059. Trang [0638-0649] - @rito_1522 (done)

27/10/15
059. Trang [0638-0649] - @rito_1522 (done)
  • Định lệ cầu gió đầu mùa xuân cho các cửa biển các địa phương.

    Bộ Lễ tâu nói : “Bờ biển nước ta dài suốt, vận chở đường thủy rất tiện : cửa Eo ở Quảng Đức, cửa An Việt ở Quảng Trị, cửa Nhật Lệ ở Quảng Bình, cửa Đại Chiêm ở Quảng Nam, cửa Cổ Lũy ở Quảng Ngãi, cửa Thị Nại ở Bình Định, cửa Đà Diễn ở Phú Yên, cửa Cù Huân ở Bình Hòa, cửa Phan Rí ở Bình Thuận, cửa Cần Giờ ở Gia Định, cửa Hội Thống ở Nghệ An, cửa Thu Vi (tức cửa Trào) ở Thanh Hoa, cửa Hải Liêu ở Sơn Nam hạ, cửa Nam Triệu ở Hải Dương, cửa Hoa Phong ở Yên Quảng, đều là những cửa biển lớn, thuyền ghe công tư đi lại đều phải qua đó. Xin từ nay các quan địa phương mỗi năm cứ đến tháng mạnh xuân [tháng giêng] đều bày đàn tế ở các nơi ấy để cầu gió thuận”. Vua y lời tâu.

    Chính biên

    Đệ nhất kỷ - Quyển XXVII - Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế

    Ất sửu, Gia Long năm thứ 4 [1805], mùa thu tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Lấy các xã Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, Thế Lại, An Vân, An Hòa, An Bảo, An Mĩ lệ vào Kinh thành, theo giám thành sai phái. Những nhà ở trong thành thì được miễn thuế thân và dao dịch trọn đời, ở ngoại thành được miễn 3 năm.

    Sắc từ nay ở Kinh và ở ngoài, chi phát gạo lương cứ một phương gạo là 13 thăng (bằng 30 bát) làm mức.

    Đào vét con sông ở sau Kinh thành. Ruộng đất của dân ở bờ sông đào phải, thì phát tiền cấp cho.

    Đặt kho trữ ở ba dinh Trấn Biên, Trấn Định và Vĩnh Trấn. Theo lệ trước, tô thuế ở các dinh đều nộp vào kho trấn Gia Định. Mỗi khi có phát chẩn, thì do kho trấn chuyển phát. Vua cho rằng đường xa không tiện nên hạ lệnh cho ba dinh đều phải dựng kho riêng để trữ thóc tô : Trấn Biên 6.000 phương, Trấn Định và Vĩnh Trấn đều 10.000 phương, phòng sẵn để dùng.

    Hạ lệnh cho các địa phương hằng năm cứ đến tháng 4 thì làm sổ chấp bằng quan lại binh đinh, cuối năm thì sửa sổ tiêu tống đinh điền, đều làm hai bản Giáp và ất, tới kỳ gởi lên bộ xét duyệt. (Sổ chấp bằng thuộc bộ Binh, sổ tiêu tống thuộc bộ Hộ).

    Vua thấy dân gian Gia Định thóc gạo chứa chan mà kho trữ thì ít, sắc cho bốn dinh rằng lương gạo của biền binh thì chiết cấp bằng tiền (một phương gạo hơn giá chợ một tiền), năm nào mất mùa kém cỏi mới cấp bằng thóc gạo.

    Bọn án thủ châu Vạn Ninh là Phạm Hữu Bân và Tri châu là Phan Chính Thể bị tội tham tang, trói giải về Kinh, lấy Phòng ngự sứ Phan Phương Khách và Thư kí Hoàng Phàn thay lãnh việc châu.

    Sai Vệ úy dinh Túc trực là Phan Văn Mân quản giữ nguồn Thu Bồn (thuộc tỉnh Quảng Nam), Cai cơ Nguyễn Văn Nguyện quản giữ nguồn Thạch Thành (thuộc tỉnh Phú Yên), hằng năm thu các sản vật để nộp.

    Lấy Khâm sai thuộc nội cai đội Nguyễn Văn Phấn làm Khâm sai cai cơ.

    Sai biền binh Gia Định vận chở đồ vật của công về Kinh, mỗi người được cấp 3 tháng lương.

