050. Trang [0540-0551] - @purewater110 (done)

9/10/15
050. Trang [0540-0551] - @purewater110 (done)
  • 100 quan, đều giảm 3 phần 10 ; tiền thuế thuyền đánh cá hạng nhất nhì ba đều được miễn, tiền thuế thuyền Trường Đà, đội thuyền Đại Lê, đều giảm 5 phần 10).

    Giảm 2 phần 10 thuế thân 5 năm cho dân các dinh Bình Thuận và Bình Hòa.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Các trấn ẩn lậu ruộng đất và châu thổ khá nhiều. Xin hạ lệnh cho các xã dân trưng theo thực số, có kẻ gian ẩn thì cho ấp láng giềng trưng”. Vua y theo lời tâu.

    Lấy Trịnh Ngọc Lượng làm cai đội quản năm đội bả canh ở Quảng Trị. (Tổng Bái Ân dinh Quảng Trị có 5 đội bả canh, cày cấy ruộng quan điền), hằng năm thu thuế đệ nộp.

    Trả lại tiền cho các dân nhà giàu ở các dinh Gia Định, Bình Thuận. Trước kia dấy binh, tiêu dùng mỗi ngày phí đến nghìn vàng, dân giàu có nhiều người bỏ của ra để giúp việc quân. Vua sai đem trả hết số ấy.

    Lấy Phùng Thế Hòa làm cai đội giữ cửa Sót [Luật Hải khẩu]. Thế Hòa là người An Du huyện Minh Linh. Trước kia quốc mẫu phải ẩn lánh, Thế Hòa thờ phụng rất kính cẩn, vua nghĩ công nên cho chức này.

    Sai Chánh đội trưởng thuyền Lão súng là Tôn Thất Di coi giữ Thái miếu, Tống Văn Sĩ coi giữ các lăng.

    Cho Vệ úy vệ Thần võ là Phạm Văn Trí làm Khâm sai chưởng cơ, Phó vệ úy Trương Phước Cẩn làm Khâm sai cai cơ.

    Lấy Trung chi đạo ứng nghĩa là Nguyễn Thế Lễ làm Cai cơ, theo làm việc công ở Quảng Ngãi.

    Sai Khâm sai tổng binh cai cơ Trần Văn Trường quản nguồn Hà Lôi ở Phú Yên để ngăn giữ ác man.

    Tháng 12, ban cấp lương bổng hằng năm cho cung tần, hoàng tử, hoàng nữ, theo thứ bậc.

    Sai làm tôn thất phả.

    Sai hai bộ Hộ Binh tính kê số đinh điền, châm chước ngạch thuế đời trước định bàn thi hành.

    Dụ rằng : “Trị nước không lo ít, mà lo không đều. Giặc Tây Sơn lấy của dân không có nhất định, trăm họ khổ sở. Nay nên đổi định lại để khỏi đau khổ cho dân. Bọn ngươi nên nghĩ kỹ mà bàn định”.

    Lấy Nguyễn Viết Huề làm Đội trưởng coi giữ tôn lăng ở Chiêm Sơn (tên xã thuộc huyện Duy Xuyên dinh Quảng Nam) (tức là lăng Vĩnh Diễn)(1. Lăng Hiếu văn hoàng hậu họ Nguyễn. 1).

    Chở gạo Bắc Thành. Sai phó quản tàu (buổi quốc sơ là tên quan, sau đổi) là Nguyễn Văn An trông coi việc vận tải, lính vận tải thì cấp cho 2 tháng lương.

    Định lệ phụ hao cho việc vận tải (gạo chở 100 phương, phụ hao 2 phương).

    Lấy Trần Đắc Xiêm làm Bình nhung cai cơ, quản việc thu thuế nguồn Chiên Đàn.

    Lấy Nguyễn Hữu Khánh làm thủ ngự cửa biển Đại Chiêm.

    Sai Chưởng cơ, quản tàu Phượng phi là Nguyễn Văn Chấn chở súng đồng ở Gia Định đến Kinh.

    Lấy Nguyễn Đăng Tài và Nguyễn Đăng Vinh làm Hàn lâm viện sung chức hoàng tử tư giảng. Đó là do Tham tri Lễ bộ Trần Hưng Đạt tiến cử.

    Nước Chân Lạp sai Trần Quang Quỳnh đem hiến phẩm vật địa phương. Quang Quỳnh là người Hán [người Việt] ở dinh La Bích, biết nói tiếng phiên, vua nhân cho quản Thông ngôn sứ ty ở Chân Lạp.

    Lấy Khâm sai cai đội Nguyễn Thịnh làm Khâm sai cai cơ quản tàu Thụy phượng.

    Triệu Lưu thủ Bình Khang là Lê Văn Vạn về Kinh. Lấy Phó vệ úy quân Thần võ là Nguyễn Đắc làm Lưu thủ Bình Khang.

    Sai Phạm Văn Nhân kiêm giám quân Thần sách.

    Đổi quân Thần sách cũ làm vệ Thần trực, trong vệ đặt 7 thuyền là Trung bính, Tiền bính, Tả bính, Hữu bính, Hùng bính, Kiên bính và Uy bính, 6 đội là Võ tín, Võ tiệp, Võ kỷ, Võ kiếm, Võ kích và An nghĩa, lấy bọn Vệ úy Hoàng Văn Đệ cai quản, lệ theo lưu trấn thần Gia Định sai khiến.

    Cho Thuộc nội cai đội Trần Đăng Long làm Khâm sai thuộc nội cai cơ, quản vệ Cung võ, Thuộc nội cai cơ Hoàng Ngọc Văn làm Khâm sai thuộc nội cai cơ, quản Nhà đồ nội.

    Vua cùng bầy tôi bàn về phong tục, nói : “Dân Nam Hà vốn thói tằn tiện, từ thời Ngụy Tây quen chuộng xa xỉ, tiêu dùng không có tiết độ, nhiều người bắt chước, lưu tệ từ đấy sinh ra. Dân Bắc Hà thì kiểu quần áo cũng không đẹp. Phải nên một phen sửa định mới có thể đồng nhất phong tục. Nhưng sửa đổi phong tục cũng phải dần dần”.

    Cấm đúc trộm tiền. Vua cho rằng từ khi Tây Sơn làm loạn, trong dân có nhiều người đúc trộm tiền, đồng tiền mỏng quá, bèn hạ lệnh cấm. Kẻ nào phạm cấm thì bắt sung tượng phường, tài sản tịch thu vào quan, người nào cáo phát đúng thực thì thưởng tiền 100 quan, làm lệnh mãi mãi.

    Các quan Bắc Thành tâu rằng : “Bắc Hà trải qua loạn lạc, dân nhiều người xiêu tán. Binh có thiếu ngạch thì quản quan thường thường bắt làng lân cận cấp thế. Vì thế ruộng đất của dân xiêu tán bị làng lân cận chiếm lấy để bù lại. Xin sửa đổi thói tệ ấy”.

    Vua bèn hạ lệnh cho các địa phương từ Nghệ An ra Bắc, phàm ruộng đất của dân xiêu tán, quan sở tại phải lập giới hạn rõ ràng, chia cấp cho quan quân cày cấy mà được tha thuế, làng lân cận không được cày cấy. Ai trót đã cày cấy rồi thì tạm thời chiếu theo hạng ruộng công tư mà thu thuế trước (ruộng công mỗi mẫu, hạng nhất thu tiền 4 quan, hạng nhì 2 quan 5 tiền, hạng ba 1 quan 5 tiền, ruộng tư, mỗi mẫu hạng nhất thu 1 quan 5 tiền, hạng nhì 1 quan 2 tiền, hạng ba 1 quan). Lúa chín cho được thu gặt, nếu ai ẩn lánh thì quan quân gặt mà nộp thuế vào kho. Còn binh thiếu ngạch đã điền thế thì tha về, chưa điền thế thì được miễn, để không có cái khổ chịu ngạch nặng hơn. Đợi khi dân xiêu tán trở về thì đem những ruộng đất ấy cấp trả và thu thuế như lệ.

    Kén 32 người nội giám triều Lê cũ sung việc quét dọn trong cung, mỗi người nội giám thì trừ cho dân một người binh, cấp tiền phụ dưỡng cũng như binh lính.

    Lấy Vệ úy vệ Trung nhất Thị trung dinh Túc trực là Trần Văn Trí, Vệ úy vệ Tả nhất là Hồ Văn Bôi, Vệ úy vệ Nội trực là Lê Văn Tín làm Khâm sai thuộc nội chưởng cơ.

    Lấy Trịnh Ngọc Trí làm Vệ úy vệ Tiền nhất Thị trung dinh Túc trực, Nguyễn Văn Uy làm Vệ úy vệ Ban trực hữu quân Thần sách, đều cho chức Khâm sai thuộc nội chưởng cơ.

    Ngày Đinh tỵ, vua rước Từ cung yết lăng Hoàng khảo.

    Ngày Mậu ngọ tế Chạp, vua đến Thái miếu làm lễ.

    Ngày Nhâm tuất phong ấn (mỗi năm lấy ngày 25 tháng chạp thì phong ấn, sang năm chọn ngày tốt vào thượng tuần tháng giêng khai ấn. ở các nha cũng lấy những ngày ấy phong hay khai ấn triện).

    Vua đến Thái miếu, dâng lịch vạn toàn năm Quý hợi. Làm lễ xong, vua ngự điện, ban lịch mới cho trong ngoài.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển XX - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Quý hợi, Gia Long năm thứ 2 [1803] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 8), mùa xuân, tháng giêng, mồng 1, vua thân đến Thái miếu làm lễ. Lễ xong, ngự ở điện, nhận lễ chầu mừng.

    Ngày Kỷ tỵ mở ấn.

    Sai thủy quân thao diễn phép chèo thuyền. (Phép diễn, đặt đồ bơi chèo ở trên cạn, chọn người chèo giỏi vài trăm người khiến diễn tập, y như dáng đi thuyền. Buổi quốc sơ trong việc dụng binh thủy chiến rất giỏi, cho nên đầu mùa xuân thường sai diễn tập). Vua ngự xem, thưởng tiền cho các quân, mỗi thuyền đều 80 quan.

    Ngày ất hợi duyệt binh. (Bộ binh, thủy binh, tượng mã binh đều theo hướng mà bày dàn. Vua mặc áo trận, đeo gươm, ban phát hiệu lệnh. Bắt đầu duyệt bộ binh. Đội Trung hầu bắn súng lớn, các quân bắn súng tay đều 3 tiếng. Thứ đến duyệt thủy binh. Đội Trung hầu bắn súng lớn 3 tiếng. Thủy binh khai thuyền đua chèo. Rồi kế đến quân voi ngựa cũng ra như thế). Từ đó cứ đến đầu năm thì duyệt binh, thành lệ mãi mãi.

    Cấm quân dân vô cớ không được lên thành. Khi xe kiệu vua đi, ai phạm tất [đường vua đi] thì bị tội.

    Đúc chín khẩu súng lớn bằng đồng. (Lấy bốn mùa, và năm hành mà đặt tên, cái thứ nhất là Xuân, nặng hơn 17.700 cân, cái thứ hai là Hạ, nặng hơn 17.200 cân, cái thứ ba là Thu, nặng hơn 18.400 cân, cái thứ tư là Đông, nặng hơn 17.800 cân, cái thứ năm là Mộc, nặng hơn 17.100 cân, cái thứ sáu là Hỏa, nặng hơn 17.200 cân, cái thứ bảy là Thổ, nặng hơn 17.800 cân, cái thứ tám là Kim, nặng hơn 17.600 cân, cái thứ chín là Thủy, nặng hơn 17.200 cân).

    Đúc xong, làm bài minh để ghi.

    Bài minh rằng : “Năm Giáp ngọ sang miền Đông, năm Mậu thân đem quân về Gia Định, năm Tân dậu, tháng trọng hạ, lấy lại kinh đô, năm Nhâm tuất, tháng trọng hạ, đại quân ra miền Bắc, đến tháng bảy thắng trận, năm ấy đem quân về, cáo yết Thái miếu, làm lễ hiến phù, giặc nước quét thanh. Mùa xuân năm Quý hợi sai nấu những thứ đồng đã thu bắt được đúc chín khẩu súng lớn, đó là từ khẩu thứ nhất đến khẩu thứ chín này, tháng chạp công thợ hoàn thành, đặc mệnh khắc minh văn này để ghi”. Năm Gia Long thứ 15 [1816] đặt tên súng là Thần oai vô định thượng tướng quân.

    Kén những văn thần có tuổi và có đức sung việc dạy bảo hoàng tử và hoàng tôn.

    Lấy Lê Văn Phú và Phạm Nhữ Phong làm Thượng bảo thiếu khanh.

    Lấy Mai Hữu Thận làm thủ ngự nguồn Ô Da, Phạm Công Nhuận làm thủ ngự nguồn Trà Dinh, Nguyễn Văn Kim làm thủ ngự nguồn Ô Liêm, Trần Tuấn Thụy làm thủ ngự cửa Đề Di, Hoàng Văn Hưng làm thủ ngự cửa Đại Chiêm. (Ô Da, Đại Chiêm đều thuộc Quảng Nam, Trà Dinh, Đề Di và Ô Liêm đều thuộc Bình Định).

    Các tướng có người cho rằng Lê Chất là tướng đầu hàng mà danh vị lại ở trên mình, đem lòng thắc mắc. Chất không được yên lòng, bèn dâng sớ nói rằng : “Thần là người bất tài, mới theo về, so với các bề tôi khó nhọc muôn phần chưa kịp một. Nay đã được phong tước quận công, lại được Chưởng Hậu quân, lạm ở ngôi cao sang, không dám đương nổi. Xin cho xuống cùng hàng với Đô thống chế”. Vua không nghe, đặc biệt khiến cung chức như cũ.

    Dân các ngoại trấn Cao Bằng và Lạng Sơn ở Bắc Thành nhiều người đem việc chịu khống giản binh tố cáo ở thành. Thành thần đem việc tâu lên. Vua ban chiếu trả lời rằng : “Các ngoại trấn người Thổ người Nùng ở lẫn, Ngụy Tây không phân biệt, thu thuế điểm binh cùng một loạt. Nay dân Nùng xiêu tán, dân Thổ không khỏi chịu riêng gánh vác nặng, nên hạ lệnh cho các trấn thần xét rõ số người Nùng người Thổ, tâu lên để sửa đổi”.

    Nguyễn Văn Trương xin về nghỉ vì tuổi già. Vua không cho.

    Duyệt tuyển ở các dinh Quảng Bình trở về Nam.

    Khi mới lấy lại được Gia Định đã thi hành ngay phép duyệt tuyển. Sau vì liền năm chinh chiến nên phải hoãn lại. Đến nay mới nghị định cho các dinh từ Quảng Bình đến Gia Định đều thi hành phép duyệt tuyển, lấy năm Mậu và năm Quý làm khóa, mỗi dinh đặt một trường, quan văn quan võ khâm sai đều một người, tùy biện cai án một người. Bèn sai Chưởng quân Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Văn Nhân, Đô thống chế Phan Văn Triệu, Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế, Công bộ Trần Văn Thái, Hình bộ Nguyễn Tử Châu, Tham tri Nguyễn Quang Diệu, Nguyễn Hoài Quỳnh và Lê Cẩn, chia đi các dinh.

    Lời dụ rằng :

    “Phép duyệt tuyển là để thải người già điền người tráng, phân biệt nơi đông đúc nơi thưa thớt. Nhà nước đã có phép thường. Nay võ công đã xong, đặc biệt sai cử hành việc duyệt tuyển, bọn ngươi đều nên theo lẽ công, giữ phép nước, cốt sao cho được quân bình, để xứng với sự ủy thác”.

    Tiết Vạn thọ, cho bầy tôi ăn yến. Từ đó làm lệ thường.

    Ngày ất dậu, đặt đàn ở đồng An Ninh hợp tế trời đất. Vua bảo Lễ bộ rằng : “Tế trời là lễ lớn, sao có thể đơn giản được”. Bèn sai các quan Lễ bộ khảo kỹ lễ tế Giao, châm chước bàn định để thi hành.

    Bãi lễ tế chay. Lệ cũ hàng năm cứ đầu xuân đặt đàn làm lễ tế chay. Vua bảo học sĩ Nguyễn Viên rằng : “Việc tế chay rất là vô vị, nên đổi thói hủ ấy đi”. Bèn bãi.

    Sai quan đi Bình Định tế các tướng sĩ trận vong.

    Miễn tiền khoán kho [khoán khố] cho Gia Định. (ở các dinh Gia Định, những người làm đồn điền, là dân trong dinh thì mỗi năm thu tiền 1 quan, là người Thanh thì thu tiền 2 quan, để dùng vào việc sửa chữa kho công, gọi là tiền khoán khố).

    Sắc cho từ Quảng Bình trở về Nam phàm ruộng bỏ hoang mà Ngụy Tây chiếm làm quan điền trang đều trả hết cho dân, chiếu theo từng hạng công tư mà thu thuế.

    Chế xe voi, xe ngựa.

    Xây thành Thăng Long. Vua thấy quy chế của thành chật hẹp, muốn mở rộng thêm. Sai thành thần vẽ đồ dâng lên, sai các dinh quân đắp, những vật liệu cần dùng thì do quan trả tiền theo giá. Kẻ nào sách nhiễu tiền của dân thì bị tội, truy tang trả lại cho dân.

    Sai Lê Văn Duyệt đem quân đánh Mọi Thạch Bích [Đá Vách]. Người Mọi ở giáp giới đầu nguồn Quảng Ngãi, hằng năm quấy nhiễu làm khổ dân biên thùy. Vua cùng bầy tôi bàn kế đánh. Trước sai xuống dụ cho án trấn là Nguyễn Hoàng Đức rằng : “Ngươi nên truyền bá uy đức của triều đình, vỗ về dân biên giới, quân bình man đã định ngày đến”. Đến nay sai Văn Duyệt đi, cho Hàn lâm thị thư Trần Văn Lộc theo đi làm việc từ chương ở trong quân.

    Tha thuế sáp ong từ năm Nhâm tuất trở về trước cho người Man [Mọi] Đồng Hương dinh Bình Khang. Người Man vui mừng, đem sản vật địa phương đến dâng.

    Vệ úy vệ Kiện võ là Nguyễn Văn Điệu thú ở Nghệ An tự tiện đem vệ binh về Kinh, xin về Gia Định. Vua thấy tự tiện lìa bỏ nơi thú, dùng roi đánh mắng.

    Bắc Thành đóng gông giải sứ thần của giặc Tây Sơn là bọn Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi về Kinh. Trước kia Nguyễn Quang Toản sai bọn Đức Thận đi sứ sang nước Thanh, chưa tới Yên Kinh, người Thanh nghe tin Quang Toản đã bị diệt, cho sứ trở về. Thành thần phái người giải về Kinh. Vua tha tội và cho về. Vợ lẽ của Ngụy Nhạc và người họ là tên Đại tên Vạn cũng bị bắt đến bộ Hình. Tâu xin định đoạt. Vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì ?”. Đều tha cả.

    Ban cấp quần áo cho các quân thủy bộ và binh thú ở các thành các trấn.

    Cho Trần Công Hiến làm Khâm sai chưởng cơ, vẫn hành chức Trấn thủ Hải Dương.

    Tháng giêng nhuận, lấy Tri bạ Chính dinh là Hoàng Văn Diễn làm Cai bạ Quảng Nam.

    Xét hạch những viên thị hàn, nội hàn lấy 25 người bổ vào Thị thư viện.

    Lấy Trần Văn Phước làm Khâm sai chưởng cơ phó quản dinh Hữu thủy.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Đất Thái Nguyên nhiều lam chướng, những nhân viên công sai không quen thủy thổ, xin hạ lệnh cho trấn thần chọn người thổ trước hơi biết chữ sai làm cai tri để làm công việc các phủ huyện”. Vua y cho.

    Giảm bớt những quan lại viên dịch các phủ huyện tổng thuộc dinh Bình Định. Vua cho rằng ở Bình Định trước đặt danh sắc quan lại quá nhiều, bèn chuẩn định cho hai ty Xá lại ở dinh, mỗi ty 50 người, tịch sĩ 15 người. Sở thuộc, có một phủ (Quy Nhơn), ba huyện (Phù Ly, Tuy Viễn, Bồng Sơn), chín tổng và ba thuộc. Phủ đặt khám lý, chánh đề đốc, đề lãnh, phủ ký lục, mỗi chức một người ; huyện đặt cai huyện, ký huyện đều một người, chánh lại, trực sai đều 15 người, tổng đặt cai tổng một người, phó tổng một người, thuộc đặt cai thuộc một người, ký thuộc một người. Còn bao nhiều thì bãi hết.

    Định lễ tế xuân thu ở miếu cũ tại Gia Định.

    Trước là khi Thái miếu đã làm xong, vua dụ cho lưu trấn thần rằng: “Thấp đừng vin cao, hèn đừng thờ quý, đó là lễ vậy. Nay Thái miếu ở Kinh đã làm xong, việc thờ cũng đã có chỗ. Còn miếu cũ ở Gia Định thì những ngày tết Nguyên đán, Thanh minh, Đoan dương thì sắm lễ dâng cúng, các tiết khác thì thôi, không nên bày ra phiền”. Đến bấy giờ lễ thần lại tâu xin mỗi năm tế hai lần vào tháng đầu mùa xuân và mùa thu, còn các tiết tam nguyên(1. Tam nguyên : Những ngày rằm tháng giêng, tháng 7 và tháng 10, gọi là thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên.1) thì dùng hương đèn mà bái, để tỏ lòng nghiêm kính. Vua y lời tâu. Hạ chiếu cho lưu trấn thần thi hành.

    Sai thống lãnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái coi quế hộ [hộ tìm quế]. Sau hạ lệnh cho trấn thần ủy người đốc suất. Ai bóc trộm quế là bị tội. (Người bóc quế một nửa phải nộp vào quan, một nửa trả về công bóc).

    Khai mỏ bạc ở Tuyên Quang. Bọn Đàm Kỳ Trân, Vi Chuyển Ba người Thanh lãnh khai, mỗi năm nộp 80 lạng bạc.

    Tha việc binh dao cho dân xã An Quán (thuộc huyện Diên Phúc) dinh Quảng Nam, cho lệ vào Nội phủ để làm việc. An Quán là làng quê của Nguyên phi Tống thị cho nên đặc biệt gia ơn ấy.

    Bàn lập Nguyên miếu ở Thanh Hoa. Đình thần tâu rằng : “Nguyên miếu trước hợp thờ Tĩnh vương, Thái vương, Trừng quốc công, Lỵ Nhân công và Oai quốc công. Nay xin lập một tòa miếu chính, gian giữa thờ Tĩnh vương, gian tả thờ Thái vương, đều trông hướng nam. Lại ở bên tả miếu chính dựng riêng một miếu, gian giữa thờ Trừng quốc công, hướng về nam, gian tả thờ Lỵ Nhân công Tôn Thất Hán, hướng về tây. Duy Oai quốc công Nguyễn Ư Dĩ người họ ngoại, thế đại đã lâu xin nên bớt đi. Lại mỗi năm hai kỳ tế xuân thu và các tiết Nguyên đán, Đoan dương, tế Chạp (hai kỳ tế xuân thu, dùng cỗ xôi lợn, các tiết khác dùng cỗ nấu), trấn thần đem những người công tính(2. Công tính : Những người họ nhà vua về dòng dõi xa không phải về trực hệ của các chúa và các vua. 2) tới đó làm lễ cho rõ nguồn gốc”. Vua theo lời, chép làm lệ. (Tôn Thất Hán là con thứ hai Thái tổ, làm quan ở triều Lê đến chức Tả đô đốc, đánh Mạc chết trận, nhà Lê phong là Lỵ Nhân công ; Nguyễn Ư Dĩ, anh của Tĩnh hoàng hậu, làm quan đến chức Thái phó, phong Oai quốc công, là công thần khai quốc bực nhất. Năm Thiệu Trị thứ 5, truy tặng Trung quân đô thống phủ đô thống chưởng phủ sự thái sư, vẫn phong Oai quốc công, được tòng tự ở Thái miếu).

    Đặt lễ sinh ở Văn miếu 50 người, giám hiệu 1 người, điển hiệu 2 người, miếu phu 30 người.

    Sai các dinh trấn đều lập nhà Văn miếu, mỗi miếu đặt 2 người điển hiệu, lễ sinh và miếu phu đều 30 người.

    Ưu tuất những biền binh bị nạn bão. Mùa thu năm ngoái những biền binh các vệ Thần sách làm việc vận tải đường biển từ Bắc Thành đến Thanh Hoa, gặp bão, chết đuối hơn 500 người. Đốc trấn Tôn Thất Chương tâu lên. Vua thương xót, hạ lệnh cấp tuất như đối với binh chết trận (vệ úy tiền tuất 100 quan, phó vệ úy 50 quan, cai đội 30 quan, còn thì theo thứ bực mà giảm dần). Lại sai đặt đàn ở chùa Thiên Mụ để tế. Người Man [Mọi] ở bảy sách Mường Vanh, Cha Bôn, Thượng Kế, Trầm Bồn, Làng Thìn, Xương Cụm và Phá Băng thuộc đạo Cam Lộ đem sản vật địa phương vào cống (voi đực 4 thớt, trâu đen 4 con, ngà voi 2 chiếc, sừng tê 7 tòa, trống đồng 3 chiếc, sáp ong cân nặng 33 quan tiền, vải hoa mọi 2 tấm, vải trắng
    72 đoạn, dao lửa 90 cái, đá lửa 6 thùng). Vua cho triệu vào, hỏi mùa màng tốt xấu thế nào, sai quan khoản đãi rất hậu, cho chiếu chiêu an và bảo về. Từ đấy cứ hai năm cống một lần.

    Tha thuế thân năm năm cho các thợ và binh dân ở Gia Định. (Những thợ ở các ty Xá lại và Chiêm hậu bốn dinh, lễ sinh bản phủ, binh coi kho, lệnh sứ các đạo các thủ, người Thanh ở Trà Vinh, Trấn Giang và Cần Giờ, các vệ đội Tuần thành, Hùng diêm và An công, dân các đội nậu biệt nạp củi bó và vỏ cây).

    Tha thuế muối cho thuyền buôn Ba Xắc.

    Sai Gia Định lục ghi những người biền binh theo sang Vọng Các mà chết trận hay chết bệnh, đều cho bà con đem thực trạng tâu bày để cấp tuất. Rồi hạ lệnh xét hỏi người nào có con đã lớn thì kê tên tâu lên.

    Cho binh mới kén Bắc Thành thao diễn trận pháp, một tháng mới thôi, rồi chia ban cho nghỉ ngơi.

    Lấy Cai cơ Lê Văn Lân làm Lưu thủ Phiên Trấn.

    Cấp thêm lương bổng cho các tướng sĩ bình man. Dụ rằng : “Quảng Ngãi thóc mất mùa, người thiếu ăn. Các tướng sĩ ở ngoài, lương bổng dầu đã có định lệ, mà trèo đèo lặn suối khó nhọc, trẫm rất thương, vậy cấp thêm gạo tháng cho mỗi người một phương”.

    Tháng 2, Xí Xương Mã ở Lạc Hoàn sai ấp Ma Hạt vào cống (voi đực 2 thớt, ngà voi 1 cặp, sừng tê 2 tòa, sáp ong 40 bát). Vua vời vào yên ủi hỏi han. Sai Hộ bộ khoản đãi và ban cho nhiều hơn đối với người Man Cam Lộ. Khi về, sai Quảng Trị cấp cho 30 phương gạo, 100 quan tiền. Quân Man lưu ở đạo Cam Lộ cũng cho 100 phương gạo.

    Tế xuân ở Văn miếu. Vua thân hành đến làm lễ.

    Ngày Tân mùi, vua rước Từ cung về chơi quê cũ là làng An Du. Sai đội Trường xuân diễn tuồng cho dân chúng xem. Hôm sau xa giá đến Hồ Xá. Cho vời người địa phương đến hỏi đường thủy nơi nào có thể vận tải được. Sai dinh thần Quảng Bình dựng đài lửa hiệu ở cầu Thủy Liên để trông kho Lai Cách. Rồi vua đến kho An Trạch, cùng các quan đi theo bàn chế xe trâu xe ngựa để tiện việc vận tải trên cạn.

    Dân Quảng Bình, Quảng Trị có người dâng lễ mừng, vua cho tiền, bảo đừng dâng nữa. Ai có sự gì oan khuất thì cho đến hành tại tâu bày. Vua thân tự xét định. Nhân dân không ai là không vui mừng.

    Ngày Canh thìn, vua rước Từ cung trở về Kinh.

    Dựng nhà thủy các. Thưởng 400 quan tiền cho thủy quân.

