058. Trang [0628-0638] - @Lazer (done)

14/10/15
058. Trang [0628-0638] - @Lazer (done)
  • Tuyên úy đại sứ châu Bạch Thông trấn Thái Nguyên là Ma Thế Cố cùng em là Thế Nhi cưỡng lấy của cải của thổ dân. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua nói : “Anh em Thế Cố tội đáng giết cả. Nhưng nghĩ nơi biên cương xa xôi mới theo, chưa hiểu luật lệ, tạm tha cho. Hạ chiếu cho thành thần đòi lại tang vật trả dân, cất chức Thế Cố, sai theo thành thần sai phái, mà chọn người khác quản lĩnh việc châu”.

    Triệu biền binh vệ Trung uy ở Gia Định về Kinh. Vua nghĩ có công theo đi đánh trận đã lâu, thưởng cho từ phó tướng trở xuống lương tiền theo thứ bực khác nhau.

    Quan tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên tâu dâng sổ thuế thuyền buôn hai năm Quý hợi và Giáp tý. Vua sai lấy hơn 9.000 quan tiền thưởng cấp cho các quan trong ngoài.

    Chở 100 vạn quan tiền kho Bắc Thành đến Nghệ An để chuyển nộp vào Kinh sư.

    Ngày Đinh mùi, dựng điện Thái Hòa. Thưởng cho lính và thợ hơn 1.400 quan tiền.

    Gia Định mất mùa, lại cấm dân nấu rượu.

    Sai Gia Định lượng cấp binh thuyền hộ tống quan tài của Thiếu phó Tôn Thất Mân về Kinh.

    Sai Phó vệ úy vệ Hữu dực là Lê Xuân Quang đem lính và thợ đi lấy gỗ ở nguồn Cam Lộ ; sai dinh thần Quảng Trị phát thêm binh và dân chở giúp, mỗi tháng cấp cho mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo.

    Thêm số phu trạm cho các trạm ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vì đường đi qua nhiều núi, leo trèo lặn lội khó nhọc.

    Tháng 2, tế xuân ở Văn miếu. Vua thân đến làm lễ.

    Sai Hộ hộ tra xét tiền lương các trấn Bắc Thành. Các trấn nhiều nơi nhân việc xây dựng, chi tiêu quá lệ, bộ thần hạch tâu. Vua cho rằng buổi nước mới yên, mọi việc còn nhiều kinh phí, chưa có định lệ, miễn đòi lại. Nhân có sắc rằng từ nay có xây dựng gì mà động đến của công thì trước phải do thành phần xét định, không được tự chuyên. Làm trái, dẫu số chi có thực, cũng bắt bồi thường.

    Tham tri Lễ bộ là Trần Hưng Đạt tâu xin chọn quan to nhiều tuổi có đức, gia cho hàm thiếu sư, thiếu phó, để sung việc giảng tập cho hoàng tử, hoàng tôn. Vua dụ rằng : “Trẫm ở gia đình được dạy dỗ rất nghiêm, thực do công thánh dạy dỗ không hề nhờn vậy. Nhưng dạy quý ở lúc còn sớm, mà học thành công là nhờ ở thầy. Nên được người chính trực đem lời ngay đạo ngay mà dẫn bảo thì mới được”.

    Hoàng tử thứ tư 15 tuổi, sẵn tính thông minh, vua thường khuyên học. Một hôm cưỡi thuyền thủ quyển(1. Thủ quyền : Nghĩa đen là thuyền mũi cuốn. ở Huế có thứ tròng ngao, người ta dùng để đi chơi trên sông Hương, ở phía mũi căng một cái bong để che nắng, khi trời mát thì cuốn lại, phải chăng đó là thuyền thủ quyển ? 1) của vua đi chơi xem sông Hương. Vua nghe tin giận. Hoàng tử thứ tư sợ hãi, kíp xin chịu tội. Vua gọi đến trước mặt, đánh mắng. Nguyễn Hoàng Đức và Lê Văn Duyệt cố sức xin không được. Sau đó triệu thị học trách về tội không hay can ngăn. Rồi sai Lễ bộ Đặng Đức Siêu kiêm sung phụ đạo. Lại sai Hàn lâm thị thư và thị trung cai đội đều hai người, ngày ngày vào phủ để xem siêng năng hay trễ nải. Từ đó hoàng tử thứ tư học ngày càng tiến.

    Sai hai đội Tả mã và Hữu mã diễn tập phép xe ngựa.

    Điện Cần Chánh làm xong. Bầy tôi dâng biểu mừng. Vua ban yến theo thứ bực. Thưởng cho lính và thợ 6.000 quan tiền.

