẳng hạn, điều đó có nghĩa là họ đang cảnh báo với công chúng rằng nếu tỷ lệ lạm phát tính được vượt quá 2% thì họ sẽ cố ý làm suy thoái môi trường kinh doanh, đe dọa việc làm của người lao động nhằm buộc mọi người giảm cầu thu nhập có thể dẫn tới lạm phát.

    Nói cách khác, nếu phát sinh lực đẩy tăng thu nhập khiến giá cả tăng cao hơn so với lạm phát mục tiêu thì ngân hàng trung ương sẽ tăng lãi suất lên cho đến khi tỷ lệ lạm phát giảm xuống bằng mục tiêu đặt ra, ngay cả khi hậu quả là tăng thất nghiệp và gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Vì vậy, tỷ lệ lạm phát mục tiêu được ngân hàng trung ương công bố chính là công cụ để khiến doanh nghiệp và công nhân biết sợ rằng nếu họ làm cho (đòi hỏi) lương và giá cả tăng lên thì họ sẽ có nguy cơ mất cơ hội kiếm sống. Có thể đặt tên chính sách hạn chế yêu cầu tăng thu nhập này là “chính sách thu nhập sợ hãi”. Mục tiêu của nó là thuyết phục những người đang làm việc rằng ngân hàng trung ương sẽ làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn cầu về lương hoặc bất cứ thu nhập nào khác tăng lên. Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm cầu thị trường giảm đi, đủ để khiến cho giới lãnh đạo chủ chốt ở các doanh nghiệp buộc phải từ chối yêu cầu tăng lương của công nhân trước nỗi lo ngại sẽ mất lợi nhuận, còn giới công nhân buộc phải kìm nén mong muốn có lương cao hơn và phúc lợi nhiều hơn do sợ mất việc làm. Đây chính là giải pháp chống lạm phát thu nhập của lý thuyết cổ điển.

    Các nhà kinh tế học cổ điển tin rằng nếu một ngân hàng trung ương độc lập tấn công mạnh mẽ vào lạm phát thu nhập bằng cách tạo ra tác động suy thoái thì kết quả giảm cầu đối với hàng hóa trong nước sẽ khiến cho mọi công nhân và doanh nghiệp rơi vào tâm trạng sợ mất doanh số và thu nhập. Nền kinh tế không thể đến gần được trạng thái đầy đủ việc làm chừng nào chúng ta còn dựa vào chính sách thu nhập của thị trường tự do gây ra nguy cơ thất nghiệp và thiệt hại kinh doanh. Do đó, những ai tin tưởng vào chính sách tiền tệ dựa trên “lạm phát mục tiêu” của ngân hàng trung ương thì đều đang ngầm tán thành chính sách thu nhập dựa trên “tâm lý sợ hãi” mất việc làm, giảm doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong nước. Họ tin rằng vì tâm lý sợ hãi nên những người sở hữu nguồn lực sản xuất trong nước sẽ phải ở đúng chỗ của mình. Lượng cầu cần giảm để làm cho chính sách thu nhập dựa trên sự sợ hãi có tác dụng sẽ phụ thuộc vào cái mà một vài nhà kinh tế học cổ điển ngày nay gọi là tỷ lệ thất nghiệp “tự nhiên” trong nước.

    Những người đề xuất ra chính sách lạm phát mục tiêu dựa trên nỗi sợ hãi này đang ngầm cho rằng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ giảm nếu chính phủ “giải phóng” thị trường lao động bằng cách giảm - nếu không muốn nói là xóa bỏ hoàn toàn - trợ cấp thất nghiệp trong dài hạn hoặc các hình thức hỗ trợ thu nhập khác như mức lương tối thiểu, buộc người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ hưu trí và quỹ bảo hiểm y tế cho nhân viên, hoặc quy định về điều kiện làm việc, thậm chí chính phủ còn có thể cản trở hoạt động của công đoàn. Khi đó thái độ của công nhân sẽ bớt quyết liệt hơn.

