0014.01.06 Trang [061]-[072] (Bi - done)

14/8/15
0014.01.06 Trang [061]-[072] (Bi - done)
  • http://www.mediafire.com/view/hy27gv6s4qc01ld/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00006.pdf
    Sáng tạo về từ là hiện tượng được thấy khá nhiều trong các thứ tiếng. Điều này không có gì là khó hiểu, vì trong ngôn ngữ, so với ngữ âm và ngữ pháp, từ vựng phát triển tương đối nhanh hơn cả. Tạo ra từ mới, phát triển ý nghĩa của từ là những sáng tạo chủ yếu về từ. Trước hết cần phải nói rằng không thể và không nên "sáng tạo" ra những từ có vỏ âm thanh hoàn toàn mới. Muốn tạo ra từ mới thành công cần phải dựa vào các yếu tố cấu tạo từ và khuôn mẫu câu tạo từ sẵn có của tiếng nói dân tộc. Các từ ghép kiểu lứa đôi, nôn nóng, sai sót, v.v... là những từ mới có trong tiếng Việt, nhưng chúng lại có sức sống rất dồi dào. Các từ này được cấu tạo nên bằng những yếu tố lứa, đôi; nôn, nóng; sai, sót, v.v... và theo khuôn mẫu ghép liên hợp của tiếng ta. Việc thay những từ mượn của tiếng Hán bằng những từ mới mà các yếu tố cấu tạo và khuôn mẫu có sẵn trong tiếng Việt, là một việc làm đầy sáng tạo, đòi hỏi nhiều công phu và hiểu biết, chứ không phải "chỉ cần chịu khó dịch ra tiếng Việt một tí" (1) là được, như có người quan niệm. Hồ Chủ tịch đã từng dùng vùng trời, vùng biển, chữ thập đỏ, v.v... thay cho không phận, hải phận, hồng thập tự, v.v... Nhưng Người cho rằng, nếu thay độc lập bằng "đứng một, du kích bằng "đánh chơi" lại là "tếu". Không thể thay độc lập v.v.. bằng "đứng một"; v.v..., vì trong tiếng Việt không có các yếu tố cấu tạo từ tương ứng để có thể thay cho từ độc lập mà không làm thay đổi ý nghĩa của nó. Gần đây, báo chí ta đã dùng người lái máy bay thay cho từ phi công. Người lái máy bay đối với người Việt-nam dễ hiểu hơn là từ phi công, vì cùng với người lái máy bay, trong tiếng ta đã có người lái đò, người lái ô-tô, người lái máy cày, v.v... Đành rằng một từ tổ (người + lái + máy bay) không chặt chẽ bằng một từ (phi công), nhưng cũng cần thấy rõ ý nghĩa sáng tạo của hiện tượng thay thế đó. Cũng nên đánh giá tương tự việc dùng máy bay đậu trên nước thay cho từ thủy phi cơ. Tuy vậy, không phải là hai hiện tượng này đã hoàn hảo trong mọi hoàn cảnh nói và viết. Ví dụ:
    - Một chiếc thủy phi cơ đậu trên mặt biển.
    - Một chiếc máy bay đậu trên nước đậu trên mặt biển.
    (1) Người dọn vườn, - Ước mơ và suy nghĩ, - Tạp chí văn học, 3-1966, tr. 97.
    Rõ ràng là cách nói sau kém hay. Vì thế ta cần suy nghĩ thêm để tạo một từ hay hơn, hoàn chỉnh hơn.
    Mở rộng phạm vi sử dụng của từ cũng được xem là sáng tạo trong từ vựng. Từ sống quả thực là sinh động là ý vị khi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng dùng trong câu sau đây:
    - "Dân tộc Việt-nam ta đang sống cuộc chiến đấu sôi nổi những tình cảm lớn của dân tộc".
    Ai cũng thấy cách dùng từ sống như vậy là mới mẻ, là sáng tạo và rất hay.