    Tha giảm tô thuế năm nay cho các địa phương. Chiếu rằng : “Chăm lo và thương xót ân tình của dân là việc đầu tiên trong vương chính. Nay nước mới định, kẻ cùng thiếu còn chưa đầy đủ. Trẫm muốn gia ý vỗ về để dân đỡ khổ. Lại nghĩ thiên thời địa lợi nhiều chỗ không đều, mà dao dịch thuế má cũng có xa gần nặng nhẹ không như nhau. Vậy hạ lệnh tha và giảm tô thuế theo thứ bậc khác nhau. (Quảng Đức, Quảng Trị, thuế ruộng thuế thân và tiền đầu quan đều giảm 5 phần 10 ; Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Nghệ An thuế ruộng giảm 4 phần 10, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, thuế ruộng giảm 5 phần 10, Thanh Hoa nội, ngoại, thuế ruộng giảm 3 phần 10, các trấn Bắc Thành, thuế ruộng giảm 2 phần 10. Các dinh đạo ở Gia Định, thuế ruộng đã cho giảm 2 phần 10, nay cứ chỗ phải thu 8 phần chiết làm 10 mà giảm 2).

    Bầy tôi dâng biểu xin vua tiến xưng tôn hiệu, đại lược rằng : “Trộm nghĩ “Hoàng” là bao trùm thiên hạ, “đế” là chủ tể thiên hạ. Cho nên đứng ngôi chính trong thiên hạ, thì tất nhận tên lớn của thiên hạ, đó là để nối chính thống, truyền đời sau. Thánh thượng được trời cho trí dũng, đứng đầu nhân dân, ở nước cũ, chịu mệnh mới, công đức cao dày, đời trước ít sánh kịp, thực nên chính xưng đế hiệu, để yên lòng mong của thần dân trong thiên hạ. Năm trước bọn thần dâng biểu khuyến tiến nhiều lần, nhưng thánh thượng nhún nhường không y lời tâu. Nay bọn thần trải tham việc trước, hợp với lòng dân, lại dâng lời cúi xin thánh thượng sớm nhận tôn hiệu hoàng đế, để tỏ rõ thống kỷ, cho sáng cơ đồ tổ tôn truyền lại, giữ bền sự nghiệp ức muôn năm không cùng”. Vua dụ rằng : “Lúc mới sửa sang, việc khác chưa rỗi, đợi sau sẽ bàn cũng chưa muộn”.

    Bọn Man miền núi Quảng Ngãi cướp phá nhân dân. Lại sai Lê Văn Duyệt đem quân tiến đánh, lấy Đô thống chế Phan Tiến Hoàng lĩnh chức Phó tướng Tả quân để theo việc binh. Khi quân Lê Văn Duyệt đến thì giặc man trốn xa. Sai Tiến Hoàng đóng binh giữ đất, triệu Văn Duyệt trở về.

    Triệu Lưu trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân về Kinh. Lấy Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Trương làm Lưu trấn Gia Định, Thượng thư Hộ bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp lưu trấn.

    Dựng công thự cho các quan văn, võ. (Theo lệ cũ các quan trong triều, võ bên tả, văn bên hữu. Công thự võ tức nay là viện Đãi lậu(1. Viện Đãi lậu : Chỗ các quan chờ đến giờ (lậu) để vào chầu.1) tả, công thự văn tức nay là viện Đãi lậu hữu).

    Đổi định lệ triều đình hội nghị. Quan võ từ phó tướng, phó đô thống chế, thống chế trở lên, quan văn từ tham tri trở lên, hằng tháng bốn ngày 2, 9, 16, 24, họp bàn ở công thự võ. Phàm việc quan trọng của các nha mà các quan phụ trách không giải quyết được, các án kiện tụng ở các địa phương, xử chưa rõ lẽ, cùng quân dân có oan khuất kêu lên thì hội đồng xử đoán, rồi sau tâu lên để xin quyết định. Ngày hội khi giọt đồng hồ xuống 12 khắc thì lui. Người nào vắng mặt mà không cáo thì cho hặc.

    Triệu quan nhà Lê cũ là Lê Duy An, Trịnh Hiến, Lý Bỉnh Đạo, Nguyễn Hữu Cung về Kinh. Bọn An theo vua Lê xuất vong trong 16 năm, đủ mọi gian khổ. Vua khen là tiết nghĩa, vời vào yết kiến, cho ngồi yên ủi hỏi han giờ lâu, cấp cho quần áo tiền gạo. Sai dinh thần Quảng Đức hậu đãi. Sau bổ Hiến và Bỉnh Đạo làm Thị trung học sĩ, Cung làm Cai cơ.

    Hỏi tìm sự tích công thần buổi quốc sơ. Chiếu rằng : “Từ các đấng thánh vương trước mở mang bờ cõi, trong khoảng đó những bề tôi thân huân hết sức hiến mưu, cùng nhau giúp đỡ, đều chung một lòng để vững cơ nghiệp nhà vua. Thế cho nên sống được tiếng vẻ vang, chết được hiệu rạng rỡ, thờ cúng tôn sùng, ấm đến con cháu, cùng nước vui buồn, truyền đi mãi mãi. Nhưng gặp lúc loạn lạc, việc thờ cúng bỏ mất cả. Nay nước nhà dựng lại, bốn biển lặng trong, theo phép thường báo đền, nên tra xét lễ lớn. Vậy sai quan Lễ bộ khảo rõ các công thần khai quốc mà từ trước đã dựng đền thờ và ban cấp tự dân tự điền, có ấn tích bằng cứ thì bàn việc khen thưởng, Trẫm sẽ quyết định”.

    Lấy Chánh thống Hữu đồn Tả quân là Nguyễn Văn Xuân làm Chánh quản mười cơ Ngũ kiên và Ngũ nhuệ.

    Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên tự trình bày rằng cha là Tham tri Nguyễn Đức Chí năm trước theo đi đánh giặc chết ở nước ngoài, và bác là Hộ bộ Nguyễn Đức Tu chết ở Gia Định, xin phép nghỉ để về sửa sang mồ mả. Vua thương tình cho nghỉ một năm.

    Tháng 3, dựng nhà Thanh phong cùng trường lang tả hữu, các sở nhà vuông [phương gia], hành lang bên, [dực lang], kho nội [nội tàng]. Thưởng cho các quân ứng dịch 2.000 quan tiền.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “Dòng nước sông Nguyệt Đức(1. Tức sông Cầu. 1) ở Kinh Bắc bị bồi lấp, xin tùy nghi khơi đào để thông dòng nước”. Vua y lời tâu.

    Lấy bọn Hoàng Đình Hòa, Hoàng Kiêm Điển, Nguyễn Bá Uông, Lê Viết Thuyên, Lê Hữu Khám làm Thiêm sự Công bộ. Công bộ từ trước tới nay chưa đặt thiêm sự. Đến nay Trần Văn Thái cho rằng công việc bề bộn, tâu xin đặt, bèn lấy bọn Đình Hòa cho làm.

    Đóng thuyền hải đạo. Sai các đội thợ rừng Quảng Trị đi lấy gỗ để nộp, thưởng 1.000 quan tiền, 1.000 phương gạo.

    Hạ lệnh cho các quan văn võ hàng ngày cứ giờ mão phải vào điện Cần Chánh tâu việc.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “ở các phủ huyện, công việc, tiền lương, kiện tụng bề bộn. Trước nay tri phủ, tri huyện chỉ đặt một người, thực sợ làm việc không xuể, hoặc đến bỏ dồn. Vậy xin mỗi phủ đặt thêm một tri phủ, huyện to, huyện vừa mỗi huyện đặt thêm một tri huyện”. Vua y cho. Sai các đình thần cử người làm tri phủ, thành thần cử người làm tri huyện, kê tên tâu lên.

    Bọn giặc ở Thái Nguyên tụ hợp ở Vũ Nhai. Thành thần hịch cho Trấn thủ Kinh Bắc Phạm Tiến Tuấn cùng Trấn thủ Thái Nguyên Nguyễn Đình Tuyển họp quân để đánh, bắt được bảo giá(2. Bảo giá là một chức quan, hộ vệ xa giá.2) ngụy là Triều Đông (tên người, thiếu họ) và bè đảng rất nhiều. Việc tâu lên, vua thưởng tiền hơn 1.000 quan.

    Lấy Phó quản cơ Tứ dực là Đặng Phước Trung làm Trấn thủ Tuyên Quang.

    Miễn thuế thân cho hơn 70 người lính ở các bảo Hiếu Giang và Ngưu Cước thuộc Ai Lao.

    Chở 20.000 phương gạo ở Gia Định về chứa ở thành Diên Khánh.

    Định lệ túc trực cho quân cấm vệ. Quân 500 người, ngày đêm túc trực ở tả vu hữu vu điện Cần Chánh. Khi kiệu vua đi ra, 200 người theo hầu, 300 người ở lại trực. Đến đêm lại đủ số ấy.

    Người Man bảy sách ở Cam Lộ vào cống.

    Mùa hạ, tháng 4, mồng 1, tế hạ hưởng.

    Vua xem hồ ở trước sân điện Thái Hòa (nay là hồ Thái Dịch), có con cá ở trong bụi hoa sen nhảy ra. Vua ngoảnh bảo tả hữu rằng : “Ao rộng thì cá nhảy, nước trong nên mọc sen”((1) Chữ Hán là : Chiểu khoát tòng ngư dục, Thủy thanh nghi hà sinh. 1).

    Sai Phó vệ úy vệ Tả dực Nguyễn Văn Hạnh, Phó vệ úy vệ Tín uy Nguyễn Văn Cẩn quản binh thuyền chở gỗ cây từ Quảng Nam về Kinh. Vua răn bảo rằng : “Cẩn thận đấy, chớ vội mà hại quân lính ta”.

    Đào sông Xuân Hòa (tên xã). Vua ra Xuân Hòa, xem khắp địa thế cao thấp, muốn khơi dòng sông để tiện việc làm ruộng, vời các cụ già sở tại đến hỏi. Mọi người nói : “Thiên tử giữ vận mệnh của dân, cứ xin bề trên quyết định”. Vua liền sai Giám thành sứ Nguyễn Văn Yên phát dân để đào.

    Hai huyện Chân Định và Vũ Tiên trấn Sơn Nam hạ có dịch. Sai quan sở tại phát thuốc công cứu chữa.

    Bọn Lê Duy An, Trịnh Hiến, Lý Bỉnh Đạo, Nguyễn Hữu Cung xin nghỉ về quê. Vua cho 200 quan tiền, mỗi người một cặp áo, cho thêm An 150 lạng bạc.

    Cho Võ Văn Lân làm Khâm sai thuộc nội chưởng cơ, vẫn hành Lưu thủ Bình Thuận.

    Đổi Phó vệ úy Thị nội tả thuộc viên là Tôn Thất Lợi làm Cai cơ.

    Cho Cai cơ vệ Giám thành là Nguyễn Văn Đạo làm Khâm sai cai cơ.

    Lấy Đỗ Văn Mãi làm quản cơ cơ Hữu dực.

    Biếm Tham tri Hình bộ là Lê Bá Phẩm làm Thiêm sự. Bá Phẩm trước làm Cai bạ Quảng Nam, tự tiện tha hơn 20 người tù tội đồ, đến nay việc phát giác, triều đình bàn tội đáng cách chức. Vua cho rằng Bá Phẩm đi sứ Thanh có công, nên đặc biệt cho giáng chức.

    Lấy Nguyễn Bá Uông làm Thiêm sự Công bộ.

    Ngày Quý mùi, xây đắp Kinh thành. (Suốt bốn mặt thành dài 2.487 trượng 4 thước 7 tấc, suốt bốn mặt hào dài 2.503 trượng, 4 thước 7 tấc ; có 10 cửa, mặt trước là cửa Thể Nguyên, cửa Quảng Đức, cửa Chính Nam, cửa Đông Nam, bên tả là cửa Chính Đông, cửa Đông Bắc, bên hữu là cửa Chính Tây, cửa Tây Nam, phía sau là cửa Chính Bắc, cửa Tây Bắc ; ở góc đông bắc đắp đài Thái Bình, thành [của đài] mở một cửa gọi là cửa Thái Bình, cửa đài gọi là cửa Trường Định ; thân thành đài dài suốt 246 trượng 7 thước 4 tấc. Kỳ đài cao 4 trượng, 4 thước. Cửa Thể Nguyên sau đổi làm cửa Thể Nhân, cửa Thái Bình sau đổi làm cửa Trấn Bình). Lấy biền binh ở Kinh và ở Thanh Nghệ, Bắc Thành, quân và dân Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định sung làm việc. Ưu cấp tiền gạo (mỗi người mỗi tháng cấp tiền 1 quan 5, gạo 1 phương 15 bát).

    Vua thấy công việc nặng nhọc, nghĩ giữ cho dân đỡ mệt, hạ lệnh mỗi ngày buổi sáng làm đến giờ ngọ thì nghỉ, buổi chiều làm đến giờ dậu thì thôi, ai đau ốm thì cấp thuốc thang điều trị.

    Định hạn ngày thu tô thuế : từ Quảng Bình đến Bình Thuận mỗi năm thu một lần, tháng 4 bắt đầu, tháng 7 xong. Từ Nghệ An đến Thanh Hoa ngoại mỗi năm thu hai lần, vụ hạ tháng 4 bắt đầu, tháng 6 xong, vụ đông tháng 10 bắt đầu, tháng 11 xong. Lại răn bọn đốc thu không được đòi tiền ngoại ngạch, làm trái thì có tội.

    Bắc Thành xét những lái buôn người Thanh về đường bộ, có mua các của quý như sừng tê, ngà voi thì lấy thuế 1 phần 40 giá tiền, định làm lệ vĩnh viễn.

    Các quan Bắc Thành tâu nói : “Hai trấn Sơn Nam hạ và Hải Dương cùng hai phủ Kinh Môn, Nam Sách và hai huyện Thanh Hà, Tiên Minh thuộc Hải Dương công việc nhiều ít không giống nhau, mà tài làm việc của các quan đương chức cũng có kẻ cao người thấp khác nhau, vậy nên tùy tài đổi bổ, cho đều được xứng chức : xin đổi Hiệp trấn Hải Dương Nguyễn Văn Quý làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Nguyễn Trí Hòa làm Hiệp trấn Hải Dương, Tri phủ Nam Sách Mai Huy Cận làm Tri phủ Kinh Môn, Tri phủ Kinh Môn Nguyễn Trứ làm Tri phủ Nam Sách, Tri huyện Tiên Minh Lý Trần Tăng làm Tri huyện Thanh Hà, Tri huyện Thanh Hà Vũ Đình Ôn làm Tri huyện Tiên Minh”. Vua y cho.

    Lấy Tham tri Hình bộ là Nguyễn Duy Hòa lĩnh Hiệp trấn Sơn Nam thượng, Tri phủ Hà Hoa là Trần Văn Tính làm Ký lục Quảng Đức.

    Miễn thuế thân năm nay cho thợ thuyền làm việc công ở các địa phương.

    Sai Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí đem quân lấy đá núi để xây đắp bờ sông mặt trước Kinh thành, dọc tới sông Kim Long.

    Hạ lệnh các dinh trấn hằng năm chở tiền thóc và sản vật về Kinh, từ Quảng Nam đến Bình Thuận mỗi dinh đều một người dinh thần, bốn dinh thuộc Gia Định chia làm hai lần, mỗi lần đều hai người, thân tự đôn đốc vận tải, không được ủy cho nha lại.

    Trấn thần Nghệ An tâu xin phát dân sửa đắp trấn thành. Vua dụ rằng : “Gần đây công việc nhiều và khó nhọc, đều bất đắc dĩ mới phải dùng dân. Việc này không cần gấp nên hoãn lại”.

    Quảng Bình và Quảng Trị cho dân đi lấy gỗ ở rừng. Vua thấy nắng quá, nên bãi đi.

    Dinh thần Quảng Đức dâng sớ xin cử học trò làm Tri huyện huyện Phú Vang và huyện Quảng Điền. Vua sai hai bộ Lại Lễ hội đồng xét hạch, người nào trúng cách thì bổ quan.

    Viên Quản tri liêm hộ (tức là kim hộ, hộ lấy vàng) ở Quảng Nam là Nguyễn Đức Tuy lạm thu thuế vàng. Dinh thần theo sự trạng tâu lên. Vua sai giết đi và thu tang vật trả lại dân. Rồi sai dinh thần coi việc thuế.

    Lấp sông cũ ở phía tây Kinh thành.

    Tháng 5, định lệ lãng trưng ruộng đất cho những dân lưu lạc từ Nghệ An trở ra Bắc. Chiếu rằng : “Dân các địa phương khổ vì Tây Sơn bạo ngược. Nay can qua mới yên, chưa rỗi để vỗ về. Những người lưu tán chưa trở về hết, tình thật đáng thương. Vậy đặc biệt ra lệnh rằng ruộng đất của lưu dân từ năm Nhâm tuất về trước đã cho quan quân cày cấy rồi thì nay đình bãi để đợi lưu dân trở về lại cho quản nhận để làm ăn, tha thuế tha lính 3 năm. Từ năm nay đến năm Đinh mão mà chưa về thì cho nhân dân xã khác ai trưng trước thì được, năm nay làm sổ, năm sau nộp thuế kén lính. Từ năm Quý hợi về sau mà có người lưu tán thì ruộng đất vẫn cho quan quân cày cấy, đợi khi nào về sẽ cấp trả, việc tô thuế binh đinh cũng đến năm sau bắt đầu chịu, không theo lệ tha miễn 3 năm”.

    Kén Hàn lâm viện và Cống sĩ viện người nào thông chính sự thì bổ tri phủ các phủ.

    Cho tiền gạo lương tháng những biền binh các đội thuyền Tiểu sai, Trung hầu, Nội hầu, Thị trà cũng như các vệ Thị trung.

    Giảm 5 phần 10 tiền thuế thân và tiền đầu quan năm nay cho Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Thuế ruộng các dinh thì đã tha giảm hồi đầu xuân. Vua thấy việc sửa đắp kinh thành nhân dân đến làm như con đến làm cho cha, nên lại gia ơn ấy.

    Chuyển vận 33 vạn quan tiền ở kho Thanh Nghệ về Kinh.

    Đặng Trần Thường dâng sớ cử Tiến sĩ triều Lê cũ là Nguyễn Du, hương cống là bọn Nguyễn Trọng Chiểu 14 người, hạ lệnh vời về kinh để xét dùng.

    Sai hỏi thăm nghĩa dân Long Xuyên. Vua dụ bầy tôi rằng : “Trước đây nhà nước gặp bước khó khăn, ta phải lánh ra Long Xuyên, nhân dân nhiều người bỏ của nhà để giúp quân, hăm hở việc công, thích làm điều nghĩa, ta rất khen. Vậy hạ lệnh cho lưu trấn Gia Định hỏi khắp những người ấy để tâu lên, lượng gia ban thưởng.

    Cấm dân Gia Định không được đóng riêng thuyền sai.

    Nguyễn Văn Nhân từ Gia Định trở về. Vua triệu vào yết kiến, hỏi tình hình ngoài biên và ẩn tình của dân. Văn Nhân thưa rất kĩ càng. Cho 500 quan tiền.

    Chở hơn 10.000 phương thóc Gia Định chứa ở thành Diên Khánh.

    Cho Hồ Văn Lân 500 quan tiền.

    Trích lấy lính kho ở các thành và dinh trấn (lính kho các trấn Bắc Thành, cứ 38 người, các dinh trấn khác, cứ 15 người thì kén lấy 1 người), bổ vào hai đội Tín nhất và Tín nhị ở kho Kinh, lấy Đội trưởng giám thành Lê Vĩnh Niên làm Cai đội để đốc suất. Phàm tiền thuế các địa phương nộp về Kinh thì lấy ngay lính kho thuộc địa phương ấy đến nhận đem chứa cho khỏi sinh tệ.

    Tháng 6, giảm thuế biệt nạp sản vật cho Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Chiếu rằng : “Ngày nay sửa đắp Kinh thành, động tới sức dân, những dân biệt nạp thuế sản vật cũng phải làm việc, vậy ngạch thuế năm nay giảm cho 5 phần 10 để đều hưởng ơn, không có người riêng thiệt.

    Lấy Cai cơ Võ Minh Thùy làm Quản cơ cơ Trung võ, Trần Văn Hổ làm Phó quản cơ cơ Tả võ, Lê Phước Thanh làm Phó quản cơ cơ Hậu võ.

    Lấy Nguyễn Văn Hiến làm Khâm sai cai đội, quản năm thuyền Tiền bính, Tả bính, Trung bính, Hậu bính, Hữu bính ở Gia Định.

    Sai xây các cửa thành Thăng Long (cửa Đông Nam, cửa Tây Nam, cửa Đông, cửa Tây và cửa Bắc), mỗi cửa đều dựng bia để ghi.

    Dựng xưởng đúc súng, thưởng tiền cho các quân.

    Lại cấm nấu rượu ở Gia Định. Có người nào nấu riêng thì tịch thu gia sản. Địa phương bắt mà tố cáo thì thưởng tiền 30 quan, biết mà không cáo thì cùng tội với kẻ phạm.

    Cho Khâm sai thuộc nội cai cơ Mai Văn Kiêm một đạo châu sắc [đóng dấu son]. Kiêm có công theo đi Vọng Các, sau có bệnh xin về, con là Phó vệ úy Mai Văn Châu xin, nên đặc ân cho sắc này.

    Lưu trấn thần Gia Định tâu rằng tướng sĩ bị bệnh về nghỉ ở trong hạt, có công theo đi Vọng Các là hơn 150 người, Kiêm có dự số ấy. Vua sai quan sở tại thường đến thăm hỏi, hằng năm ghi danh sách tâu lên. (Khâm sai thuộc nội cai cơ Mai Văn Kiêm, Trương Phước Dĩnh ; Khâm sai thống binh cai cơ Trần Văn Lưu ; Khâm sai cai cơ Phạm Văn Quế, Trương Văn Khánh, Lê Văn Khâm, Nguyễn Văn Duệ, Trần Văn Khả, Hoàng Văn Lý, Nguyễn Văn Thủ, Nguyễn Văn Quận, Đinh Văn Thái, Hứa Bảo Nương, Nguyễn Văn Chữ, Nguyễn Văn Trinh, Lê Văn Lượng, Hoàng Hữu Thiện, Trương Văn Quận, Nguyễn Văn Thảo, Trần Quang Nhi, Nguyễn Công Định, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Biện, Lê Văn Nguyên, Nguyễn Văn Thịnh, Phan Văn Minh, Phan Tiến Lượng, Vũ Văn Điện, Hồ Văn Cảnh, Nguyễn Văn Châu, Mai Văn Đắc, Nguyễn Đức Lân ; Chánh sứ cai cơ Trung quân Nguyễn Tiến Lượng ; Cai cơ Nguyễn Thanh ; Khâm sai cai đội Phạm Văn Thụy, Lê Văn Thứ, Lê Văn Huyền, Đinh Văn Thịnh, Lê Văn Đức, Lâm Văn Sinh, Ngô Văn Vân, Đỗ Văn Thông, Trần Công Hiếu, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thị, Đỗ Công Giảng, Nguyễn Văn Phong, Thái Văn Phước, Nguyễn Kim, Lê Văn Minh, Trương Văn Tuyết, Nguyễn Văn Phấn, Võ Văn Việt, Nguyễn Văn Cúc, Nguyễn Văn Thụy, Nguyễn Văn Khách, Trần Văn Thị, Nguyễn Văn Lý, Cai đội Phan Văn Khách, Nguyễn Văn Trường, Vũ Văn Chiêm, Võ Công Tính, Nguyễn Văn Huế, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Văn Súng, Mai Nhật Lân, Phan Công Nhâm, Hoàng Văn Thư, Nguyễn Văn Mã, Trần Văn Quang, Nguyễn Văn Khanh, Dương Văn Thuận, Trần Văn Lại, Trần Văn Toán, Hồ Văn Nộn, Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Văn Nghĩa, Trà Văn Bình, Lê Văn Tường, Vũ Văn An, Nguyễn Văn Quý, Trần Văn Minh, Bùi Văn Xuy, Đỗ Văn Thắng, Nguyễn Văn Sa, Nguyễn Cửu, Trần Văn Hòa, Trần Văn Bình, Nguyễn Văn Chất, Ngô Văn Lựu, Vũ Văn Tuyết, Lê Văn Khương, Cao Văn Trí, Nguyễn Văn Cửu, Lê Văn Sơn, Nguyễn Văn Niên, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Văn Tĩnh, Cao Văn Phân, Nguyễn Văn Thông, Lê Văn Liễu, Vũ Văn Thủ, Đặng Văn Thủ, Nguyễn Thuần, Nguyễn Văn Hóa, Lê Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Văn Lựu, Lê Văn Tâm, Phạm Văn Sự, Nguyễn Văn Bình ; Cai đội nội phủ coi đội Thường ban Lê Văn ứng ; Tham mưu Hồ Xuân Quang, Trần Đăng Doanh, Hoàng Nhân Cơ ; Phó đội Ngô Văn Mân, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Ngũ ; Đội trưởng Lê Văn Phụng, Nguyễn Văn Châu, Chu Ngọc Phong, Nguyễn Văn Tự, Nguyễn Văn Thái, Bùi Văn Lược, Trần Văn Chi, Nguyễn Văn Đắc, Trần Văn Định, Phan Văn Lộc, Phan Văn Cát, Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Văn Lựu, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Phong, Phạm Văn Sơn, Trần Văn Tự, Nguyễn Văn An, Hoàng Văn Hạnh, Đặng Văn Qua, Nguyễn Văn Cảo, Nguyễn Văn Hề, Võ Văn Nhuận, Trương Văn Dụng, Nguyễn Hiên, Đinh Văn Lợi, Nguyễn Văn Đắc, Thứ đội trưởng Trương Văn Đắc, Nguyễn Văn Lánh, Hoàng Văn Chức, Tô Văn Hạnh, Nguyễn Văn Thậm, Lê Văn Chấp).

    Những quan ở Kinh quê quán ở Gia Định, nhiều người xin về trấn làm việc để được gần gũi nuôi nấng cha mẹ. Vua nói : “Vì việc công phải quên việc riêng, đó là chức phận bầy tôi. Ta nghĩ tình các ngươi mong nhớ cha mẹ, nên đã cho một người trong con cháu anh em được miễn thuế thân và dao dịch để ở nhà nuôi thay. Các ngươi mình mang quan chức, sao còn xin nữa”. Không cho.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “Gần đến mưa lụt, sợ đê điều thẩm lậu, xin lấy dân sửa đắp và dự trữ đống đất và tre gỗ ở trên mặt đê để phòng bị”. Vua y theo lời.

    Hạ lệnh cho từ Quảng Bình vào Nam đến Bình Thuận đều ghi số thuyền số người các đội Trường đà để tâu lên. (Quân Trường đà trước có các đội công sai là Kỵ Hải, Mã Hải, Sa Huỳnh, Bắc Hải, Long Yên, Trường Thọ, Đại Lê, lấy dân ở ven biển sung vào, Quảng Bình 10 xã thôn phường Cừ Hà, Lý Hòa, Thuận Cô, Cảnh Dương, Lộc Điền, Chỉ Giáp, An Náu nam biên và An Náu bắc biên, Nội Hà, Để Võng, có 183 chiếc thuyền, 1.427 người, từ Quảng Trị vào Nam đến Bình Thuận, có 327 chiếc thuyền, 1.604 người). Đổi đội Trường thọ làm đội Trường thuận.

    Giặc biển Chà Và cướp bóc ở ngoài biển, dân Côn Lôn bị hại. Thủ thần xin hạ lệnh cho các thuyền công và thuyền tư đều được sửa sang khí giới để phòng bị. Vua y cho.

    Phát quần áo cho biền binh quân Túc trực và quân Thần sách.

    Hạ lệnh cho Gia Định thông sức cho người Hán cùng với dân Man họp chợ, chỉ được ở đầu địa giới để trao đổi, không được tự tiện vào sách Man. Có kẻ nào không theo lệnh thì trị tội. Thủ thần mà dung túng thì xử biếm hay bãi.

    Vua đi chơi đồng Vân Trận (thuộc xã Văn Xã, huyện Hương Trà). Xã dân dâng lễ mừng, đều trả lại cả. Ba ngày rồi trở về.

    Cho thuế sản vật nón dứa và cỏ gai ở Bình Định được nộp thay bằng vải, mỗi người 2 tấm.

    Hạ lệnh lấy gỗ táu ở Bình Thuận nộp vào Kinh.

    Trước đây Chiêu Nội về Trấn Ninh, trấn thần Nghệ An là Hoàng Viết Toản sai cai đội Trần Văn Long đem quân tiễn đưa. Khi về, quốc trưởng Vạn Tượng gửi kèm thư cho Nghệ An và tặng 3 chiếc trống đồng cùng 144 cân quế. Văn Long nhận lấy về. Trấn thần cho rằng theo nghĩa thì kẻ làm tôi không được giao thiệp riêng với nước ngoài, Vạn Tượng không nên biếu riêng, Văn Long không nên nhận lễ dễ dàng, làm sớ tâu lên.

    Vua dụ rằng : “Trung Quốc đối với người Di ở ngoài, không trị mà ra trị. Người ta lấy lòng thực đối với mình, cứ nhận lấy. Trẫm không vì thế mà bắt tội các ngươi. Văn Long là quan võ, không đọc sách, không đáng trách”. Hạ lệnh lấy một tấm gấm đỏ và một tấm gấm xanh gửi về Nghệ An, sai trấn thần làm thư gửi biếu.

    Định lệ ruộng lương điền cho các quân. Vua thấy ruộng công quân cấp đã thành lệ rồi mà ruộng lương điền còn theo phép cũ, nhân viên tạp hạng nhiều người ăn lạm, bèn chuẩn định phàm xã dân nào có lệ ruộng lương điền thì cho cấp đều cho binh lính các dinh vệ hiệu thuyền đội các quân, quan có chức và nhân viên tản tạp không được dự. (Các dinh vệ đội thuyền quân Thần sách, năm dinh Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu quân Túc trực, các vệ Nghiêm dũng, Hiến dũng, Toàn dũng, Kiên dũng dinh Phấn dực, các đội Nội trực, Chấn uy, Thị trà, Tiểu sai, Loan nghi, Bả lệnh, Tiểu hầu, các thuyền Trung hầu, Tả hầu, Hữu hầu, Trung bính, Tả bính, Tân hầu, các đội thuyền Nội mã, Tả mã, Hữu mã, các vệ Kiên uy, Túc uy, Minh uy đồn Tiền du, các đồn vệ cơ chi hiệu thuộc năm quân Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu và quân Thần võ các dinh, vệ, cơ thuộc Tượng quân, các vệ chi dinh Tiên phong, mười một cơ dinh Quảng Ngãi, các chi Thượng đạo, các tàu hiệu thuộc năm thủy dinh Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, các đội Thủ kiệu, Tả nghi ở Hậu điện, các tinh binh Tân nhất, Tân nhị, Nội trù, Thị hành thuộc nội).