    Thuyền buôn của người Chà Và bị nạn đậu ở phần biển Quảng Đức. Sai cấp quần áo tiền gạo rồi cho đi.

    Bỏ ngạch thuế trầm hương cho 2 thôn Thuận An, Phú An ở Bình Hòa (mỗi năm mỗi người nộp 1 cân trầm hương), cho nộp thuế thân như lệ.

    Miễn thuế thân cho các thợ lái và thủy thủ các thuyền vận tải.

    Cấp gạo thuê cho các thuyền chở ở phía nam, từ Gia Định đến Quảng Nam, đều lấy xa gần mà tính mức. (Phàm cấp gạo thuê mượn thì lấy 75 thăng làm một suất, từ Quảng Nam thì cấp 2 thăng, Quảng Ngãi 4 thăng, Bình Định 6 thăng, Phú Yên 8 thăng, Bình Hòa 10 thăng, Bình Thuận 12 thăng, Gia Định 14 thăng).

    Vua từng cùng bầy tôi bàn về việc dân ở Gia Định, nhân xuống chiếu dụ lưu trấn rằng : “Có năm đói năm no, là vận trời như thế. Nhà nước nuôi dân, không gì cần bằng cứu đói. Gia Định đường sá xa xôi, như gặp tai thương phải đợi tâu rồi sau mới điều chữa thì đã muộn. Từ nay các dinh nếu chợt gặp đói kém thì do lưu trấn thần phát trước thóc kho cho dân vay rồi sau sẽ tâu”.

    Bỏ ngạch thuế mây cho ba nguồn An Đại, An Náu, Cẩm Lý thuộc Quảng Bình. Ba nguồn này trước không có thuế mây. Đến ngụy triều Tây Sơn mới bắt đầu nộp, dân rất khổ, đến đây bỏ đi.

    Chánh thống đồn Hữu quân là Nguyễn Văn An yêu sách tiền của ở quân lính, tang vật đến 3.000 quan, việc phát bị giết.

    Tháng 8, định lệ các lễ cả năm cho các thành dinh trấn. (Miếu cũ Gia Định hai lễ Nguyên đán và Đoan dương mỗi năm chi tiền hơn 48 quan. Gia Định và Bắc Thành, lễ duyệt binh đầu năm đều được chi tiền 100 quan; ở Hành cung ba lễ Nguyên đán, Vạn thọ, Đoan dương, mỗi lễ mỗi thành đều chi tiền hơn 125 quan, các dinh trấn thì đều chi tiền hơn 71 quan. Lễ khai trường thuế mỗi kỳ thuế mỗi dinh trấn đều chi tiền hơn 26 quan; duy 6 ngoại trấn ở Bắc Thành thì đều chi tiền 20 quan; lễ tạ trường thì đều chi tiền hơn 12 quan. Các cửa biển lễ cầu gió đầu xuân đều chi tiền hơn 38 quan. Lễ đảo vũ mỗi lần 3 ngày đêm đều chi tiền hơn 6 quan. Lễ tạ thần đều chi 38 quan).

    Lấy Thuộc nội cai đội Phạm Văn Dật làm Phó vệ úy vệ Nội trực.

    Truy tặng thụy hiệu cho Đông cung nguyên soái quận công Cảnh làm Anh duệ hoàng thái tử, dựng nhà ở xã Vĩ Dã (thuộc huyện Phú Vang).

    Lấy Trần Minh Nghĩa làm Cai bạ Trấn Biên, Nguyễn Văn Giảng làm Hàn lâm thừa chỉ, Ngô Quang Nhân sung Hàn lâm viện.

    Lấy Phạm Khắc Minh và Hoàng Văn Nhuận làm ngự y chánh ở Thái y viện, Nguyễn Đăng Sĩ làm phó.

    Vua yêu nuôi sức dân, từng dụ bầy tôi rằng : “Từ nhà Thương nhà Chu về sau, nhà Hán nhà Đường về trước, số hộ khẩu nhiều hay ít, các đời không giống nhau. Không vì lẽ gì khác, yêu nuôi dân thì dân sinh sản nhiều, bắt làm nhọc mệt thì hao mòn thôi”.

    Lấy bọn Phan Văn Thể, Phạm Văn Thừ 64 người, sung bổ cai đội phó đội quân Thần sách ở Nghệ An.

    Ban tiền gạo cho các lính ốm ở Hậu quân và quân Thần võ (mỗi người được cấp gạo 1 phương 15 bát, tiền 1 quan 5 tiền), cho về nghỉ ngơi.

    Điện Thái Hòa làm xong. Thưởng cho lính và thợ làm việc 1.000 quan tiền.

    Tha các thuế thân và tiền đầu quan cùng thuế sản vật cho các dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Trước đây, dân các dinh ấy ứng việc xây đắp Kinh thành, những thuế thân, thuế đầu quan, thuế sản vật đã được tha một nửa. Nay vua thấy công việc nhiều nặng, lại tha hết cho.

    Ban cấp mộ phu và tự điền cho công thần thời quốc sơ. Trước đây vua sai Lễ bộ Đặng Đức Siêu khảo xét công trạng công thần, làm sách tâu lên. Dụ rằng : “Ta nhớ buổi quốc sơ đời nào cũng có những người công lao đạo đức giúp liệt thánh ta. Nay muốn đem thước đất để đền chút công ngày xưa, việc quan hệ đến điển lễ, cần phải rõ ràng cẩn thận”. Rồi cho Tổng trấn Tôn Thất Khê, Thiếu úy Tôn Thất Hiệp, Nội tán Đào Duy Từ, Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính làm công thần bậc trên; Khám lí Trần Đức Hòa làm công thần bậc nhất; Chưởng cơ Nguyễn Hữu Hào, Trấn phủ Tống Phước Trị, Chưởng dinh Tống Hữu Thanh, Thái giám Nguyễn Đình Quý, Trà quận công phu nhân Trần thị làm công thần bậc hai; Thiếu sư Tôn Thất Diễn, Chưởng dinh Tôn Thất Tráng, Chưởng cơ Tống Phước Đào làm công thần bậc ba. Cho mỗi người một người con cháu tập ấm làm đội trưởng hay thứ đội trưởng. Ban cấp cho mộ phu coi và tự điền theo thứ bậc khác nhau. (Công thần bậc trên được ấm thụ đội trưởng 1 người, mộ phu 6 người, tự điền 15 mẫu; công thần bậc nhất được ấm thụ đội trưởng 1 người, mộ phu 4 người, tự điền 9 mẫu; công thần bậc hai được ấm thụ thứ đội trưởng 1 người, mộ phu 3 người, tự điền 6 mẫu; công thần bậc ba được ấm thụ thứ đội trưởng 1 người, mộ phu 2 người, tự điền 3 mẫu).

    Kinh thành làm xong, cho binh đinh làm việc về quê nghỉ ngơi, cấp cho lương đi đường hàng ngày. Khi đi đường có ai đau ốm thì cứ theo số ngày mà kế lãnh, không kể hạn đường. Lại thấy từ Nghệ An về Bắc đường sá xa cách, thưởng thêm cho binh đinh mỗi người 1 quan 5 tiền và từ đội trưởng trở lên 3 tháng lương tiền.

    Hạ lệnh từ Kinh trở vào Nam đến Gia Định bỏ hết lệ cấm nấu rượu.

    Hạ lệnh cho Bắc Thành tìm mua nhân sâm.

    Bắc Thành dâng đá hoa Vân Nam.

    Ngày Bính dần, vua rước Thái hậu đi thăm mộ Thái bảo Miên quốc công, nhân đó đến chùa Thiên Thai.

    Dựng kho ở trấn Thanh Hoa, sai trấn thần thuê dân lấy gỗ về làm.

    Hạ lệnh cho các địa phương đo đạc đường quan và các đường thủy bộ thường đi lại; phàm thôn xóm xa gần, quán xá dầy thưa, cho đến sông bến cầu đò, núi khe rừng rú, cùng những nơi danh thắng cổ tích, có bằng chứng ghi chép thì đều biên lấy làm bản tâu lên.


    Hạ lệnh cho Nghệ An thu 1, 2 phần 3 số thuế gỗ lim còn thiếu, lấy gỗ hồng sắc để thay ; lại tha 4 phần 10 thuế mái chèo.

    Cho Phan Văn Đức làm Đô thống chế lãnh phó trưởng Tả quân.

    Dân Man [Mọi] nguồn Phù Âu thuộc Quảng Đức cướp phá miền Tả Trạch. Sai Đô thống chế Phan Văn Đức và Lưu thủ Nguyễn Công Hòa đem quân đánh bắt, bắt được bọn man ác hơn 60 người. Vua chỉ cho giết thủ phạm, còn bao nhiêu cho đày đi Quảng Trị phục dịch.