    Do phạm vi sử dụng của từ mở rộng mà ý nghĩa của từ được phát triển. Cho nên phát triển ý nghĩa của từ cũng là sáng tạo trong từ vựng. Cần phải nhấn mạnh rằng khi sáng tạo nghĩa mới của từ không thể nào bỏ qua mối liên hệ với nghĩa gốc đã có của nó, không thể nào không lấy nghĩa gốc làm nền tảng. Từ kiện tướng trong tiếng Việt trước đây chỉ có nghĩa là "viên tướng khỏe". Mấy năm gần đây nó được dùng trong: kiện tướng thủy lợi, kiện tướng làm phân, kiện tướng đào đất, kiện tướng cải tiến kỹ thuật, kiện tướng bóng đá, v.v..., và ý nghĩa của từ kiện tướng đã được mở rộng. trong một bài đăng trên báo Nhân dân ngày 1-9-1966, có người đã dùng tỉnh "kiện tướng" diệt máy bay Mĩ. Đến đây ý nghĩa của từ kiện tướng được mở rộng thêm một bước nữa. Nhưng giữa các ý nghĩa mở rộng, giữa ý nghĩa mới và ý nghĩa cũ vẫn có mối liên hệ khăng khít với nhau, mối liên hệ này là khía cạnh ý nghĩa khỏe trong từ kiện tướng. Tuy nhiên cũng có trường hợp người viết và người nói có ý thức mở rộng phạm vi sử dụng của từ nhưng không thể xem là sáng tạo. Ví dụ, có người viết:
    - X. có hơn một lần nhắc đến (Báo).
    Người Việt-nam ta chỉ nói một lần, và nếu chỉ số nhiều thì nói hai lần, ba lần, nhiều lần..., chứ không nói hơn một lần, hơn hai lần v.v... Vì vậy, viết hơn một lần theo cách nói của người Pháp (plus d'une fois) là không đúng với thói quen nói năng của dân tộc.
    Còn có thể tìm thấy hiện tượng sáng tạo về từ vựng trong khá nhiều trường hợp khác. Chẳng hạn như dịch tiếng nước ngoài. có những thành ngữ của tiếng nước ngoài, khi dịch sang tiếng nước ta một mặt giữ được ý nghĩa của nó, một mặt hợp với đặc điểm cấu tạo thành ngữ tiếng Việt, cũng nên xem là sáng tạo. Ví dụ nói vũ trang từ đầu đến chân, vũ trang đến tận răng.
    Có người nghĩ rằng đặt ra những tiếng lóng cũng là sáng tạo. Trên thực tế vẫn có một vài tiếng lóng trở thành từ toàn dân (như từ phới), nhưng tạo ra tiếng lóng quyết không thể là sáng tạo trong ngôn ngữ. Ý nghĩa của tiếng lóng xa lạ với toàn dân, nó chỉ làm vẩn đục tiếng Việt trong sáng mà thôi.
    So với từ vựng thì ngữ pháp tương đối ổn định hơn, ít thay đổi hơn; vì thế, sự sáng tạo trong ngữ pháp có phần khó hơn và ít thấy hơn. Nhưng ít thấy có nghĩa là không có.
    Người Việt-nam không ai nói "rất nhà", "rất làng", "cái bàn lắm", v.v... vì danh từ Việt không kết hợp với các từ chỉ mức độ (như rất, lắm, hơi, v.v...). Nhưng người Việt-nam vẫn thừa nhận cách nói sau đây là sáng tạo, là đúng:
    - Một nền giáo dục hoàn toàn Việt-nam.
    (Hồ Chủ tịch)
    - ...một tiếng nói rất Việt-nam mà cũng rất Huế.
    (Hoài Thanh)
    - ... chưa được thơ cho lắm.
    (Xuân Diệu)
    Ở đây ta thấy đằng sau các danh từ Việt-nam, Huế, thơ, v.v... có ẩn ý nghĩa chỉ thuộc tính, phẩm chất, tính chất; cũng như ta nói rất đẹp, rất thông minh, chưa được hay cho lắm, v.v...
    Trong một câu bình thường, chủ ngữ phải đứng trước vị ngữ. Vì thế lối đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ trong văn xuôi (1) là một lối nói mới, sáng tạo, có tác dụng tốt trong việc thông báo tư tưởng, tình cảm và ý chí cũng như trong nghệ thuật. Ví dụ:
    - Giết ai thứ văn chương ấy!
    (Đặng Thai Mai)
    - Hiên ngang Cu-ba
    (Thép mới)
    (1) Trong thơ, hiện tượng này đã có từ lâu. Ví dụ:
    - Lom khom dưới núi tiều vài chú.
    Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
    (Bà huyện Thanh-quan)

    Trong sự phát triển của tiếng nói dân tộc ta nên học một số cách diễn đạt của tiếng nước ngoài. Những kiểu nói như vì nhân dân quên mình, vì nhân dân phục vụ, v.v... mà ta tiếp thu từ tiếng Hán:
    - Vì vậy tôi mong rằng đồng bào toàn quốc... hết sức vì nước hi sinh.
    (Hồ Chủ tịch)
    - Vì Tổ quốc hi sinh.
    Như đời anh, người thợ.
    (Tố Hữu)
    So với cách nói thông thường của ta: phục vụ nhân dân, hi sinh vì tổ quốc,... là khá mới mẻ, là một sự sáng tạo. Tuy nhiên cách nói đó mới được dùng trong những hoàn cảnh trang trọng, trong những lời thề.
    Nhưng không phải mọi cách đặt câu mới đều có thể xem là sáng tạo. Có người không thấy được phó động từ cho luôn luôn phải đứng sau (trực tiếp hoặc cách quãng) các động từ khác là dạy gửi trong hai câu sau đây, nên đã viết đại khái như sau:
    - Cho học sinh giỏi của trường, cô Xuân đã dạy toán trong suốt tuần vừa qua.
    - Cho ai, anh đã gửi bức thư ấy?
    Lối nói này rất xa lạ với người Việt-nam. Vì thế dù cách đặt câu ấy có mới đi chăng nữa cũng không thể xem là sáng tạo, càng không thể xem là mẫu mực của tiếng Việt. Tuy nhiên, nếu quả thực cách nói này có là một sáng tạo thì sự sáng tạo ấy hiện nay chưa được xã hội công nhận, phải chờ qua thử thách của thời gian, vội vàng xem nó là mẫu mực ngay thì không thỏa đáng.
    Nhiều người cho rằng trong các thể văn nghệ thuật, người viết có nhiều khả năng sáng tạo ngôn ngữ hơn cả. Ngôn ngữ nghệ thuật là một ngôn ngữ hình tượng; tư tưởng, tình cảm, ý chí của người viết đến với người đọc không phải bằng con đường lí trí trực tiếp mà bằng con đường cảm xúc nghệ thuật. Ở đây, ngoài nhu cầu của sự thông báo và nhu cầu của cái đẹp trong cảm thụ nghệ thuật trở thành một đòi hỏi thường xuyên đối với sáng tạo ngôn ngữ. Đặc trưng này cho phép người cầm bút có khả năng vượt ra khỏi những mẫu mực quá ràng buộc mình trong việc dùng từ, trong cách đặt câu v.v... để xây dựng nên những mẫu mực mới. Vì thế ta có quyền chính đáng đòi hỏi ở các nhà văn và nhà thơ những đóng góp tích cực đầy sáng tạo vào việc làm giàu thêm và đẹp thêm tiếng nói của dân tộc, dù rằng chúng ta vẫn xem trách nhiệm củng cố các mẫu mực của ngôn ngữ trong các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ là rất quan trọng, rất lớn lao.
    Song không phải là ngoài văn thơ ra trong các thể văn khác không thể có sự sáng tạo. Văn chính luận là một thể văn đòi hỏi có tính chính xác cao về ngôn ngữ, nhưng người viết vẫn có thể sáng tạo được. Vấn đề là ở chỗ chúng ta dùng ngôn ngữ như thế nào. Những sáng tạo của Hồ Chủ tịch về ngôn ngữ chủ yếu là ở trong thể văn chính luận đã làm sáng tỏ điều đó. Trong văn chính luận do tính nghiêm túc và trang trọng của nó, người ta hình như không dùng từ khẩu ngữ. Nhưng trên thực tế, nếu như dùng tố từ khẩu ngữ, bài văn không những không mất tính nghiêm trang, mà còn sinh động hơn. Ví dụ:
    - Bác bạn hãy phấn đấu để phá tan những sự điêu toa của bọn thực dân Pháp đang tuyên truyền một cách bỉ ổi.
    (Hồ Chủ tịch)
    - Đảng ta là con nòi, xuất thân từ giai cấp lao động.
    (Hồ Chủ tịch)
    -... nếu với 25 vạn quân Mĩ và trên 40 vạn quân ngụy mà chúng đã bị thua ta đậm trong mùa khô thì thử hỏi dù chúng có đưa thêm hàng vạn quân vào miền Nam nữa, liệu chúng có thể kiếm chác được cái cóc khô gì ngoài những thảm bại nặng nề và nhục nhã hơn? (Trường Sơn)
    Goóc-ki đã nói rất đúng: "Lịch sử văn hóa dạy chúng ta rằng ngôn ngữ giàu lên một cách đặc biệt nhanh chóng trong những thời đại mà hoạt động xã hội của con người tăng cường đến mức tối đa, nhiều phương thức lao động mới được ứng dụng và các mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt" (1). Tiếng Việt của chúng ta là tiếng nói của một dân tộc anh hùng đang dốc toàn lực đánh bại đế quốc Mĩ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đang hăng say xây dựng chủ nghĩa xã hội, đang góp phần cống hiến lớn lao vào sự nghiệp chung của cách mạng thế giới. Đặc điểm xã hội của nước ta ngày nay là một nhân tố khách qua quan trọng thúc đẩy sự phát triển của tiếng Việt, làm cho nó ngày càng giàu hơn, đẹp hơn. Chính lúc này là lúc cá nhân có thể có nhiều sáng tạo đóng góp vào tiếng nói của dân tộc.
    (1) Goóc-ki - Bàn về văn học, tập II, Hà-nội, 1965, tr.208
    Chúng ta có tinh thần cách mạng triệt để, có lòng yêu nước, yêu tiếng nói của dân tộc sâu sắc. Nếu chúng ta có được những hiểu biết khoa học, chính xác về tiếng Việt, nếu chúng ta biết học tập ngôn ngữ của các nhà văn nhà thơ gương mẫu xưa nay, biết học tập ngôn ngữ của quần chúng, thì nhất định chúng ta sẽ có những sáng tạo và thành công về ngôn ngữ, góp được phần cống hiến quý báu của mình vào gia tài ngôn ngữ giàu đẹp của dân tộc anh hùng chúng ta.

    NGUYỄN KIM THẢN
    VẤN ĐỀ NÓI TẮT TRONG TIẾNG VIỆT
    O.
    Vấn đề nói tắt như nói "y bác sĩ", "chiến kĩ thuật", "tranh thủ", v.v..., gần đây đã được dư luận chú ý (1). Xung quanh vấn đề này, hiện nay có hai ý kiến. Ý kiến thứ nhất thì cho rằng những từ dẫn làm ví dụ ở trên không đúng, không phù hợp với thói quen của tiếng Việt. Ý kiến thứ hai thì cho rằng những từ ngữ ấy phù hợp với "nguyên lí tiết kiệm" trong lời nói, cần được khuyến khích. Trong bài này, chúng tôi muốn tìm hiểu các từ nói tắt trong tiếng Việt và nhân đó, nói qua ý kiến của chúng tôi về vấn đề trên. Ở đây, chúng tôi phân biệt từ nói tắt và chữ viết tắt. Từ nói tắt có thể tồn tại trong lời nói, nghĩa là có vỏ âm thanh, có ý nghĩa, có chức năng ngữ pháp như bất kì từ nào khác trong ngôn ngữ. Ví dụ: Việt-minh, Trung-Xô, công thương nghiệp, nông vận v.v...
    (1) Xem: Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Tạp chí Văn học, 1966, số 3; Quang Đạm, Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đối với người viết báo Việt-nam, Tạp chí Văn học, 1966, số 4; Đinh Trọng Lạc, Giáo trình Việt ngữ, tập III, Hà-nội, 1964, tr. 48-49; Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập I, Hà-Nội, 1963, tr. 253, tập II, Hà-Nội, 1964, tr. 136.

    Chữ viết tắt chỉ thuần túy là những dấu hiệu bằng chữ, không thể xuất hiện trong lời nói. Ví dụ:
    VNDCCH (Việt-nam dân chủ cộng hòa)
    MTDTGPMNVN (Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt-nam)
    HTX (hợp tác xã)
    v.v... (vân vân)...
    Còn những từ như tranh thủ, trao đổi đã dẫn ở trên không phải là từ nói tắt . Đó là lối nói tắt từ.
    Khi bàn đến những từ nói tắt, chúng tôi sẽ không bàn đến những từ phải nói tắt vì sự cần thiết của câu đối, thơ, ca v.v... vì đó là những hiện tượng nhất thời và không bình thường. Ví dụ: Con cò con vạc con nông... (Ca dao) (nông < bồ nông).
    1. Cho đến nay tiếng Việt đã có những kiểu từ nói tắt như sau:
    1.1. Rút gọn những từ thuần, cấu tạo theo kiểu láy lại, có hai âm tiết, thành từ một âm tiết. Đây là những từ lập thành theo một phương thức nói tắt đặc biệt Việt-nam. Ví dụ:
    Từ trong phương ngôn Từ trong ngôn ngữ văn học
    con ve ve (2) > con ve;
    con se sẻ (3) > con sẻ;
    con trai trai (4) > con trai;
    con le le (5) > con le; v.v...
    (2) (3) Phương ngôn Bắc Trung-bộ.
    (4) (5) Ở một vài thổ ngữ Bắc-bộ.

    1.2 Một số từ hai âm tiết chỉ còn một âm tiết. Những từ này thường ghép theo quan hệ chính phụ. Trong số này, có những từ Việt thuộc loại:
    ban sáng, buổi sáng > sáng;
    mười rằm > rằm; (6)
    máy chữ > máy (ví dụ: đánh máy)
    (6) Ví dụ: mười rằm trăng náu, mười sáu trăng treo (Ca dao). Trong tiếng Việt cổ, rằm có nghĩa là năm (5).
    Ngoài ra có nhiều từ Hán thuộc loại:
    tú tài > tú;
    nghị viên > nghị;
    lí trưởng > lí;
    y học > y;
    Nga-la-tư > Nga; v.v...
    Những từ Việt phần lớn là những từ chỉ thời điểm và công cụ. Trong những từ chỉ thời điểm, yếu tố bị bớt đi là những yếu tố chính có ý nghĩa khái quát, như ban, buổi (rơi vào âm tiết thứ nhất). Trong những từ chỉ công cụ, yếu tố bị bớt đi là những yếu tốt phụ, có ý nghĩa cụ thể (rơi vào âm tiết thứ hai). Những từ mượn của tiếng Hán phần lớn chỉ học vị, chức tước, môn học, tên nước, v.v... Trong những từ đó, yếu tố bị bỏ đi nói chung rơi vào âm tiết thứ hai và thứ ba, không kể âm tiết ấy có ý nghĩa hay không hoặc có ý nghĩa như thế nào. Tuy vậy trong một số trường hợp, yếu tố bị bớt lại rơi vào âm tiết thứ nhất. Ví dụ:
    tri huyện > huyện.
    chánh tổng > tổng, v.v...
    1.3. Những từ chỉ những hiện tượng trung gian hoặc chỉ những chỉnh thể do một số sự vật tạo thành cũng thường là những từ nói tắt. Những từ nói tắt này vốn dĩ là một cụm gồm hai ba từ đầy đủ trở lên tạo thành, mà mỗi từ đầy đủ thì thường gồm hai âm tiết.
    Những từ nói tắt này cấu tạo theo hai kiểu:
    1.3.1 Kiểu thứ nhất:
    Trong từ nói tắt, mỗi từ chỉ để lại một từ tố - nói chung là từ tố thứ nhất - hay một âm tiết - nói chung là âm tiết thứ nhất. Tuy vậy có khi yếu tố để lại là từ tố thứ hai hay âm tiết thứ hai. Từ nói tắt thường có hai âm tiết, và nhiều nhất là bốn âm tiết. Ví dụ
    tuyên truyền, huấn luyện > tuyên huấn;
    chỉnh đốn, huấn luyện > chỉnh huấn;
    Hà-nam, Nam-định, Ninh-bình > Hà- Nam-Ninh;
    Việt-nam, Trung-quốc, Liên-xô > Việt – Trung – Xô; v.v…
    Ngoài ra cũng cần phải kể thêm một số từ như sinh hóa, nông hóa, toán lí, hóa lí, v.v… (7)
    (7) Ở đây không kể đến những từ mượn nguyên vẹn một số từ nói tắt của tiếng Hán, như: nông vận, dân vận, địch vận, v.v… Cũng không kể đến những từ mượn của tiếng Pháp, đã rút gọn từ Pháp lại, vì trong tiếng Việt những từ đó bao giờ cũng chỉ có một âm tiết. Ví dụ: lốp (envelope); lon (gallon); nòng (ca-non); v.v…
    1.3.2. Kiểu thứ hai:
    Theo kiểu này mỗi từ để lại một từ tố riêng và ghép với một từ tố chung. Từ bị nói tắt thành một từ có ba hoặc bốn âm tiết. Ví dụ:
    xuất khẩu, nhập khẩu < xuất nhập khẩu;
    công nghiệp, thương nghiệp > công thương nghiệp;
    nhân lực, tài lực, vật lực > nhân tài vật lực.
    1.4. Mấy chục năm trở lại đây, trên báo chí của Đảng, xuất hiện một số chữ viết tắt đặc biệt. Dần dần, do việc cần phải giữ bí mật trong khi nói và viết, các cán bộ của Đảng đã dung những tên chữ đầu mỗi âm tiết viết tắt đó vào trong lời nói. Vì thế, đến nay ta đã có một số từ mới. Ví dụ:
    CQ = xê-cu (cơ quan);
    TƯ = tê-ư (Trung ương);
    ATK =a-tê-ca (an toàn khu); v.v…
    Sau Cách mạng tháng Tám và trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một loạt từ mới, cấu tạo theo kiểu này ra đời. Ví dụ:
    QZ = cu-dét (quốc dân đảng);
    CZ = xê-dét (chiến dịch);
    SKZ = ét-ca-dét (súng không dật); v.v… (8)
    (8) Cũng không kể những từ mượn nguyên vẹn một số từ nói tắt của tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga. Ví dụ: vê-a >VA (végétations adenoïds); đê-tê-tê < DTT (dichlodiphenyltrichlo-metylmetan); na-pan < napalm < aluminium salts of naphthenic and palmetic acids; com-xô-môn < komsômol < kommunisti-cheskiy soyuz molodyozi, v.v…
    Đáng chú ý là không bao giờ ta nối âm, mà trái lại, đọc tách bạch tên chữ ra. Ví dụ TƯ không đọc là “tư” mà đọc là “tê-ư”.
    Hiện nay ta còn dùng một số tên chữ để chỉ những đơn vị bộ đội. Ví dụ: A,B,C… (a, bê, xê…). Những từ đó có khả năng sinh sản, và do đó ta có: a trưởng, a phó, v.v…
    1.5. Những năm gần đây, hiện tượng nói tắt đã lan rộng. Thường thấy nhất là hiện tượng bỏ phụ ngữ của động từ. Ví dụ:
    Tăng gia (sản xuất), thoát li (sản xuất), tranh thủ (thời gian), phát biểu (ý kiến), tổ chức (lễ cưới), tuyên bố (kết hôn), xây dựng (gia đình), tìm hiểu (người yêu), cắt đứt (quan hệ yêu đương hay vợ chồng), trao đổi (ý kiến), cải cách (ruộng đất), phát động (quần chúng), v.v…
tducchau and teacher.anh like this.