    Tín đồ của thị trường tự do thường coi mạng lưới an sinh xã hội lâu dài nhằm bảo vệ người thất nghiệp là sự cung phụng quá mức cho các nạn nhân của cuộc chiến chống lạm phát, nên mọi người mới nghĩ rằng không có gì quá đáng sợ nếu họ rơi vào tình trạng thất nghiệp. Mọi thành viên trong xã hội cần phải có nỗi sợ hãi to lớn và thường trực quanh họ thì chương trình lạm phát mục tiêu cứng rắn mới có hiệu quả. Hậu quả không thể tránh khỏi là xã hội dân sự sẽ là đối tượng đầu tiên bị tổn thương.

    Về bản chất, quan điểm của những người ủng hộ thị trường tự do trong vấn đề chống lạm phát không có gì tiến bộ hơn so với những gì mà Bộ trưởng Mellon đã nói với Tổng thống Hoover: “Thanh lý lao động... Thế là sẽ loại bỏ được những thứ đã hư hỏng ra khỏi hệ thống... Mọi người sẽ làm việc chăm chỉ hơn, sống có đạo đức hơn”[27].

    Khi những quốc gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ... tham gia vào nền kinh tế thế giới của thế kỷ 21 thì các nước phát triển lại có thêm một "đội quân dự phòng công nghiệp” mới. “Thương mại tự do” được đẩy mạnh cũng khiến cho công nhân trong nước có mức lương cao bắt đầu sợ rằng họ sẽ mất việc làm vào tay công nhân nước ngoài lương thấp. Những quốc gia đông dân và lương thấp có cung lao động gần như vô hạn và đội quân thất nghiệp sẵn lòng chấp nhận làm việc với mức lương thấp hơn nhiều so với mức lương ở các nước phát triển. Thực tế này cộng với phong trào thuê gia công nước ngoài trong ngành chế tạo và dịch vụ (nơi có thể cung cấp dịch vụ, ví dụ một trung tâm hỗ trợ khách hàng qua điện thoại ở Ấn Độ, và chi phí vận chuyển và thông tin tương đối rẻ) ngày càng cao đã khiến cho lực lượng lao động ở các quốc gia công nghiệp lớn nhún nhường hơn nhiều và hạn chế hẳn việc đòi tăng thu nhập trong hai thập kỷ qua. Kết quả là nguyên nhân dẫn đến lạm phát thu nhập chỉ xuất hiện giới hạn trong những ngành dịch vụ, công nghiệp và chế tạo không thể thuê gia công nước ngoài (ví dụ: quốc phòng). Điều đó dẫn đến hậu quả là khoảng cách thu nhập của công nhân có ít kỹ năng hoặc không có kỹ năng ở các nước công nghiệp phương Tây và thu nhập của giám đốc cũng như chủ sở hữu người phương Tây của các tập đoàn đa quốc gia ngày càng lớn. Lý do là nhóm sau có thể thuê nước ngoài làm những công việc giản đơn, trong khi đó họ vẫn đòi hỏi có lợi nhuận và lương quản lý cao hơn, đồng thời còn yêu cầu được thưởng dựa trên doanh số bán hàng.

    Nếu ai đó thấy chính sách chống lạm phát thu nhập của lý thuyết cổ điển là không được văn minh lắm đối với đồng loại thì có thể xem xét một chính sách khác, được xây dựng dựa trên ý tưởng của Keynes về lạm phát.

    Vào năm 1970, trước khi thuê gia công trở thành vũ khí chính buộc giới lao động phải ở đúng chỗ, giáo sư Sidney Weintraub của Đại học Pennsylvania đã nhận thấy khái niệm về lạm phát thu nhập của Keynes rất giống với kiểu lạm phát mà nhiều quốc gia gặp phải thời kỳ trước cú sốc giá dầu năm 1973. Vì thế Weintraub đã xây dựng một chính sách chống lạm phát “thông minh” mà ông gọi là TIP, viết tắt của chính sách điều tiết thu nhập bằng thuế. TIP đòi hỏi phải sử dụng hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp để phạt những công ty lớn nhất trong nước nếu họ để cho lương tăng cao hơn tiêu chuẩn tăng năng suất lao động quốc gia. Do đó cần dùng hệ thống thuế để trừng phạt công ty nào thỏa hiệp với yêu cầu tăng lương dẫn tới lạm phát. TIP được đề xuất áp dụng với hy vọng rằng nếu mức tăng lương chỉ giới hạn bằng mức tăng năng suất chung thì công nhân và chủ sở hữu các đầu vào sản xuất trong nước khác sẽ sẵn lòng chấp nhận mức tăng thu nhập không dẫn tới lạm phát.

    Để TIP - một chính sách không dựa vào “nỗi sợ hãi” mất thu nhập - kiềm chế được lạm phát thu nhập một cách có hiệu quả, Weintraub cho rằng cần thỏa mãn hai điều kiện sau:

    1.TIP phải là một thể chế chính sách lâu dài, và

    2.TIP phải là một hệ thống thuế mang tính chế tài chứ không phải khen thưởng (trợ cấp).

    Khi đã được thể chế hóa, TIP không thể bị hủy bỏ trừ khi nó không còn phát huy tác dụng vào ngày chấm dứt hiệu lực. Weintraub chỉ ra rằng mức độ phạt bằng thuế có thể thay đổi tùy điều kiện thực tế, nhưng luôn luôn phải tồn tại hình thức phạt này để đảm bảo mọi người đều thực hiện theo.

    Thứ hai, nếu TIP có tính chất khen thưởng, tức là có thể giảm thuế cho một công ty nào đó nếu họ luôn tuân theo chuẩn lương quốc gia, thì sẽ không thể áp dụng được công cụ này xét về mặt hành chính. Lý do là lúc đó tất cả mọi người sẽ yêu cầu được thưởng, và chính phủ có trách nhiệm phải tìm hiểu xem đối tượng nào không đáp ứng được điều kiện giảm thuế. Weintraub đề xuất nên thực hiện TIP tương tự như khi chính phủ quy định giới hạn tốc độ trên đường cao tốc. Nếu ai vượt quá giới hạn tốc độ tối đa - giới hạn này luôn có hiệu lực - thì người đó phải nộp tiền phạt. Nhưng chính phủ không bao giờ thưởng cho những người không vượt quá giới hạn tốc độ.



    Không may là Mỹ và rất nhiều quốc gia khác chưa bao giờ nỗ lực nghiêm túc để xây dựng TIP có tính chế tài lâu dài. Thay vào đó, dưới khẩu hiệu thị trường tự do, hiện tượng thuê nước ngoài gia công đã trở thành chính sách thu nhập của Mỹ, trong đó các công ty đa quốc gia được tiếp cận với nguồn cung vô hạn lao động lương thấp ở những nước đang phát triển như Trung Quốc, nhờ đó nhu cầu đòi tăng lương trong nước giảm xuống.

    Trong những năm gần đây, với nhiều quốc gia công nghiệp, chi phí thực tế của chính sách thu nhập kiểu này đã lên rất cao. Với những nước như Đức và Pháp, tỷ lệ thất nghiệp hai con số - một hiện tượng chưa từng có kể từ thời Đại Khủng hoảng - đã trở thành bình thường.

    Weintraub luôn tin tưởng rằng trí tuệ con người có tác dụng mạnh hơn các lực lượng (thị trường) vô cảm trong việc khuyến khích hành vi văn minh phù hợp với xã hội. Ông tin là cuối cùng một hình thức hạn chế thu nhập văn minh nào đó sẽ được coi là chính sách kiểm soát lạm phát mang tính nhân văn, mà không cần dùng đến hiệu ứng phụ căng thẳng của chính sách lạm phát mục tiêu theo lý thuyết cổ điển. Weintraub cho rằng có thể theo đuổi chính sách kinh tế đầy đủ việc làm chừng nào xã hội hiện đại còn áp dụng chính sách thu nhập, trong đó mọi người nhận thu nhập đều được đối xử công bằng như nhau.

    Từ ngữ và khái niệm là những vũ khí rất quan trọng trong cuộc chiến chống lạm phát. Một trong những chức năng quan trọng nhất của chính phủ các nước công nghiệp lớn là phải chỉ cho xã hội thấy rằng sự cạnh tranh đòi tăng thu nhập giữa các nhóm người khác nhau, nói cho cùng, cũng chỉ là cuộc tranh chấp về cách thức phân phối thu nhập quốc gia. Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thị trường tự do, nếu không có chính sách thu nhập thì cuộc đấu tranh chống lại sự phân chia thu nhập chuyên quyền và thiếu công bằng sẽ không đem lại thắng lợi cho ai cả, mà thực tế là tất cả mọi công dân đều sẽ thua cuộc - mặc dù một vài người có thể có lợi thế hơn trong một thời gian nhất định. Chính phủ có trách nhiệm phải tạo ra sự đồng thuận chính trị, tức là mọi người đều cùng mong muốn có chính sách thu nhập giúp phân phối thu nhập của nền kinh tế năng suất cao và thịnh vượng một cách văn minh.

    Lịch sử đã chỉ ra rằng trong giai đoạn từ 1961 đến 1968, khi chính phủ xây dựng được thái độ đồng thuận chính trị đối với chính sách trực tiếp hạn chế tăng thu nhập cho các nhóm người trong xã hội bằng một vài công cụ chính sách thu nhập khác nhau, nền kinh tế đã đạt đến trạng thái đầy đủ việc làm và không hề có lạm phát.

    Trong khoảng thời gian 1961-1968 khi chính phủ Kennedy-Johnson đương chức, giá cả được kiểm soát bằng chính sách “định hướng” lương-giá - nó đòi hỏi lương tăng phải đi kèm với năng suất lao động tăng. Định hướng này hoàn toàn mang tính tự nguyện. Không có hình thức thưởng hay phạt bằng tiền đối với hành vi của công nhân và giám đốc các công ty. Chỉ đơn thuần dựa vào thái độ đồng thuận của cộng đồng về trách nhiệm xã hội khi đòi hỏi tăng lương, định hướng lương-giá còn được Tổng thống Kennedy khuyến khích bằng khẩu hiệu đầy cảm hứng khi ông nhậm chức: “Đừng hỏi Tổ quốc có thể làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn có thể làm gì cho Tổ quốc”. Trong gần tám năm, định hướng tự nguyện này đã rất có hiệu quả khi GDP tăng lên 34% còn chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng lên chưa đến 13% suốt thời gian đó. Tuy nhiên, khi Chiến tranh Việt Nam leo thang, sự đoàn kết xã hội có được nhờ uy tín của Kennedy đã tan vỡ. Vào năm cuối cùng nhiệm kỳ tổng thống của Johnson, không ai đi theo định hướng lương-giá nữa - các giá trị công dân bị suy thoái và tính tư lợi chiếm vai trò thống trị.

    Như vậy, đã có bằng chứng cho thấy chính sách thu nhập là có hiệu quả. Tuy nhiên, trong trường hợp chính phủ theo đuổi chính sách tiền tệ và/hoặc tài khóa thắt chặt, và/hoặc cho phép các công ty lớn thuê nước ngoài sản xuất thì việc không có một chính sách văn minh, thực tế để giải quyết vấn đề phân phối thu nhập quốc gia và quốc tế sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng không phải là hòa mà thực sự gây ra tổn thất đối với tổng thu nhập trong nước và quốc tế.

    Trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, khi thuê nước ngoài gia công đã trở thành một yếu tố quan trọng giúp giảm bớt áp lực lạm phát cho các ngành sản xuất - thương mại, đồng thời còn đe dọa rất nhiều đến đời sống của công nhân ở những nước công nghiệp phương Tây, góp phần làm tình trạng bất bình đẳng thu nhập trở nên nghiêm trọng hơn thì người ta ít quan tâm đến chính sách thu nhập. Nhưng nếu chúng ta có thể giải quyết được vấn đề thuê nước ngoài gia công (như sẽ trình bày trong chương 7) thì mọi người sẽ lại nhận thấy sự cần thiết của chính sách thu nhập - nếu chính phủ nhận trách nhiệm khuyến khích và duy trì một hệ thống kinh tế thịnh vượng, đầy đủ việc làm.