    Giặc biển Tề Ngôi họp hơn 50 chiếc thuyền lén lút ở phía ngoài biển cửa Liêu, cửa Lác và Biện Sơn. Quan Bắc Thành phái quân đi bắt. Sắc cho các dinh trấn tuần xét phần biển và phòng bị nghiêm nhặt.

    Đổi thành Thăng Long, làm thành Thăng Long, phủ Phụng Thiên làm phủ Hoài Đức, huyện Quảng Đức làm huyện Vĩnh Thuận.

    Cấp thêm gạo lương tháng cho lính thú ở hai cơ Hữu kích, Hậu kích thuộc Tượng quân, mỗi người 1 phương.

    Tháng 8 nhuận, lấy Cai bạ Nguyễn Thành Chẩn làm Hữu tham tri Hộ bộ.

    Triệu bọn Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Tăng Địch, Cai bạ Phiên Trấn là Trần Quang Tĩnh, Ký lục Vĩnh Trấn là Nguyễn Đức Hội về Kinh. Lấy Lê Bá Phẩm làm Hình bộ Tham tri lãnh Hiệp trấn Thanh Hoa, Nguyễn Công Hạc làm Cai bạ Phiên Trấn, Trần Công Đàn làm Ký lục Vĩnh Trấn.

    Lưu thủ Quảng Bình là Lê Văn Chử có tội, bị cách. Chử làm quan nhũng lạm, việc phát, triều đình nghị tội đáng chết. Vua nói: “Tội Chử đành thế rồi, duy pháp luật trị kẻ gian, nên lấy công bù lỗi, Chử theo hàng trận lâu ngày cũng có chút công, nay lấy pháp luật mà giết, lòng ta có chỗ không nỡ. Bèn cất chức Chử, lấy Chưởng cơ Lưu Phước Tường lãnh Lưu thủ Quảng Bình.

    Lấy Hàn lâm viện Lê Văn Kim làm Tham hiệp Sơn Nam hạ, Nguyễn Dũng làm Tham hiệp Tuyên Quang.

    Lấy Hồ Công Diệu làm Chánh đốc học Quốc tử giám, Nguyễn Thế Trực lãnh ất Phó đốc học, Trương Chi Lý làm Đốc học Gia Định, Võ Xuân Biều và Hoàng Công Xuân làm Giáp ất Phó đốc học, Nguyễn Đăng Ngạn làm Hàn lâm viện chế cáo, lãnh Đốc học Quảng Nam, Nguyễn Duy Hợp làm Phó đốc học, Bùi Dương Lịch làm Đốc học Nghệ An, Phan Bảo Đĩnh làm Đốc học Thanh Hoa.

    Năm ngoái Hải Dương và Sơn Nam thượng nước lớn, dân bị đắm đuối và xiêu tán nhiều. Đến nay dân lưu lạc dần dần trở về, thành thần đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh phàm người chết đuối, kê cho đúng số, cứ 6,7 người chết thì miễn kén lính một người, người xiêu tán mới về thì hoãn bắt lính; còn ruộng đất công tư thì cứ số thực cày cấy và bỏ hoang làm sổ tâu lên để lượng miễn giảm.

    Người Man sách Viên Kiều thuộc Cam Lộ đến hiến phẩm vật địa phương và nói lệ cũ thuế của người Man vẫn nộp ở trường chợ Sái, giặc Tây Sơn mới đổi nộp về Cam Lộ, chuyên chở rất khó khăn, nay xin theo như cũ cho tiện. Vua y cho mà trả lại lễ vật, và cho về.

    Sai Gia Định hàng năm mua 100 cân hải sâm ở sở Phú Quốc để nộp.

    Vua thấy Ký lục Trần Đình Đàm đi theo lâu ngày, cho 2 người con được miễn thuế thân và dao dịch.

    Dựng nhà công quán làm nơi khoản tiếp sứ giả phương xa. Thưởng cho lính và thợ làm việc 600 quan tiền.

    Định lệ tuyển bổ quan viên khuyết ngạch ở các địa phương và các dinh quân. 1) Chánh phó vệ úy các vệ Thị trung, Thị nội, Thần sách có khuyết thì cho quan quản lãnh tâu xin chọn bổ; cai đội, phó đội có khuyết thì quan quản lãnh tâu xin sung bổ. 2) Quân cấm vệ đóng thú ở các trấn có khuyết vệ úy, cai đội, cho trấn thần quyền cấp văn bằng khiến phó viên tạm quản, có khuyết phó vệ úy, phó đội thì cho chánh viên kiêm quản mà tâu lên đợi chỉ. 3) Các dinh quân có khuyết chánh phó thống đồn, quan chưởng lãnh tâu xin chọn bổ; chánh phó vệ úy, chánh phó quản cơ, chánh phó trưởng chi, chánh phó trưởng hiệu, cai đội, phó đội, đội trưởng có khuyết thì cho chọn người giỏi trong dinh quân, đã thực thụ mà chưa cầm quân, tâu xin quyền cấp văn bằng khiến lấy bản chức mà tạm quản, đợi 3 năm không có lỗi mới cho bổ thụ. Các dinh quân theo quan quản lãnh đi trấn, có gặp khuyết mà cất bổ, cũng theo lệ ấy. 4) Phàm gặp khuyết mà không có người để bổ thì cho quan quản lãnh tâu xin chọn bổ. Như số quân các vệ chi cơ hiệu đội thuyền của dinh quân không đủ mà viên chức có khuyết, như chánh viên khuyết thì cho phó viên tạm quản, phó viên khuyết thì lấy chánh viên kiêm quản, không được vin lệ, tâu xin sung bổ. 5) Bốn dinh Gia Định và mười một trấn Bắc Thành, như chức lưu thủ, trấn thủ có khuyết thì cho lưu trấn thần và tổng trấn thần chọn người tạm quản và tâu lên đợi chỉ; cai bạ, ký lục, hiệp trấn, tham hiệp có khuyết thì xin chọn bổ ngay; án phủ, quản phủ, tuyên phủ, tri phủ có khuyết thì cho chọn người tạm quản; tri huyện có khuyết thì chọn người bảo cử, vẫn dâng sớ tâu xin bổ thụ. 6) Các quan dinh trấn, từ Quảng Bình đến Bình Thuận cùng Nghệ An, Thanh Hoa có khuyết thì cho các quan đồng liêu tâu xin chọn bổ; phủ huyện có khuyết cũng theo lệ ấy. 7) Những quan văn võ ở ngoài già ốm về hưu hoặc có tình nguyện về Kinh hay về quán hoặc xin ở lại theo trấn thì quan sở tại đều cứ tình thực đề đạt và chờ chỉ.

    Sai Hình bộ thanh lý những án đọng lại.

    Sai bầy tôi bàn định luật lệnh.

    Lấy Giám thành cai cơ Phan Mạnh Chánh làm Vệ úy vệ Cường uy, Cai cơ Thị nội tả thuộc viên Phạm Ngọc Tưu làm Phó vệ úy vệ Tuyển phong hậu, Tôn Thất Lợi làm Phó vệ úy vệ Dương võ, Cai cơ hữu thuộc viên Trương Phước Cận làm Phó vệ úy vệ Trung tín, Cai cơ Thị trung Võ Văn Trí làm Phó vệ úy vệ Kiên uy, Phó vệ úy Thị trung Hồ Văn Quế làm Phó vệ úy vệ Minh võ, Ngô Khánh Thái làm Phó vệ úy vệ Toàn võ.

    Chưởng dinh Hồ Văn Lân vì tuổi già nghỉ việc, cho mộ dân ngoại tịch 50 người làm thuộc binh.

    Trước kia quân đội mới dựng, các nha quyền thự sở thuộc của mình nhân lấy tước mà xưng. Vua ghét là lạm quyền, dụ bầy tôi rằng : “Quyên sai [sai tạm] và chỉ sai [có chỉ vua sai] khác nhau, sao được lẫn lộn như thế? Sắc từ nay các quan văn võ trong ngoài, phàm có tạm đặt liêu thuộc (ví như quận công, Thị trung đô thống chế, chưởng dinh, làm văn bằng sai người sở thuộc làm tiện nghi cai đội, đội trưởng, thứ đội trưởng, thủ hợp ; đô thống chế, Thị trung phó đô thống chế, phó tướng, phó đô thống chế, thống chế, chánh khanh sáu bộ, làm văn bằng sai người sở thuộc làm tiện nghi đội trưởng, thứ đội trưởng, thủ hợp; các quan dinh trấn làm văn bằng sai người sở thuộc làm tiện nghi đội trưởng, thứ đội trưởng, đề lãnh, cai huyện, ký huyện, cai thuộc, ký thuộc, cai tổng, phó tổng) thì văn bằng chỉ ghi họ tên, không được xưng tước, cũng không được đem làm hạng chức sắc ngoại tiêu sai.

    Sửa hành cung Nghệ An, trấn thần nhân đó xin sửa các nhà trạm. Vua cho rằng hai việc đều làm thì quá mệt sức dân, không cho.

    Tháng 9, Nguyễn Văn Khiêm tâu xin chia quân thị vệ làm hai ban ứng trực. Vua y cho.

    Bầy tôi xin lập thái tử. Vua dụ rằng : “Ta từ thuở nhỏ, gặp vận nhà không may, từng trải mọi gian hiểm mới có ngày nay, khó nhọc mà được, mới phải nghĩ truyền để lâu dài. Thái tử là ngôi vua sau này của nước, chính thống là ở đó. Nay hoàng tử hoàng tôn hãy còn nhỏ, trẫm đương ủy cho thầy dạy, rèn đúc thành tài đức rồi sau chọn kẻ nào hiền mới lập, thế cũng chưa muộn”.

    Sắc định sắc phục của hoàng hậu và phi tần.

    Định số nhân viên thuộc ty các nha ở Kinh: Ty Lệnh sử bộ Hộ 80 người, bộ Lại, bộ Binh đều 70 người, ba bộ Lễ, Hình, Công, Đồ gia, Ngoại đồ gia, đều 50 người, ty Chiêm hậu lại 30 người.

    Ấm thụ cho con Cai cơ Tiên phong Vũ Văn Chính là Văn Tẩu chức hàm đội trưởng (Văn Chính có công theo đi Vọng Các).

    Bỏ thuế mây nước và than gỗ cho đội Đồng Sách Tử (thuộc nguồn An Náu) ở Quảng Bình. Dân trong đội 50 người, mỗi năm phải nộp 100.000 sợi mây và 500 cân than gỗ. Dân ấy gần đây sung vào các dinh quân và trốn đi gần hết, thủ thần xin bỏ thuế ấy. Vua y cho.

    Tha thuế thân và dao dịch cho bọn Lương Văn Quyền, Phạm Văn Huyền 15 người ở Bình Định. Bọn Quyền tự trình bày ông cha trước từng xướng nghĩa, bị giặc Tây Sơn giết chết, dinh thần đem việc tâu lên bèn tha cho.

    Địa giới các sóc Cần Đăng và Mỹ Tho thuộc Chân Lạp, bị dân Hán tranh chiếm. Chiêu chùy là Tham Đích đem việc kêu với Gia Định. Lưu trấn Nguyễn Văn Trương hạ lệnh cho dinh thần Vĩnh Trấn tới nơi để chia vạch lại. Tham Đích lại xin ba khoảng ruộng núi thôn Thái Hòa trung. Lưu trấn thần tâu lên. Vua cho rằng ruộng đã có sổ ngạch rồi, không y lời xin. Sắc từ nay phàm ruộng đất đã có sổ ngạch thì không cho người Chân Lạp xin nữa. Nhưng cấm dân Hán không được chiếm địa giới của họ, để dứt mối tranh nhau.

    Biên biền binh tàu Long phi làm biền binh tàu Thụy phượng, sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Thắng quản.

    Hạ lệnh cho trấn Gia Định và ba dinh Trấn Biên, Trấn Định, Vĩnh Trấn đều dựng hành cung (dinh lị Phiên Trấn ở trấn thành Gia Định được miễn).

    Lại thấy các dinh chưa đặt công sảnh, sai dinh thần chi xuất tiền kho để làm. (Tiền làm công sảnh lưu thủ 800 quan, công sảnh cai bạ, ký lục đều 600 quan).

    Lấy Phan Kế Điều làm Cai bạ Quảng Bình.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Bàn kén binh lính các dinh từ Quảng Bình về Nam đến Bình Thuận. Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam thì chọn điểm trong tháng này, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận thì đến tháng giêng năm sau mới chọn điểm. Những binh lính các dinh vệ cơ các quân quê thuộc các dinh thì bãi hết cho về, hợp với dân ở sổ, cứ 3 người lấy 1 bổ vào các dinh vệ cơ các quân. Sai bọn Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Duyệt, Lê Quang Định, Nguyễn Quang Diệu chia nhau đi kén lính ở các dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình và Quảng Nam.

    Lấy Mai Văn Hiến Quản đạo Phố Hài, Đỗ Văn Minh Quản đạo Phan Rang. Dụ rằng: “Bọn ngươi đi theo đã lâu, nay ủy cho trách nhiệm quản đạo, cẩn thận đừng nên sinh việc nhiễu dân mà phạm phép nước”.

    Chọn 42 người tôn thất bổ vào đội Nội hầu.

    Chuẩn định tự Quảng Bình về Nam đến Phú Yên phàm dân sở tại có ruộng tam bảo(1. Ruộng tam bảo: Tức ruộng chùa. 1) thì nhà nước thu thuế, thuế xem như ruộng công tư có ba bậc nhất nhì ba.

    Ban nghi tiết tế tự ở Văn miếu.

    Đổi định lại danh hiệu các vệ trong bốn dinh Trung Tiền Tả Hữu thuộc quân Thần sách ở Thanh Nghệ. (4 vệ Uy võ, Dương võ, Toàn võ, Minh võ thuộc Trung dinh; 4 vệ Ban trực tuyển phong tiền, Phấn võ, Trung võ, Kiên uy thuộc Tiền dinh; 4 vệ Ban trực tuyển phong tả, Diệu võ, Định võ, Tín uy thuộc Tả dinh; 4 vệ Ban trực tuyển phong hữu, Túc võ, Cung võ, Hổ uy thuộc Hữu dinh. Duy vệ hiệu thuộc Hậu dinh vẫn như cũ).

    Nhân dân Gia Định nhiều người đòi hỏi nợ riêng lâu năm. Vua nghe tin, sai lưu trấn thần thống sức cho dân gian rằng tiền nợ chỉ lấy một vốn một lãi làm hạn. (Như tiền vốn 100 quan thì lấy lãi 50 quan là một lãi, tiền vốn 10 quan thì lấy lãi 5 quan là một lãi). Trái lệnh cấm và vỗ nợ đều có tội.

    Nhà vua, trong khi muôn việc rảnh rang, có lúc gần âm nhạc, bọn Nguyễn Văn Nhân, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên dâng sớ can. Vua khen là nói phải, dụ rằng: “Trẫm không vì đó mà trễ triều chính. Bọn khanh sao lo xa thế ?”.

    Hạ lệnh cho các quan văn võ chia ban trực ở công thự. Võ thì chưởng quân, quận công, Thị trung đô thống chế, chia làm ba ban, mỗi ban 2 người, ngày đêm trực ở công thự võ; văn thì chính khanh sáu bộ, tham tri, thiêm sự, chia làm ba ban, mỗi ban có 2 chính khanh, tham tri hay thiêm sự thì mỗi bộ đều 1 người, ngày đêm trực ở công thự văn. Nếu ai có việc cáo [thiếu] đến hai lần thì cứ thực tâu lên.

    Hữu Tham tri Lễ bộ là Trần Hưng Đạt vì tuổi già xin nghỉ việc. Vua y cho.

    Lấy Nguyễn Gia Cát làm Tả tham tri Lễ bộ, Lê Chính Lộ làm Hữu tham tri.

    Hình bộ Nguyễn Tử Châu dâng hình luật. Vua triệu các văn võ đại thần tuyên đọc và thân tự xét định. Từ đó ngày thường tiến đọc, buổi sáng đến khi giọt đồng hồ chuyển 10 khắc mới thôi.

    Sai Lệnh sử ty sáu bộ tra xét tiền thóc sản vật ở các dinh.

    Đô thống chế lãnh phó tướng Tả quân là Phan Văn Đức chết ; tặng Chưởng dinh, cho 2 cây gấm Tống và 100 quan tiền.

    Ban sắc thị cho bọn nguyên Hộ bộ Phan Thiên Phước 29 người.

    Sắc rằng dinh vệ các quân thủy bộ, phàm ở Kinh và đóng thú ở Bình Định, Diên Khánh, Nghệ An, Bắc Thành, có lệ được áo mùa xuân, thì quan quản lãnh và quan địa phương, đều đến cuối mùa đông làm danh sách gửi bộ, mỗi năm cứ tháng giêng tháng hai là kỳ chia cấp.

    Đóng tàu Thanh tước ở Gia Định. Lưu trấn thần xin phát binh dân các dinh chia nhau đi tìm lấy ván, mà bắt dân biệt nạp đồn điền phải xuất tiền thuê.

    Chiếu trả lời rằng : “Việc công tác mà động tí lại phiền đến tài lực của quân dân, đó không phải là ý trẫm muốn dân được yên nuôi nghỉ ngơi. Làm một chiếc thuyền Thanh tước thì đội Mộc đĩnh kiếm gỗ cũng đủ, hà tất phải bắt nhiều binh dân”.

    Cho Mạc Tử Thiêm làm Khâm sai chưởng cơ, vẫn lãnh Trấn thủ

    Hà Tiên.

    Lấy Hoàng Tiến Thuận sung Hàn lâm viện.

    Vận chở gỗ lim ở Nghệ An về Kinh.

    Đặt thêm phu trạm ở ba trạm Thạch Bàn, Du Lai và Phù My. (Ngạch cũ có 50 người, đến nay đặt thêm cho Thạch Bàn 25 người, Du Lai 20 người, Phù My 30 người. Thạch Bàn thuộc tỉnh Phú Yên, Du Lai và Phù My thuộc tỉnh Bình Thuận).

    Lưu trấn thần Gia Định tâu nói : “Gần đây giặc biển Chà Và không làm lo cho dân ở Côn Lôn nữa, cho nên ngựa công chăn nuôi ở đấy sinh sản ngày nhiều”. Vua sai chọn ngựa đã rèn tập đưa về Kinh.

    Hạ lệnh cho Quảng Nam hằng năm đến tháng 9 thì tiến quả nam trân [loòng boong].

    Hạ lệnh cho Nghệ An biên thuyền của dân có thể đi biển được (thuyền gỗ bề ngang rộng 6 thước trở lên, thuyền tre rộng 7 thước trở lên), làm sổ tâu lên.

    Tháng 11, vua triệu Phạm Đăng Hưng đến bàn về đạo trị của đế vương đời xưa, nhân hỏi rằng: “Nghiêu Thuấn vô vi nhi trị là nghĩa thế nào?” Đăng Hưng thưa rằng: “Câu này ở trong sách Đại học diễn nghĩa, Chân Đức Tú bàn đã rõ ràng”. Vua bèn sai đem sách ấy tiến lên để xem.

    Lấy Cai cơ Hoàng Văn Viễn làm Phó vệ úy vệ Ban trực tiền quân Thần sách.

    Sai Công bộ Trần Văn Thái kiêm quản dinh Phấn Dực và dinh Ngũ Thủy.

    Lấy Vệ úy vệ Kiên dũng là Trương Phước Đăng làm Vệ úy vệ Thị trung tiền nhị, Phó vệ úy vệ Chấn võ là Tống Văn Hóa làm phó.

    Vệ úy vệ Cường uy quân Thần võ là Phan Mạnh Chính chết; tặng Chưởng cơ.

    Lấy Cống sĩ viện là Trần Lợi Trinh và Lê Văn Phong sung Hàn lâm viện.

    Nguyên Hộ bộ Phan Thiên Phước chết; tặng Tham chính, cho gấm Tống 2 cây, vải lụa đều 2 tấm, tiền 300 quan.

    Miễn dao dịch cho thợ rừng Quảng Đức và Quảng Trị mỗi năm nộp thuế bằng gỗ, hạng tráng nộp 2 cây (mỗi cây trường 10 thước dầy 8 tấc làm mức), hạng lão tật nộp một nửa.

    Vua rất lưu ý đến việc văn trị, từng hỏi Đốc học Quốc tử giám là Hồ Công Diệu rằng: “Gần đây học trò học tập ra sao?” Công Diệu thưa: “Từ thuở Tây Sơn nổi loạn, phú dịch nặng nề, học trò phải bỏ học lâu ngày, nay mới chấn hưng, người đi học hãy còn ít”. Vua dụ rằng: “Khanh giữ chức đào luyện, nên vì nhà nước bồi dưỡng nhân tài, phàm mỗi năm khảo hạch học trò nên lấy rộng thêm, chước miễn binh dịch dao dịch cho họ để cho người học có thể chuyên nghiệp thì nhân tài sẽ ngày một thịnh”.
    :rose: