052. Trang [0562-0573] - @gà xào gừng [Done]

14/11/15
052. Trang [0562-0573] - @gà xào gừng [Done]
  • [​IMG]
    Khi bệ từ vua dụ rằng : “Bọn ngươi làm việc đã lâu ngày, nay ủy cho trách nhiệm một phương thì nên thanh liêm cần cán mà giữ mình, noi theo điển thường của nhà nước, ngõ hầu không phụ chức mình”.

    Hiệp trấn Thái Nguyên là Nguyễn Đức Tư và Tham hiệp là Hoàng Đường có tội bị bãi. Lấy Hiệp trấn Hưng Hóa là Lê Nguyên và Tham hiệp là Nguyễn Thế Trung thay. Lấy Đốc học Phụng Thiên là Nguyễn Đình Tứ làm Hiệp trấn Hưng Hóa. Hàn lâm Võ Xuân Cẩn là Tham hiệp, Thị trung học sĩ Phạm Thích lãnh Đốc học Phụng Thiên.

    Thu thuế hai mỏ chì Võ Chấn và Khôn Hiển thuộc Thái Nguyên.

    Định lệ đình nghị. Chiếu rằng : “Nước nhà mới định yên, công việc còn bề bộn, ta một ngày muôn việc, sợ không thể chu tất được cả. Bọn khanh đều là người gần gũi, nên sáng suốt gắng làm để có ích cho chính trị. Từ nay, quan võ từ thống chế, phó đô thống chế và phó tướng trở lên, quan văn từ tham tri trở lên, mỗi tháng cứ bốn ngày mồng 1, mồng 8, 15, 23 thì họp bàn ở tả vu, phàm những việc mà các ty không giải quyết được thì phải bàn nhau mà xử định. Đến như sự thể quan trọng thì cũng chước lượng bàn bạc trước, rồi sau tâu xin quyết định.

    Cho Mai Tiến Vạn và Nguyễn Thụy làm Khâm sai chưởng cơ, Nguyễn Văn Tỉnh làm Thuộc nội cai cơ.

    Sai Cai cơ Nguyễn Kính Loan coi hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch.

    Đổi Tượng dinh làm Tượng quân, Tượng chi làm Tượng cơ.

    Định điều cấm về việc ẩn lậu suất đinh. Vua thấy phép cũ bỏ lâu, trong dân nhiều kẻ giả mạo, có chỗ lấy người sống làm chết, lấy người ở làm trốn, bèn chuẩn định phàm lậu 1 đinh thì xã trưởng bị 100 roi và đi hành dịch một năm, người cáo ra được thưởng tiền 30 quan ; lậu từ 2 đinh trở lên cho đến 10 đinh, thì cứ theo số mà gia thêm hạn hành dịch, người cáo ra được thưởng tiền 300 quan hay được miễn dao dịch 10 năm ; từ 11 đinh đến 15 đinh thì xã trưởng đi hành dịch vĩnh viễn, người cáo ra được miễn dao dịch suốt đời ; từ 16 đinh trở lên, thì xã trưởng bị tội chết, người cáo ra cũng được miễn binh dao suốt đời. Vu cáo thì bị phản tọa.

    Sai các địa phương chiếu các sở thủy lợi nguồn và đầm cho dân đấu giá lãnh trưng. Quan lại đều không được mua tranh của dân. Nếu trái lệnh cấm mà cầu lợi và thiên vị cho riêng thì đều xử theo luật vi chế.

    Lại định điều cấm về việc mua bán ruộng đất công. Theo lệ cũ thì công điền công thổ cho dân quân cấp, đem bán riêng là có tội, do đó nhân dân đều được lợi cả. Từ loạn Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều người đổi ruộng công làm ruộng tư, cũng có kẻ tạ sự việc công mà cầm bán ruộng đất công. Vua muốn chữa cái tệ ấy, bèn sắc định rằng phàm xã dân có công điền công thổ đều không được mua bán riêng, làm trái là có tội. Ai mua nhầm thì mất tiền. Nếu nhân có việc mà cho người mướn để chi dùng việc công trong xã thôn thì chỉ hạn cho ba năm, quá hạn thì xử tội nặng. Người nào tố cáo đúng thực thì thưởng cho ruộng nhất đẳng một mẫu, cày cấy ba năm, hết hạn trả về dân.

    Các địa phương gạo kém nhân dân thiếu ăn, nhất là Quảng Ngãi. Hạ chiếu tha 4 phần 10 thuế điền năm nay cho Quảng Ngãi, hoãn thu 5 phần 10 cho Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình. Thuế vụ chiêm ở các trấn Bắc Thành thì nộp thay một nửa bằng tiền.

    Vua nghĩ tới Thống nhung quận công Nguyễn Văn Hoàng có công nên miễn dao dịch cho 18 người cháu gọi bằng chú bác.

    Trấn thành Thanh Hoa tâu rằng : “Những thợ thuyền ở bốn xã thôn Kim Trì, Đam Khê, Lan Khê và Đới Sơn thuộc huyện Yên Mô lệ theo Bắc Thành làm việc, và xã Thiện Trạo thuộc huyện Yên Khánh biệt nạp vải trắng và chiếu trơn cũng do Bắc Thành mà nộp, đường sá xa cách, xin cho theo về trấn để tiện dân”. Vua y lời tâu.

    Các ốc Nha ở hai phủ Trà Vinh và Mân Thít thấy dân Man ở lẫn ở Lam Khê (thuộc huyện Long Xuyên), ruộng đất nhiều chỗ bị dân Hán [Việt] bá chiếm, bèn kêu ở Lưu trấn thần Gia Định, Lưu trấn thần sai Ký lục Vĩnh Trấn là Nguyễn Đức Hội đến phân hoạch giới hạn, có ai xâm chiếm thì phải trả lại hết.

    Lập đàn ở chùa Hà Khê, để tế tướng sĩ trận vong.

    Vua đến xem lễ, sai lễ thần đọc sắc tặng ở đàn, người nghe không ai là không cảm khích.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Thế nước sông Nhị Hà rất mạnh, đê bên tả bên hữu ven sông thuộc Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng, hạ nhiều chỗ vỡ lở, xin thuê dân sửa đắp để chống lụt mùa thu. Lại thủy đạo các trấn nhiều nơi ứ tắc, xin hạ lệnh cho trấn thần tùy thế khơi vét”. Vua theo lời tâu.

    Đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Thành. (Một đoạn ở xã Nại Tử Châu huyện Yên Lạc trấn Sơn Tây, dài hơn 220 trượng, một đoạn ở xã Kim Xà, huyện Yên Lãng, dài hơn 298 trượng, một đoạn ở xã Thổ Khối huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc, dài hơn 400 trượng, một đoạn ở xã Tào Nha huyện Nam Xang trấn Sơn Nam thượng, dài hơn 513 trượng, một đoạn ở thôn Ngọ Xá huyện Sơn Minh, dài hơn 178 trượng, một đoạn ở xã Mễ Trường huyện Thanh Liêm, dài 53 trượng, một đoạn ở xã Lại Trì huyện Thư Trì trấn Sơn Nam hạ, dài hơn 42 trượng) ; lại bồi đắp một đoạn hưu đê(1. Hưu đê : Đê cũ đã bỏ. 1) cũ (ở xã Vĩnh Thái huyện Phú Xuyên trấn Sơn Nam thượng, dài hơn 65 trượng). Chi tiền hơn 80.400 quan.

    Lấy Hoàng Trung Đồng làm Chánh Tuần hải đô dinh.

    Hộ bộ Bắc Thành là Nguyễn Văn Khiêm vào chầu. Nhân nói bạc thỏi của Ngụy Tây pha nhiều thiếc kẽm thậm chí có thỏi không đủ phân lạng, xin từ nay có đúc bạc thì khắc chữ để làm tin. Vua cho là phải. Dụ cho quản Đồ gia Bắc Thành là Trần Bình Ngũ rằng : “Các trấn ở Bắc Thành là nơi sản xuất vàng bạc, dân hay trà trộn làm gian, chỉ trộn chút ít mà được lợi rất to : Tệ giả mạo như thế phải trừ. Nay cho ngươi làm Trung bình hầu, phàm vàng thỏi bạc thỏi công hay tư, có dấu trung bình của ngươi thì mới được thông dụng. Ngươi nên cẩn thận. Kẻ làm gian xảo thì trị tội”.

    Văn Khiêm lại nói sau việc binh cách dân gian thiếu tiền, xin đúc thêm để nhà nước đủ dùng, nhưng quyền đúc tiền thì ở triều đình, nên có tiền mẫu thì mới khỏi tệ.

    Vua theo lời. Từng hạ lệnh cho bầy tôi bàn về tiền chế. Các quan đều nói : “Ngày xưa các tiên vương tính tiền của mà định nặng nhẹ, nhà Chu đúc tiền lớn, nhà Tần đúc tiền bán lạng, nhà Hán làm tiền du giáp(1. Du giáp: Tiền dáng như lá du (bưởi) lá giáp (chầm kết).1), đến Văn đế lại đúc tiền tứ thù(2. Tứ thù: Tiền nặng 4 thù, thù là 1/24 của lạng. 2), đời sau lại làm tiền yêu(3. Đồng tiền nặng 7 phân 3 thù gọi là tiền yêu. 3) tiền ấu(4. Đồng tiền nặng 4 phân 5 thù gọi là tiền ấu. 4) hoặc nhân nhẹ mà làm ra nặng, hoặc nhân nặng mà làm ra nhẹ, đều là tùy tiện để ứng phó với sự cần kíp của dân mà thôi. Nay xin đúc đồng làm tiền, vành nên mỏng để tiện cho dân dùng”. Vua cho là phải.

    Hạ chiếu dụ Lê Văn Duyệt và các tướng sĩ bình Man rằng : “Bọn ác Man gây vạ, dân ngoài biên không được yên. Tướng sĩ các ngươi phải khó nhọc, lặn suối trèo non, thực là vì việc nhà vua mà phải thế. Các ngươi theo chinh chiến đã lâu, chưa được nghỉ ngơi, nay đến tiết trời nóng bức, lam chướng lại thịnh, thấy các ngươi khó nhọc, lòng ta rất thương. Vậy cho 5.000 quan tiền ủy cho Văn Duyệt chia cấp. Tựu trung ai có công trạng khác nữa thì làm biểu báo lên. Thuốc thang ở trong quân cũng tâu ngay xin gởi phát”.


    Vua đến cửa Eo, theo sông Nghi Giang, qua Thai Dương lên bờ trông lũy cũ ở Quy Sơn, quay lại bảo các bầy tôi đi theo rằng : “Núi này phía đông giáp biển, phía tây có phá Hà Trung, cũng là một nơi hình thắng. Tây Sơn đắp lũy ở đấy, toan muốn đặt hiểm để tự chủ, không bao lâu bị quân ta đánh thua, mới biết được thua là ở đức chứ không ở hiểm”. Lại xuống thuyền đi xem hình thể núi Khúc Tượng, hôm sau mới về.

    Tháng 6, vua xem Tôn Thất phả. Sai học sĩ Nguyễn Viên xét rõ các phái hệ xa gần, phát 3.000 phương gạo lương chia cấp cho công tộc và công tính theo thứ bậc khác nhau. (Công tộc(5, 6. Công tộc là những người về dòng các chúa - Công tính là dòng họ xa hơn. 5) 2.100 phương, công tính(6) 900 phương).

    Dựng cây đo bóng ở sân điện.

    Lấy Nguyễn Đức Xuyên kiêm quản Tàu vụ. (Phàm thuyền buôn nước ngoài đến Kinh và Quảng Nam thì ủy người đến khám mà chiếu thu thuế. Còn ở các thành và dinh trấn thì cho quan địa phương cứ thực tâu lên, y lệ thu thuế, vẫn do quan quản Tàu vụ làm sổ dâng lên).

    Lấy Nguyễn Tăng Địch làm Hiệp trấn Thanh Hoa, Trần Văn Đại làm Hàn lâm cáo chế, Lương Tiến Tường, Nguyễn Hữu Phượng làm Hàn lâm

    thị thư, Trần Ngọc Thành, Trần Văn Phú, Nguyễn Văn Khiêm sung Hàn lâm viện.

    Đệ nhất kỷ - Quyển XXI - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Bắt đầu đúc tiền Gia Long thông bảo. Sai cai đội Cáp Văn Cẩn trông coi công việc. Đúc xong đưa 1.000 đồng ra Bắc Thành để đúc theo cho có quy thức nhất định. (Mẫu tiền, mỗi đồng đường kính 5 phân 5 ly, mỗi quan tiền nặng 2 cân 4 lạng).

    Sai các dinh ở Gia Định chiêu tập quân dân xiêu tán, Dụ rằng : “Gia Định từ khi dấy binh, hằng năm chinh chiến, đi phải mang theo, ở thì phải đưa tiễn, dân cũng mệt nhọc. Trong lúc nhiều việc, hoặc có kẻ chạy đông chạy tây, trốn tránh vào rừng núi để tạm lánh phu dịch. Nay nghịch tặc đã trừ, binh cách đã dứt, nên dụ bảo rộng rãi, khiến cho người ta vui vẻ quay về. Nếu có kẻ tình nguyện đầu quân, cho quan sở tại làm sách tâu lên, không thì cũng đều cứ trở về hương lý để cùng hưởng Phước thái bình”.

    Lại sai lưu trấn thần đưa thư sang Chân Lạp nói phàm có dân Hán [Việt] ngụ cư ở đó thì đưa trả về hết.

    Đúc ba cái triện nhỏ bằng bạc. Một cái khắc bốn chữ “Văn lý mật sát(1. Văn lý mật sát : Lời lẽ văn xét kỹ.1)”, phàm chiếu văn, sớ sách thì dùng để đóng chỗ giáp lề, một cái khắc “Bảo”, khi giấy tờ có tẩy cải gì thì dùng, một cái khắc bốn chữ “Đồng di hiệp cung”(2. Đồng di hiệp cung ; Công đồng đều thỏa thuận. 2), phàm Công đồng truyền thị việc gì thì dùng đóng ở chỗ giáp lề ; tẩy cải cũng dùng. Hạ lệnh mồng 1 tháng 7 thì bắt đầu dùng.

    Cho Phó thống Hậu đồn quân Thần võ là Nguyễn Văn Khánh làm Khâm sai cai cơ.

    Đóng các thuyền hải đảo, thủ quyển, sam bản(3. Thuyền đi biển, thuyền đầu cong, thuyền ván sam. 3), sai Công bộ Trần Văn Thái trông coi công việc.

    Án thủ Hà Trung là Nguyễn Văn Thuận sửa sang đường quán, lấy riêng của dân hơn một vạn quan tiền, rồi bắt quân làm thay. Việc phát ra, Thuận bị giết, tịch thu gia tài. Hạ lệnh cho trấn thần phát hơn 3.800 quan tiền công cấp cho những lính làm thay.

    Lại tha ba năm tô thuế cho dân xiêu dạt ở Thanh Hoa. Những người lưu tán chưa thành án cũng được hoãn thu thuế. Sai trấn thần xét tâu để tha. Trấn thần lại nói: “Ba đội thủy du(4. Thủy du : Dầu nước.4), vân đằng(5. Vân đằng : Mây có vân. 5) và diêm tiêu dân số điêu hao nhiều, xin hoãn thuế cho”. Vua y cho.

    Chính biên

    Hạ lệnh từ Nghệ An trở ra Bắc phàm ngụy quân theo về đã được lục dụng rồi thì đều được tha thuế thân.

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Các động sách Tây Nghiễn, Ngưu Đầu, Bạch Sa và Ngư Châu thuộc châu Vĩnh An trước kia chính hóa của triều đình chưa tới, nay trấn thần Yên Quảng tuyên dương đức ý, rộng đi chiêu dụ vỗ về, nhân dân đều vui vẻ quy phục. Xin hạ lệnh cho làm sổ sách đinh điền, đợi sau bàn định thuế khóa”. Vua y theo.

    Lê Văn Duyệt thấy quân Man trốn chạy vào núi sâu, chưa có thể tiễu trừ hết, xin đóng quân ở đất Trà Khúc rồi sẽ tính dần phương lược. Vua chiếu bảo rằng : “Nay trời hè mưa lụt, tướng sĩ lăn lộn nơi lam chướng, bị ốm nhiều, tiến đánh thực là chưa tiện. Gần đây gọi binh Bắc Thành, định sai đến theo đánh giặc, nhưng vì nghĩ việc vận tải lương thực trong quân không đủ nên tạm lưu ở Kinh, nay cũng dần sinh tật bệnh rồi. Phàm hành binh cần phải có mưu lược, việc binh man đã ủy thác cho khanh, khanh nên lượng tính sự thế, nếu cơ có thể đánh được mà nên thêm quân, thì tâu ngay xin điều khiển ; bằng chưa có cơ đánh được, thì nên dâng biểu tâu lên, để thả những lính đã gọi cho về, để khỏi tốn lương”.

    Hồng Mao sai sứ đến hiến phương vật, dâng biểu xin lập phố buôn ở Trà Sơn dinh Quảng Nam. Vua nói rằng : “Hải cương là nơi quan yếu, sao lại cho người ngoài được !” Không cho. Sai trả vật lại mà bảo về.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ- QUYỂN XXI
    THỰC LỤC VỀ THẾ CAO TỔ HOÀNG ĐẾ

    Quý hợi, Gia Long năm thứ 2 [1803], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, lễ thu hưởng.

    Lấy Chưởng cơ Nguyễn Đình Tuyển lãnh chức Trấn thủ Thái Nguyên.

    Dựng nhà đốc học ở Quốc tử giám. Lấy Phan Đăng Ưng làm Đốc học chính đường, Nguyễn Viết Ưng làm Đốc học giáp phó đường, Trương Chí Lý làm Đốc học ất phó đường. Định phép khảo khóa học trò.

    Chiếu rằng : “Vừa đây Tây Sơn nổi loạn, dao dịch nặng nề, nghề học trễ nải. Nay võ công đã định, văn giáo mở mang. Vậy định lấy hai tháng trọng mùa xuân và mùa thu làm kỳ khảo khóa. Phàm ai có theo việc cử nghiệp, không kỳ quân hay dân, cho nộp quyển ở hai học đường để ứng khảo. Người nào thông văn lý thì cho miễn binh dao một năm, hoặc nửa năm, mãn hạn thì khảo lại. Người nào học tiến thì lại cho miễn binh dao như cũ, không tiền thì truất đi, để tỏ sự khuyến khích. Học trò các ngươi đều nên giữ thành thực mà cố gắng để học tiến lên, đợi khoa thi mà dự trúng thì sẽ được lục dụng”.

    Lấy Lê Văn Nguyên sung Hàn lâm viện, Trần Lợi Trinh và Lê Phong sung Cống sĩ viện. Bổ Nguyễn Khoa Hảo là con Tham chính Nguyễn Khoa Thuyên và Trần Phước Hiển là con Tham mưu Trần Phước Nhàn làm Hàn lâm viện thị thư, Hoàng Minh Triết là con Phó đô thống chế Hoàng Công Thành sung Hàn lâm viện.

    Cho Phó thống Tiền đồn Hậu quân là Đặng Đức Bính làm Khâm sai chưởng cơ.

    Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa.

    Sai Thuộc nội cai cơ Nguyễn Văn Đức quản giữ ba đạo Cần Giờ, Vũng Tàu và Đồng Tranh. Văn Đức tâu rằng : “Cần Giờ trước có quân ba đội Bình hải, gần đây trốn đi gần hết. Xin hạ lệnh cho cai đội Tiền thủy là Bùi Văn Hạnh mộ dân ngoại tịch lập làm đội Bình hải cho lệ theo để sai khiến”. Vua y cho.

    Vua nhớ thổ mục sách Quảng Địa ở Thanh Hoa là Nguyễn Đình Ba ứng nghĩa có công, truy tặng quận công.

    Lấy Nguyễn Quang Huyên và Nguyễn Ngọc Cơ làm Thiêm sự Hộ bộ.

    Tiết Thánh thọ (ngày 19 tháng này là ngày sinh nhật của Hoàng thái hậu), vua đem bầy tôi đến chúc mừng. Hằng năm lấy làm lệ thường.

    Tổng binh cai cơ hành Lưu thủ Trấn Biên là Võ Tiến Đẩu chết. Tiến Đẩu có công theo đi Vọng Các, tặng chức Chưởng cơ, cho tiền tuất 300 quan. Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Triêm làm Lưu thủ Trấn Biên.

    Đô thống chế lãnh Trấn thủ Kinh Bắc là Phan Tiến Hoàng, Hiệp trấn là Nguyễn Duy Hợp, Tham hiệp là Nguyễn Văn Hoàng, vì xét hỏi việc hình không đúng, đều bị tội bãi chức. Cho Lưu thủ Phú Yên là Phạm Tiến Tuấn làm Khâm sai chưởng cơ lãnh Trấn thủ Kinh Bắc, Cai án Tiền quân là Thái Văn Minh làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Hoàng làm Tham hiệp.

    Vua nhiều lần đi xem Kinh thành. Nhân dân đem việc đón kêu, lính tiền đạo đuổi đi. Vua nhân dụ quản đội Tiểu sai là Võ Viết Bảo rằng : “Việc ngục tụng đều có nơi phụ trách, thế mà dân phải kêu ca không thôi thì ở trong ắt có duyên cớ, nên nhận cho để biết hết thực hư”.

    Hạ lệnh từ nay các dinh trấn đệ dâng án tội nặng thì trước phải do bộ Hình thẩm duyệt, đình thần xét lại, rồi sau mới tâu lên.

    Vua đến kho Thọ Khang, triệu Hộ bộ hỏi số thóc gạo xuất nhập. Nguyễn Kỳ Kế lần lượt tâu thưa, nhân đó xin thêm lính kho. Vua y cho.

    Cấp tiền gạo cho các biền binh Gia Định nghỉ về quê quán. Vua bảo bầy tôi rằng : “Biền binh Gia Định theo ta chinh chiến, bao năm khó nhọc, nay về quê nghỉ, trong đó hoặc có người không có điền sản thì lấy gì

    chi dùng cho đủ”. Sai ngay lưu trấn thần phát tiền kho 30.000 quan và

    30.000 phương gạo để chia cấp cho. (Chia làm năm hạng : Chánh vệ, chánh chi, mỗi người 7 quan tiền và 7 phương gạo ; phó vệ, phó chi, cai cơ, mỗi người 6 quan tiền, 6 phương gạo ; trưởng hiệu, cai đội, mỗi người 5 quan tiền và 5 phương gạo ; phó đội, tham luận, tri bạ, mỗi người 4 quan tiền và

    4 phương gạo, đội trưởng, cai án, cai hợp, thủ hợp và quân nhân, mỗi người 3 quan tiền và 3 phương gạo).

    Phó tướng quân Chấn võ là Nguyễn Văn Lợi chết. Lợi có công theo đi Vọng Các, tặng chức Chưởng dinh và cho 500 quan tiền.

    Đắp đồn Hà Trung. Vua thấy kho cũ Hà Trung cách sông hơi xa, vận chuyển không tiện, bèn sai giám thành Nguyễn Văn Yên đến xem đất ở gần sông, phái quân dân xây đắp đồn mới, dời dựng kho tàng. Nhà dân nào phải dời đi, mỗi hộ cấp cho 5 phương gạo ; đất ruộng thì trả theo giá ; ruộng đã gieo cấy rồi thì mỗi mẫu cấp cho 7 hộc 20 bát thóc.

    Bắc Thành nước to, đê vỡ, lúa ruộng ngập mất, nhà dân bị trôi mất nhiều. Hạ chiếu cho thành thần vận chở tiền gạo chia đi chẩn cấp. Lại sai các trấn thần khám xét phân số lúa ruộng tổn thương để tâu lên.

    Lại định điều cấm về thuyền buôn. Phàm thuyền buôn nước ngoài, không được mua riêng vàng bạc, chở trộm tiền đồng. Làm trái thì tang hóa thu hết vào quan, kẻ bán vàng bạc thì bị tội đồ.

    Quản cơ Hữu uy là Hồ Văn Hoạch và Phó quản cơ là Hồ Văn Điềm lạm lấy tiền của quân. Việc phát, bị giết.

    Tháng 8, sai Lễ bộ định phép thờ cúng ở miếu Lê Thánh Tông (miếu ở xã Phú Xuân, dựng ở buổi quốc sơ), mỗi năm hai tháng trọng mùa xuân mùa thu, sai quan đến tế.

    Cấp lương hằng năm cho các thái trưởng công chúa và trưởng công chúa(1. Thái trưởng công chúa là cô vua ; trưởng công chúa là chị em với vua. 1) theo thứ bậc khác nhau.

    Cha Lê Văn Duyệt là Lê Văn Toại vào yết kiến. Vua yên ủi và hỏi thăm : “Duyệt có mấy em?”. Thưa : “Năm em”. Lại hỏi : “Những người ấy có con chưa?”. Thưa : “Em Duyệt là Phong đã có 2 con, đứa lớn tên là Yên, Duyệt nuôi làm con.” Vua bảo : “Con của anh em cũng như con của mình, Duyệt thế là có người kế hậu rồi”. Nhân nói chuyện cũ giờ lâu, ban cho áo khăn rồi cho về.

    Chưởng cơ quản vệ Nội trực là Lê Văn Tín chết. Văn Tín có công theo đi Vọng Các, tặng Chưởng dinh.

    Vua thấy Quảng Đức ít thóc, hạ lệnh cho các thuyền của quan và dân ở Gia Định tới Kinh đều được chở gạo để bán. Do đó chỗ có chỗ không trao đổi được với nhau, lương thực của dân thêm nhiều.

    Định lệ tế tự. Bộ Lễ tâu rằng : “Việc thờ công thần, theo thiên “Bàn canh” sách Thượng thư chép thì cho tòng tự ở lễ Đại chưng, theo sách Chu lễ thiên “Tư huân” thì cũng phối hưởng lễ Đại chưng, đều dùng tháng quý đông. Từ Hán Ngụy trở lên thì phối hưởng ở lễ Đế, dùng tháng mạnh hạ. Từ Đường Tống trở xuống, thì phối hưởng ở lễ Đại cáp, cũng trong tháng quý đông. Đều là tòng tự ở sân miếu, chưa lập miếu, mỗi năm đều tế một lần. Điển lễ nhà Minh thì đã phối hưởng ở miếu, lại lập miếu khác ở núi Kê Minh, đợi khi tế miếu hưởng rồi lại sai quan đến miếu ấy để tế. Đều là tôn đức báo công để khuyến khích những bầy tôi sau này. Nay noi theo lệ trước, cứ bốn tháng quý tế công thần thì đem lẫn cả lịch đại đế vương cùng những người không được dự thờ để tế chung ở đó, như thế thì lễ chưa yên. Xin đều lập miếu riêng để tế. Nay ở Kinh chưa có miếu công thần, hãy tạm dùng đàn Tiên sơn để tế. Còn ở ngoài thì miếu Hiển trung Gia Định, miếu Hà Ra sơn ở Diên Khánh, miếu Bát Giác đường và miếu Thị Nại ở Bình Định, miếu Cù Mông ở Phú Yên, đều lấy ngày canh hai tháng trọng xuân và trọng thu để tế. Lại thiên “Tế pháp” sách Lễ ký chép rằng : “Những người thi pháp lệnh cho dân thì nên thờ, chết vì siêng việc thì nên thờ, khó nhọc để yên nước thì nên thờ, chống được nạn lớn thì nên thờ, ngăn được họa lớn thì nên thờ”. Nay các đền tạp nhạp, hợp với tự điển xưa thì ít, gián hoặc có tục truyền là linh dị thì phương dân tùy xứ lập đền, noi theo đã lâu. Phàm việc tế thì nên chuyên, không nên chia, vì chuyên thì kính, chia thì nhàm. Vậy xin ở Kinh và các nơi lỵ sở dinh trấn, đều lập miếu Hội đồng để hợp thờ những vị trong cõi nên thờ. Cứ đến ngày nhâm hai tháng trọng xuân trọng thu thì sai quan đến tế để tỏ chuyên nhất. Lại việc tế Lệ(1. Lệ : Tế trừ ôn dịch. 1) gọi là tế Na, dùng tháng quý xuân, tháng trọng thu và tháng quý đông. Tiền Hán thì gọi là tế Bạt trừ, Hậu Hán thì gọi là tế Khế từ, đều dùng ngày mồng 3 tháng 3, ngày mồng 5 tháng 5 và tháng 12 trước Chạp một ngày ; nhà Đường thì gọi là tế Lệ, tế vào ngày Thanh minh tháng 3 mùa xuân, ngày rằm tháng 7 mùa thu và ngày mồng 1 tháng 10 mùa đông, từ Kinh cho đến ngoài đúng ngày đặt tế. Đều là để đuổi ôn dịch, trừ tai ác, mà việc tế thì thưa nhặt không giống nhau. Nay xin châm chước định làm mỗi năm hai lần tế, ở Kinh và ở các dinh trấn, mùa xuân thì lấy tháng 3, mùa đông thì lấy tháng chạp. Đến kỳ tế thì 3 ngày trước dự cáo, đến ngày thì tế. Tế xong thì nổ súng để tống đi”. Vua cho lời tâu là phải. Sai chép làm lệ.

    Chưởng cơ quản vệ Thần võ là Nguyễn Văn Kỷ chết. Văn Kỷ có công theo đi Vọng Các, tặng Chưởng dinh.

    Miễn dao dịch cho dân ở đạo Côn Lôn thuộc Gia Định, cho lệ thuộc vào tấn thủ Cần Giờ để đi tuần xét.

    Sai Bình Định thu thuế đầm nguồn như lệ. Trước là vua thấy Bình Định gặp nạn binh lửa lâu ngày, những nơi đầm nguồn đều cho thu giảm thuế. Vua nói : “Việc thu giảm thuế là do ơn đặc biệt, sao được vin vào đó mà nài xin. Vậy hạ lệnh cứ chiểu lệ mà thu”.

    Dân Quảng Nam đói. Sai phát hơn 5.000 phương gạo kho để chẩn cấp.

    Lưu trấn thần Gia Định tâu xin đặt thêm thuộc viên để coi việc thu thuế thuyền buôn. Vua nói : “Thuế buôn đã có các dinh thần chuyên giữ, nếu đặt thêm nữa chỉ thêm phiền nhiễu thôi”. Vua không cho.

    Lưu trấn thần lại nói : “Ruộng quan điền ở các dinh trước bị Tây Sơn bá chiếm, sau khi quân nhà vua đã lấy lại được Gia Định thì đã đem hết trả dân, mà ngoài chính ngạch tô ruộng, lại thu bội một phần để giúp quân phí. Nay binh cách đã yên, xin miễn số thu ngoại ấy”. Vua cho là phải.

    Tha số thuế sắt thiếu cho đạo Kiên Giang.

    Vua bàn việc đi Bắc tuần. (Người Thanh đưa thư nói sứ thần ta là bọn Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đã đến Yên Kinh, vua Thanh sai án sát sứ Quảng Tây là Tế Bố Sâm sang tuyên phong).

    Sai Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm và Trần Văn Thái lưu giữ kinh thành, Tống Phước Lương và Nguyễn Vĩnh Thị đem quân thủy bộ tiến trước.

    Ngày Bính Dần, xa giá từ Kinh sư đi ra. Nguyễn Văn Trương, Lê Chất, Nguyễn Đức Xuyên đều đem quân sở bộ và các quân Thị trung, Thị nội, Túc trực, Thần sách đi theo hầu.

    Ngày Canh ngọ đến Quảng Bình.

    Châu Bố Chính ngoại đói, sai phát 1.500 phương gạo kho để chẩn cấp.

    Ngày Quý dậu, xa giá đến Nghệ An, đóng lại ở hành cung Hà Trung. Trấn thủ Hoàng Viết Toản và Hiệp trấn Hồ Thế Học vào lạy ra mắt. Vua hỏi thăm dân tình đau khổ thế nào, và sắc rằng dân sở tại sửa đắp đường quan mỗi 15.000 trượng thì cấp cho 10.000 phương gạo, người cung ứng cỏ rơm cho voi ngựa thì mỗi ngày cấp 15 phương gạo ; cầu cống có gãy nát thì dùng quân lính mà sửa chữa, không được động dụng sức dân.

    Vua thấy dân Nghệ An đói, sai phát chẩn. Chiếu rằng :

    “Trấn các ngươi sau cơn binh lửa, mà gánh vác dao dịch chưa được nghỉ ngơi. Năm nay lại mất mùa, mặt dân xanh như rau cả, lòng trẫm rất thương. Vậy phát gạo kho 35.000 phương gạo để chẩn cấp, tổng trưởng, xã trưởng kẻ nào xén bớt thì xử tội chết”. Lại hoãn thu 5 phần 10 thuế biệt nạp năm nay.

    Tha thuế trầm hương năm nay còn thiếu cho dân xã Chi Quan. (Dân xã Chi Quan mỗi người hằng năm phải nộp trầm hương và tốc hương đều một cân. Năm nay thiếu thuế trầm hương hơn 30 cân).

    Sắc cho các xã dân từ Nghệ An ra Bắc, ai có việc đau khổ oan khuất gì thì cho đến hành tại tâu bày. Sai văn thần là bọn Nguyễn Viên thu nhận các đơn kêu, tâu lên xin xét đoán. Kẻ nào vu cáo thêu dệt thì bị tội. Cấm bọn điêu hoạt, chặn bọn hào cường. Nơi nào có đặt những danh sắc riêng (như loại thông huyện, thông xứ) đều cấm. Lòng dân vui mừng.

    Ngày Bính Tuất, trú tại hành cung Nghệ An.

    Người huyện Nghi Xuân là Nguyễn Công Trứ điều trần mười việc. Sai bộ Lại duyệt kỹ để tâu.

    Ban áo mũ cho bọn Hoàng Viết Toản, Trịnh Ngọc Trí, Hồ Văn Bôi, Nguyễn Văn Khiêm và Nguyễn Đình Đức.

    Sai Thanh Hoa và các trấn Bắc Thành xét lúa ruộng và giá gạo ở sở tại, cứ thực tâu lên.

    Tháng 9, sai Bắc Thành chế quân phục cấp cho các quân, chi tiền hơn 26.800 quan.

    Cho 600 người quân Nghệ An hộ dẫn thuyền lương ở kênh Sắt. Khi thuyền đến Lãnh Khê, bốc lên 1.000 phương gạo chứa tại đồn Thổ Sơn để cấp cho quân.