    Đóng gông giải bọn Thượng thư Tây Sơn là Ngô Nhậm(1. Ngô Nhậm : Chính là Ngô Thời Nhậm, vì kiêng tên húy Tự Đức nên viết là Ngô Nhậm. 1), Phan Huy ích và Nguyễn Gia Phan đến Bắc Thành. Trước là bọn Nhậm thú tội, vua không nỡ giết, đặc biệt hạ lệnh cho giải về Kinh. Đặng Trần Thường dâng biểu nói : “Bọn Nhậm thân làm tôi nhà Lê mà cam tâm theo giặc, bày lời nói dối để lừa nhà Thanh, hãm đồng loại vào chỗ bất nghĩa, xét tội ác chẻ hết tre cũng khó biên hết, thực là kẻ có tội nhất trong danh giáo. Nếu kẻ này mà không giết thì răn bảo người sau sao được ?” Vua bèn hạ lệnh đưa ra Bắc Thành để nghị tội. Thành thần bàn cho là tội bọn Nhậm đáng phải giết, nhưng đã có chiếu nói rõ ngụy quan ra thú thì đều miễn tội, vậy xin tha bọn Nhậm tội chết, chỉ đánh để làm nhục. Vua y cho. Hạ lệnh kể tội ở học đường phủ Phụng Thiên (Tức là Quốc tử giám nhà Lê cũ) mà đánh đau. Nhậm bị đánh chết.

    Định điều cấm về thuyền buôn. Phàm thuyền buôn nước ngoài đến buôn, thì trầm hương, kỳ nam đều không được mua. Như có mua cột buồm và bánh lái thì phải do quan sở tại phê chuẩn mới được. Khi thuyền trở về, mua gạo để ăn, mỗi người được đóng 100 thưng làm hạn. Làm trái thì bị tội.

    Vua thấy trong trận đánh Thị Nại ngày nọ, súng đạn của Tây Sơn bị chìm đắm nhiều, bèn sai Phó đô thống chế binh dinh Tả thủy là Đào Văn Lương đốc suất binh dân lặn mò, được 160 cỗ súng và hơn 500 hòn đạn, đưa về Kinh.

    Lấy Vệ úy vệ Tiền nhất Thị trung dinh Túc trực là Trịnh Ngọc Trí làm Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách, Phó tướng Hữu quân là Nguyễn Đức Thành làm Phó đô thống chế Hữu dinh.

    Trấn thủ Sơn Nam thượng là Trần Đại Luật vì bệnh được nghỉ. Sai Chưởng dinh lãnh Phó trấn Thanh Hoa là Võ Doãn Văn làm Trấn thủ Sơn Nam thượng, Phó đô thống chế Nguyễn Đức Thành lãnh Phó trấn Thanh Hoa. Đại Luật chết, tặng Chưởng dinh.

    Sai Vệ úy vệ Hổ uy là Phan Văn Thúy đem quân đi thú Thanh Hoa.

    Người Thiều Châu nước Thanh là Lý Hòa Nguyên họp bọn đánh cướp mỏ Phước Tinh ở Thái Nguyên. Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đem quân đánh dẹp. Lý Hòa Nguyên trốn. Bắt được đồ đảng là Trâu Tôn, Lý A Tứ và Trần A Nhị đều chém cả.

    Cho mẹ Lê Chất là Đào Thị Thôn mỗi tháng 40 phương gạo, sai dinh thần Bình Định cấp cho hằng tháng.

    Hạ lệnh cho nhà trạm các địa phương mỗi khi tiếp đệ công văn, phải ghi rõ ngày giờ, để nghiệm chóng hay chậm.

    Các quản quân ở Thanh Nghệ và Bắc Thành có nhiều kẻ sách nhiễu quân nhân. Vua nghe tệ ấy, hạ chiếu cấm. Lời chiếu nói : “Năm ngoái kén lính, chia đặt người thống quản, mọi điều răn dạy còn văng vẳng bên tai. Thế mà quản quân lại có nhiều kẻ bòn lấn quân lính phàm những công việc cưới vợ lấy lẽ, cho đến làm nhà cửa, mọi vật cần dùng đều lấy ở quân lính, kẻ nào không theo thì mượn cớ việc công, thẳng tay đánh đập, khinh thường pháp luật như thế, thực không thể tha được. Nhưng nghĩ bọn ngươi theo hầu lâu ngày, muốn giữ cho được trọn vẹn nên không nỡ vội gia tội. Từ nay nên gìn giữ phép công, đừng noi thói cũ. Không thế thì nhà nước có hình phạt, ta cũng không thể vì các người mà che chở được”. Lại chiếu cho các quan thành và trấn để ý xem xét, nếu có người cố ý sai phạm thì phải tham hặc, không được dung túng.:rose: