060. Trang [0649-0659] - @Suongdem(done)

12/5/16
060. Trang [0649-0659] - @Suongdem(done)
  • :rose:
    Vua xem đánh cá ở sông Hương.

    Dân Chân Lạp có 47 người gặp bão dạt đậu vào Khâm Châu nước Thanh, tự xưng là dân của nước ta. Người Thanh đưa trở về. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Sai các trấn dọc đường tiếp tế lương thực cho về.

    Nguyễn Văn Khiêm tâu cử cai đội, phó đội là bọn Trần Văn Giảng, Mai Văn Thuận 46 người suất lãnh các dực binh lệ theo hoàng tử hoàng tôn; bọn Nguyễn Văn Thuận. Nguyễn Văn Tư 24 người suất lãnh binh thuộc kiên lệ theo đường quan sáu bộ. Vua y cho.

    Thuyền vận tải của Bắc Thành gặp gió, hại mất 1.600 phương gạo. Hữu ty xin bắt thợ lái bồi thường đủ số. Vua nói : “Cái ấy sức người không chống nổi, miễn cho”.

    Cấp tiền gạo cho lính mới kén ở các dinh quân. Nhân đó, răn các quản quân rằng : “Lính mới lệ theo đội ngũ, bọn ngươi có trách nhiệm quản suất, nên vỗ về yêu thương, không được sai làm việc riêng để đến nỗi họ trốn mất”.

    Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Quang Diệu tự Quảng Nam về, tâu nói : “Trong tuyển trường có một người đã điểm làm lính mà tự chặt ngón tay đi để cầu khỏi. Bọn thần cho rằng nó không có nhân tâm, chém ngay để làm gương”. Vua nói : “Pháp luật vẫn nên như thế”. Nhân sắc cho các dinh trấn rằng : “Phàm hạng có tàn tật ở sổ, nên xét rõ duyên do, kẻ nào giả dối không thực thì trị tội nặng”.

    Sai Bắc Thành chọn cử những người có thể làm chánh phó vệ úy, cai đội, phó đội, lấy 69 người, ghi tên tâu lên.

    Tháng 12, lấy Chưởng cơ Vương Văn Học làm Vệ úy vệ Ban trực hữu quân Thần sách, cai cơ Nguyễn Văn Cận làm Phó vệ úy vệ Long võ.

    Cai bạ Quảng Bình là Phan Kế Điều có tội bị cách chức. Đình thần xin lấy tri phủ Hà Hoa là Phạm Văn Dưỡng thăng bổ. Vua nói rằng : “Dưỡng ở quan chưa bao lâu, sao đã vội thăng ?”. Bầy tôi đều sợ cúi đầu tạ tội. Vua bèn mở sổ quan xem, lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Lê Đắc Tần thay.

    Lấy Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Xuân Thục làm Ký lục Trấn Biên, Tri phủ Tĩnh Gia là Đinh Văn Nhã làm Tham hiệp Thanh Hoa, Tri phủ Đức Quang là Thái Văn Nguyên làm Tham hiệp Nghệ An.

    Từ Kinh sư vào Nam đến Bình Hòa, ra Bắc đến Thanh Hoa, lâu không mưa. Vua lấy làm lo, hạ lệnh cho các quan dinh trấn đặt đàn cầu đảo bảy ngày đêm, có mưa hay không, đều làm sớ tâu lên.

    Ngày Canh dần, vua yết lăng Hoàng khảo.

    Ngày Tân mão, tế Chạp.

    Gia tặng Tôn Thất Hạo làm Dực vận đồng đức tôn thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thái phó quốc công, thụy là Trung nghĩa ; Tôn Thất Đồng làm Dực vận minh nghĩa tôn thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thái sư quốc công, thụy là Trung tiết ; Tôn Thất Mân làm Dực vận tuyên lực tôn thần khai phủ phụ quốc nguyên soái thiếu phó quận công, thụy là Trung liệt, Tôn Thất Điến làm Dực vận tĩnh nạn tôn thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thái bảo quốc công, thụy là Trung mẫn. (Bốn người đều là con Hưng tổ, ra trận tử tiết).

    Cấp ruộng tự điền cho các vị tôn thân. Tuyên vương mục vương tự điền đều 100 mẫu (ở xã Hà Trung huyện Phú Lộc), Thái phó Tôn Thất Huy 80 mẫu, Cai đội Tôn Thất Chương, Cai cơ Tôn Thất Bảo và Thiện Long giáo chủ Tống Sơn quận quân Ngọc Dao đều 15 mẫu (đều ở hai xã Kế Môn và Đại Lộc huyện Phong Điền). Sai bọn Tôn Thất Diệu, Tôn Thất Quân, Tôn Thất Sài, mỗi năm thu tiền thóc để thờ cúng. (Tôn Thất Chương, Tôn Thất Bảo và Ngọc Dao là do Hiếu võ hoàng hậu sinh ra).

    Cho bầy tôi tôn thất là Tôn Thất Khê, Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Hạo, Tôn Thất Đồng, Tôn Thất Mân, Tôn Thất Điến, Tôn Thất Huy 7 người và công thần là Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kính, Võ Tánh, Ngô Tòng Chu 6 người, được tòng tự ở Thái miếu. (Tả vu có bảy án : án tả nhất thờ Tá lý tôn thần đặc tiến thượng trụ quốc bình chương quân quốc đại sự tổng trấn Tường quận công, thụy Trung Nghị, Tôn Thất Khê ; án tả nhị thờ Minh nghĩa tuyên lực tôn thần khai phủ phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Tả quân đô đốc phủ chưởng phủ sự thiếu úy quận công, thụy Toàn Tiết, Tôn Thất Hiệp ; án tả tam thờ Dực vận đồng đức tôn thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thái phó quốc công, thụy Trung Nghĩa, Tôn Thất Hạo ; án tả tứ thờ Dực vận minh nghĩa tôn thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thái sư quốc công, thụy Trung Tiết, Tôn Thất Đồng ; án tả ngũ thờ Dực vận tuyên lực tôn thần khai phủ phụ quốc nguyên soái thiếu phó quận công, thụy Trung Liệt, Tôn Thất Mân ; án tả lục thờ Dực vận tĩnh nạn tôn thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân thái bảo quốc công, thụy Trung Mẫn, Tôn Thất Điến ; án tả thất thờ Dực vận tá mệnh tôn thần chưởng Tả quân dinh thiếu phó đặc tiến thượng trụ quốc Tả quân đô đốc phủ chưởng phủ sự thái phó chưởng dinh quận công, thụy Trung Tĩnh, Tôn Thất Huy. Hữu vu có sáu án : án hữu nhất thờ Hiệp mưu đồng đức công thần đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu nội tán Lộc Khê hầu, thụy Trung Lương, Đào Duy Từ ; án hữu nhị thờ Hiệp mưu tán lý công thần đặc tiến Tả quân đô đốc phủ chưởng phủ sự tiết chế Thuận quận công, thụy Chính Cần, Nguyễn Hữu Tiến ; án hữu tam thờ Tán trị tĩnh nạn công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Tả quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự Lưu Đồn đạo đốc suất chưởng dinh Chiêu quận công, thụy Càn Tiết, Nguyễn Hữu Dật ; án hữu tứ thờ Tuyên lực công thần đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ đô chỉ huy sứ Ty đô chỉ huy sứ đô đốc phủ chưởng phủ sự phó tướng chưởng cơ Lễ Tài hầu, thụy Tuyên Vũ, Nguyễn Hữu Kính ; án hữu ngũ thờ Khâm sai chưởng Hậu quân bình Tây tham thặng đại tướng quân tặng Dực vận công thần đặc tiến phụ quốc đại tướng quân thái úy quốc công, thụy Trung Liệt, Võ Tánh ; án hữu lục thờ Khâm sai Lễ bộ tặng Tán trị công thần đặc tiến trụ quốc kim tử vinh lộc đại phu Đại lý tự khanh thái tử thái sư quận công, thụy Trung ý, Ngô Tòng Chu).

    Quan Bắc Thành tâu rằng : “Gần đây các trấn phủ huyện xét hỏi kiện tụng, phần nhiều chưa đúng, dân thường kiện ở thành. Xin theo nhẹ nặng mà nghị phạt, đến cuối năm làm sách tâu lên để phân biệt kẻ hay người dở”. Vua y lời tâu.

    Dựng nhà học ở Thanh Hoa.

    Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế dâng sổ thuế biệt nạp của các dinh ở Gia Định và các trấn Thanh Nghệ, các trấn ở Bắc Thành. Vua dụ rằng : “Quản lý sản vật của dân, cốt yếu là ở ăn mặc và đồ dùng. Nay nên xem những vật thiết dụng thì giữ, không thì bãi đi, để tiện cho dân.”

    Thống lãnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái tâu rằng : “Năm Giáp dần bắt đầu vâng mệnh về tập họp thổ binh và hào mục các huyện ở Thanh Hoa, Nghệ An, tổ chức thành năm chi, thường chống đánh giặc Tây Sơn để đợi quân nhà vua. Mùa xuân năm Nhâm tuất hợp với quân nước Vạn Tượng để chẹn đường chạy của giặc. Nay số quân hiện có ở năm chi là 581 người, xin đặt thêm làm bảy chi, ghi họ tên, hằng năm đem ngạch dâng tâu. (Khâm sai cai cơ chánh quản các đội 1 người, cai bạ điển quân 1 người, chánh quản chi 7 người, phó quản chi 7 người, trưởng hiệu cai đội 35 người, phòng ngự sứ chia quản các động sách 11 người, thủ ngự sứ 28 người, còn dư từ đội trưởng đến quân là 491 người). Lại trước đặt ba hiệu quế hộ giáp, ất, bính, nay lại mộ thêm dân ngoại tịch đặt một hiệu đinh, cộng 178 người, xin đều miễn thuế thân, tiền đầu quan và dao dịch”. Vua y cho.

    Quốc trưởng nước Vạn Tượng là Chiêu A Nỗ sai sứ đến cống. (Voi đực 2 con, sừng tê 2 tòa, nhục quế 800 cân). Sứ giả đến Cam Lộ, dinh thần Quảng Trị dịch thư nói : Xưa ở đời liệt thánh, nước họ 3 năm một lần cống, đời đời xưng phiên thần. Từ khi giặc Tây Sơn tàn ngược, dân không sống nổi, mới phải theo nước Xiêm, lại bị người Xiêm làm khổ. Nay uy vũ nhà vua nổi dấy, Man Di đều quy phục cả, xin theo lệ cũ, tiến cống như xưa. Dinh thần đem việc tâu lên. Vua sai thiêm sự Lễ bộ và cai đội Tiểu sai đều một người đi tiếp sứ giả. Khi sứ giả đến, cho yết kiến, hỏi về chính sự phong tục nước họ, rồi khoản đãi rất hậu, hơn một tháng, sứ giả xin về nước.

    Vua bảo Đặng Đức Siêu rằng : “Đi thì hậu, lại thì bạc, đó là đạo mềm mỏng với người xa. Nước Vạn Tượng không bỏ lễ thờ nước lớn, kính thuận đáng khen, nên ban tứ hậu mà bảo về”. (Cho quốc trưởng đoạn hồng vũ 5 tấm, trừu trắng 20 tấm, the mầu, lụa trắng, vải nhỏ trắng, vải nhỏ thâm, đều 50 tấm ; sứ bộ 43 người đều cho bạc tiền theo thứ bậc khác nhau). Lại cho chiếu dụ rằng : “Quốc trưởng Chiêu ấn trước nước ngươi là bề tôi cũ của trẫm vậy. Trẫm đối với nước ngươi, chỉ nghĩ đến vỗ về yêu mến. Ngươi nên kính giữ chức phận, giữ yên lấy dân, cho xứng ý trẫm”. Sai Lễ bộ bàn định lệ cống, bắt đầu từ năm nay. (Ba năm một lần cống, lấy các năm sửu, thìn, mùi, tuất làm kỳ cống, tháng 12 thì đến Kinh cho kịp ngày chầu mừng tiết Chính đán. Đồ cống là : voi đực 2 con, sừng tê 2 tòa, ngà voi 2 chiếc, vỏ quế 5 cân. Sứ bộ thì chánh sứ phó sứ đều 1 người, tù trưởng 3 người, thông ngôn 2 người, người đi theo 30 người. Đường sứ do trạm Nghệ An dẫn đi, không được theo đường Cam Lộ Ai Lao.

    Giặc nổi ở Sơn Tây và Hải Dương, họp đảng ở khoảng Tiên Phong, Thanh Hà. Quan Bắc Thành sai thám tử là Trương Nghiễm và Nguyễn Văn Đặng dẫn quân chộp bắt, bắt được đầu đảng là Cao Văn Dụng (ngụy xưng niên hiệu Cảnh Nguyên), Nguyễn Tình (ngụy xưng Chính Thuận thái tử) giết đi. Việc tâu lên. Cho bọn Nghiễm làm cai đội, thưởng tiền 600 quan.

    Giặc biển cướp ở ngoài biển Nghệ An, lính tuần dương đánh đuổi chạy, bắt được 18 người. Trấn thần tâu lên. Thưởng tiền 200 quan.

    Ngày ất tỵ, vua ngự ở điện Thái Hòa, ban lịch cho trong ngoài.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXVIII
    THỰC LỤC VỀ THẾ CAO TỔ HOÀNG ĐẾ
    Bính dần, Gia Long năm thứ 5 [1806] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 11), mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính thìn, tế xuân hưởng.

    Bầy tôi lại dâng biểu khuyến tiến xưng đế hiệu. Vua theo lời xin. Sai Lễ bộ chọn ngày lành đúc sách vàng.

    Lấy Nguyễn Du làm Đông các học sĩ, Lê Lương Thận làm Hàn lâm viện chế cáo, Nguyễn Hữu Kiều sung Cống sĩ viện.

    Lấy Nguyễn Danh Dương làm Đốc học Nghệ An.

    Sai bọn Chưởng quân Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Hoàng Đức, Tham tri Nguyễn Quang Diệu, Thiêm sự Trần Văn Tính, chia đi các dinh Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, để kén lính.

    Cho Đinh Văn Dụ làm Khâm sai chưởng cơ, vẫn hành chức Lưu thủ Quảng Trị.

    Thống chế Nguyễn Công Nga và Phó tướng Nguyễn Công Thái vì tuổi già xin về hưu. Vua nghĩ hai người có công theo đánh giặc, đều thưởng cho mỗi người một năm bổng. Lại cho Công Nga 30 người thuộc binh, Công Thái 25 người, sai mộ dân ngoại tịch sung vào.

    Tôn Thất Thăng tâu xin bổ cho bọn Nguyễn Hữu Hựu 14 người trong cơ Kiên thuận sở thuộc làm quản cơ, cai đội, đội trưởng, khác nhau. Vua y cho.

    Chưởng cơ phó thống Tả quân là Nguyễn Văn Thiêm chết ; tặng Chưởng dinh.

    Định số tùy binh cho thống quản các dinh quân ở Kinh theo thứ bậc khác nhau. (Đô thống chế các dinh Thần sách, phó đô thống chế Trung dinh, đều 20 người ; thống chế Thị trung, phó đô thống chế các dinh Thần sách, đều 10 người ; vệ úy Thị trung, chánh quản Trung hầu, đều 7 người ; phó vệ úy Thị trung, phó quản Trung hầu, vệ úy Nội trực, Thần sách đều 4 người ; cai đội Thị trung, phó vệ úy Nội trực, Thần sách, đều 2 người ; cai đội Trung hầu, Nội trực, Thần sách, đều 1 người).

    Định 9 điều binh chính cho từ Quảng Bình vào Nam đến Bình Thuận. Chiếu rằng : “Giữ nước giữ dân không thể không có quân lính. Trị binh có chế độ thì dân mới thường yên, nước mới thường trị. Trước đây giặc Tây Sơn bạo ngược, bắt hết dân làm binh, mà quản quân thì không thương yêu binh lính chút nào, tha hồ đào khoét, đến nỗi quân không vui làm, dân không thể sống. Trẫm kính thi hành hình phạt của trời, cả định võ công, rất để ý đến binh chính. Các dinh từ Quảng Bình đến Bình Thuận đều chiếu theo số đinh, cứ 3 đinh lấy 1 bổ vào các quân thủy bộ trong ngoài. Còn lại thì vẫn để ở dân hạng mà chịu dao dịch. Binh và dân đều có định phận. Gần đây nghe binh lính có người đòi cấp dưỡng ở dân, sợ hoặc sinh nhiều mối tệ, dân không chịu nổi. Vậy định rõ thêm điều cấm để mọi người vâng theo, không được trái vượt.

    1. Những quân mới kén đã có lương tháng, không được yêu sách xã dân phụ dưỡng. Nếu có yêu sách mà lý dịch lấy tình riêng tự tiện cấp cho, thì đều trị tội cả. Quan cai quản không xét ra cũng bị tội lây.

    2. Binh lính phải làm sai dịch, đều có định phận, quan cai quản nếu ai riêng cho nghỉ việc, đòi lấy tiền của, cùng là mang lòng hiềm, mưu lợi riêng đánh đập đau đớn, để đến nỗi họ bỏ trốn, thì lấy quân pháp trị tội.

    3. Quan cai quản không được đòi lấy tiền của ở xã dân ; xã dân mà lấy tình riêng tặng biếu thì cũng phải tội như thế.

    4. Binh lính làm công việc gì, vật liệu cần dùng đều do bộ Binh chia cấp, quan cai quản không được tăng thêm để làm lợi riêng.

    5. Phép trị binh, thao luyện lâu ngày thì tinh thục tề chỉnh. Binh đến 50 tuổi, cùng là mắc bệnh nặng và chết đi, thì quan cai quản phải trình rõ bộ Binh, ra lệnh cho xã dân chọn người khác sung bổ, không được tự tiện thải ra thay vào, làm trái thì trị tội.

    6. Binh lính tại ngũ mà bỏ trốn, đòi bắt không được, thì bắt anh em ruột sung điền. Nếu không có anh em ruột mới chọn người khác.

    7. Binh lính trốn một lần thì đánh 50 roi, đưa về đội ngũ, hai lần thì đánh 70 roi, sung vào hỏa đầu, ba lần thì chém. Binh lính trốn bị người trong xã bắt được đem nộp thì sau khi chém miễn phải điền cấp ; nếu bị người xã khác bắt được đem nộp thì cứ y lệ bắt điền cấp. Đến như binh lính đi đánh trận mà trốn thì lập tức chém để nghiêm quân lệnh.

    8. Binh lính có lệ chia ban để nghỉ, hết hạn phải đến đội ngũ, quá hạn 1 ngày đánh 30 roi, cứ mỗi ngày lại thêm một bậc, tội chỉ đến 100 roi là cùng.

    9. Dân xã điền cấp binh lính, nếu bị quan cai quản và binh lính đòi lấy tiền của thì cho xã dân đến kêu ở quan địa phương gần đấy để chuyển trình lên bộ Binh xét rõ, tâu xin trị tội”.

    Sai kén trong các quân, người tuổi từ 25 trở lên, 30 trở xuống, sức vóc khỏe mạnh, bổ vào đội Loan nghi (Bả cái cũ).

    Cấp lương tháng cho chánh phó suất đội đội Uy chấn quân Trung hầu. (Chánh suất đội mỗi tháng tiền 4 quan, gạo 3 phương, phó suất đội mỗi tháng tiền 3 quan, gạo 2 phương 15 bát).

    Ban tiền gạo cho cựu thần nhà Lê là Lê Trị rồi cho về. Trị là người huyện Siêu Loại trấn Kinh Bắc, khi Tây Sơn nổi loạn, theo vua Lê chạy sang nước Thanh, khi trở về vua triệu vào kinh cho yết kiến, đến nay vì có tang mẹ xin về. Vua ban cho hậu rồi cho về.

    Hạ lệnh cho Thanh Hoa và Nghệ An mỗi trấn chở 5 vạn hộc lúa về Kinh.

    Lấy Cai cơ Trần Văn Học làm Giám thành sứ.

    Tháng 2, ngày Giáp thân, bắt đầu dựng đàn Nam giao (ở xã Dương Xuân về phía nam Kinh thành). Đàn làm ba tầng (tầng thứ nhất đàn tròn, cao 6 thước 8 tấc, chu vi 30 trượng 3 thước 5 tấc ; tầng thứ hai đàn vuông ; cao 2 thước 5 tấc, mỗi chiều 19 trượng 5 thước 7 tấc ; tầng thứ ba đàn vuông, cao 1 thước 9 tấc, mỗi bề 37 trượng 5 thước ; chung quanh ba tầng đều có lan can).

    Đàn tròn tầng thứ nhất để tế Trời [Hiệu thiên thượng đế] Đất [Hoàng địa kỳ]. Đàn vuông tầng thứ hai tế tám tòng vị [tám vị được dự thờ] ở tả nhất là Mặt trời, tả nhị là các Tinh Tú, tả tam là các thần Gió, Mưa, Mây, Sấm ; tả tứ là sao Thái tuế(1. Thái tuế : Tức là Mộc tinh, người xưa lấy để ghi năm.1), thần Nguyệt tướng(2. Nguyệt tướng : Chỉ lúc mặt trời mặt trăng họp nhau. Có 12 thần Nguyệt tướng. 2), hữu nhất là Mặt trăng, hữu nhị là các thần Núi, Biển, Sông, Chằm [Sơn Hải Xuyên Trạch] (năm Minh Mệnh thứ 9 đổi làm Sơn Hải Giang Trạch), hữu tam là các thần Cồn, Gò, Bờ nước, Bãi bằng, hữu tứ là các thần kỳ trong cả nước. Tầng thứ ba, phía đông nam đặt sở Phần sài(1. Phần sài : Nơi chất củi để đốt các đồ cúng tế như bò, lợn và lụa, cho cháy hết bốc khói lên cao, để tế Trời.1), phía tây bắc đặt sở ế khảm(2. ế khảm : Nơi đào lỗ để chôn các con vật như bò, lợn, lụa xuống đất, để tế Đất. 2). ở ngoài ba tầng thì làm nền vuông, trồng thông khắp cả, ngoài nền vuông thì xây tường chung quanh. Cửa bốn mặt xây cột gạch. ở ngoài đàn về phía hữu thì đặt Trai cung làm nơi vua ăn chay.

    Sai Chưởng quân Phạm Văn Nhân trông coi công việc. Thưởng cho các quân làm việc 5.000 quan tiền. Mở vào đất riêng của nhân dân và vào phần mộ phải dời đi thì chi cấp tiền cho. Rồi lấy 25 người dân xã Dương Xuân sung làm đàn phu, miễn cho dao dịch.

    Sai bộ Lễ bàn định về đồ thờ ở đàn Nam giao, đưa cho hữu ty làm theo cách thức. Lại hạ lệnh cho dinh Quảng Đức chọn mua một con trâu non và tám con trâu đực nuôi ở chuồng riêng rất tinh sạch để cung đại tế.

    Sai các thành và dinh trấn xét số tiền thóc ra vào trong một năm, chia ra từng kỳ (tháng giêng đến tháng 6 làm một kỳ, tháng 7 đến tháng 12 làm một kỳ) làm sổ, do bộ Hộ chuyển tâu, đặt làm lệ mãi mãi.

    Tha dao dịch cho con Bùi Hữu Lễ là Hữu Thục. Hữu Lễ người Nam Phố huyện Phú Vang, trước theo Duệ tông vào Gia Định, làm Ký lục Long Hồ, năm Bính thân giặc Tây Sơn vào cướp, bị giặc bắt được, chửi giặc không chịu khuất, bị giặc mổ chết. Đến nay Hữu Thục đem việc tâu lên. Vua nói rằng : Hữu Lễ chết vì trung, nên tha dao dịch cho con để nêu khí tiết bề tôi. Bèn miễn dao dịch cho trọn đời.

    Tế xuân ở Văn miếu. Vua thân đến làm lễ.

    Đổi mười vệ dinh Túc trực làm mười vệ Thị trung, các vệ dinh Phấn dực và năm vệ thủy dinh làm vệ Phấn dực Nội thủy và năm thủy cơ thuộc Thủy quân.

    Thổ tù Tuyên Quang là Ngân Vũ mưu làm phản. Trấn thủ Đặng Phước Trung đem quân dẹp bắt, Ngân Vũ lẩn trốn. Quan Bắc Thành cho rằng bọn tù trưởng Man hoảng hốt, không cần động binh, xin chiêu dụ vỗ về, khiến ra thú thì tha tội. Vua cho là phải.

    án thủ châu Vạn Ninh là Phan Phương Khách bắt được bọn giặc biển và khí giới đem nộp. Thưởng cho 200 quan tiền.

    Lấy Đào Văn Lương làm Phó đô thống chế Thủy quân.

    Ba xã Định Môn, Kim Ngọc, Cư Chính ở ven núi hay bị nạn hổ. Sai cầu đảo thần núi Ngọc Trản. Lại cấp tiền gạo cho dân xã Phù Bài (vẫn làm nghề bắt hổ) sai đi săn bắt ; dân nhờ đấy được yên.

    Lưu trấn Gia Định là bọn Nguyễn Văn Trương, Trịnh Hoài Đức tâu rằng :”Bọn thần lạm mang trách nhiệm biên khổn, được tiện nghi làm việc, nhưng nghĩ quyền sinh sát là trọng, không dám tự chuyên. Vậy xin phàm những án nào hơi nặng thì châm chước dự nghĩ tâu lên, đợi chỉ mới thi hành”. Vua y lời tâu.

    Đô thống chế lĩnh Trấn thủ Nghệ An là Hoàng Viết Toản lạm thu tiền thuế quan tân 1.000 quan, lại bá chiếm ruộng đất ở Dũng Quyết hơn 80 mẫu. Hiệp trấn Nguyễn Hoài Quỳnh hặc tâu việc ấy. Sai Phó vệ úy Nguyễn Văn Du, Thiêm sự Nguyễn Quang Huyên đến xét được hết tình trạng. Giáng Viết Toản làm Phó đô thống chế, bãi chức Trấn thủ ; Tham hiệp Nguyễn Xuân Thục là đồng liêu mà không biết nêu ra cũng bị phạt. Thưởng cho Hoài Quỳnh 300 quan tiền.

    Định sổ ngạch binh dân các địa phương Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận. Chiếu rằng : “Quân để giữ nước, dân để nuôi quân, đó là lẽ thường xưa nay. Nay kén binh cứ 3 đinh lấy 1 bổ vào các quân thủy bộ, đã có định ngạch. Từ nay phàm có kẻ trốn tránh xiêu tán mới về, dân đinh đến tuổi và quan lại bị cách bãi về làm tráng thì đều ở dân hạng, chứ không vì số dân thêm lên mà kén thêm làm binh. Kẻ về làm tráng thì không được vào làm ở các nha để mưu tránh sai dịch. Làm trái thì xử tội nặng”.

    Gọi 6.500 biền binh ở Nghệ An và Bắc Thành về Kinh.

    Vua duyệt sổ quân ở Bắc Thành. Chiếu dụ thành thần rằng : “Gần đây binh lính ở thành bỏ trốn ngày càng nhiều, cứ đòi bắt thay thì xã dân lại xiêu tán là cớ ở đâu ? Bọn các ngươi ở lâu chốn biên khổn, tình trạng của quân, nỗi khổ của dân, đã từng hiểu rõ. Nay nên chú ý xếp đặt thế nào để cho quân dân đều lợi. Cho được làm tập mật để tâu, sẽ liệu tính thi hành”.

    Giặc biển Tề Ngôi họp 30 chiếc thuyền lẩn vào Hoa Phong đốt cướp bảo Phượng Hoàng. Thành thần sai phó tướng Tiền quân là Trương Tấn Bửu đem chu sư đi đánh đuổi.

    Sai Quản cơ Tiền thủy là Nguyễn Văn Hạnh, Phó vệ úy Tiền dực là Nguyễn Văn Lữ quản binh thuyền đi vận chuyển gỗ ở Bình Định. Vua dụ rằng : “Giặc biển Tề ngôi lẩn lút ở ngoài biển, bọn ngươi nên gia tâm phòng bị. Ai bắt được thuyền giặc, thuyền lớn thì thưởng tiền 1.000 quan, thuyền nhỏ thì 500 quan”.

    Đắp 12 đoạn đê mới ở Bắc Thành. (Một đoạn ở xã Nhật Chiêu huyện Bạch Hạc trấn Sơn Tây, dài hơn 766 trượng, một đoạn ở xã Nại Tử Châu huyện Yên Lạc, dài hơn 273 trượng, một đoạn ở xã Bộ Đầu huyện Thượng Phước trấn Sơn Nam thượng, dài hơn 97 trượng, một đoạn ở xã Cao Xá huyện Kim Động, dài hơn 138 trượng, một đoạn ở xã Cao Đà huyện

    Nam Xang, dài 260 trượng, một đoạn ở xã Bài Nhiễm huyện Duy Tiên, dài hơn 167 trượng, một đoạn ở hai xã Bạch Sam, Hòa Khê, dài hơn 98 trượng, một đoạn ở xã Hòa Khê dài 56 trượng, một đoạn ở xã Đường ấm, dài hơn 133 trượng, một đoạn ở xã Bất Đoạn huyện Kim Bảng, dài hơn 49 trượng, một đoạn ở xã Hồi Trung, dài hơn 50 trượng, một đoạn ở xã Hạ Cơ huyện Đại An, dài hơn 279 trượng). Sai thành thần thuê dân làm việc, chi hơn 95.200 quan tiền.

    Triệu Hộ bộ ở Bắc Thành là Nguyễn Văn Khiêm, Binh bộ là Đặng Trần Thường, Phó tướng tiền quân là Trương Tấn Bửu, Trấn thủ Sơn Nam thượng là Võ Doãn Văn, Trấn thủ Sơn Nam hạ là Trần Công Lại, Đốc trấn Thanh Hóa là Tôn Thất Chương, Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Hoài Quỳnh, Phó tướng quân Chấn võ ở Gia Định là Lê Tiến Tham, Lưu thủ Vĩnh Trấn là Nguyễn Văn Thiện, cùng các dinh thần từ Bình Thuận trở ra ngoài mỗi dinh một người, về chầu ở Kinh.

    Tháng 3, ngày Đinh tỵ, bắt đầu dựng đàn Xã Tắc (ở bên hữu Hoàng thành) ; sai các thành và dinh trấn đều phải cống đất địa phương để đắp. Đàn làm hai tầng. (tầng thứ nhất cao 2 thước, vuông mỗi chiều 15 trượng ; tầng thứ 2 cao 1 thước 5 tấc, vuông mỗi chiều 29 trượng. Chu vi hai tầng đều có lan can, ngoài trồng cây, xây tường chung quanh). Tầng thứ nhất để tế thần Thái xã Thái tắc (đều hướng về bắc), bên hữu phối thờ thần Hậu thổ Câu Long thị, bên tả phối thờ Hậu Tắc thị (đông tây hướng vào nhau); tầng thứ hai thì phía tây bắc đặt sở ế Khảm. Sai Chưởng quân Phạm Văn Nhân trông coi công việc. Rồi sai bộ Lễ bàn định về phép thờ tự, mỗi năm cứ ngày mậu về tháng trọng xuân và trọng thu thì tế. (Tháng trọng xuân thì ngày mậu sau ngày tế Nam giao, tháng trọng thu thì ngày mậu đầu tháng).

    Định ngạch biền binh cho các quân thủy bộ trong ngoài :

    (Các vệ Thị trung, mỗi vệ 600 người, có một vệ úy và một phó vệ úy ; mỗi vệ 5 đội, mỗi đội 120 người, có một cai đội và một phó đội ; đội chia 8 thập, mỗi thập 15 người, có một đội trưởng và một suất thập. Các thuyền Trung hầu mỗi thuyền 60 người, có một cai đội. Các đội Uy chấn mỗi đội 60 người, có một cai đội, mỗi thuyền đội đều 4 thập, mỗi thập 15 người, có một đội trưởng và một suất thập. Vệ Nội trực, vệ Phấn dực, Nội thủy, các vệ quân Thần sách, mỗi vệ 600 người, có một vệ úy và một phó vệ úy, mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 60 người, có một cai đội, mỗi đội 4 thập, mỗi thập 15 người, có một đội trưởng và một suất thập. Các vệ cơ ở các quân, mỗi vệ 500 người, có một vệ úy và một phó vệ úy, mỗi cơ 500 người, có một quản cơ và một phó quản cơ ; vệ cơ đều 10 đội, đội 50 người, có một cai đội ; mỗi đội 4 thập, mỗi thập 12 người, có một đội trưởng và một suất thập. Các cơ ở Thủy quân, mỗi cơ 600 người, có một quản cơ và một phó quản cơ ; mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 60 người, có một cai đội ; mỗi đội 4 thập, mỗi thập 15 người, có một đội trưởng và một suất thập. Những dinh quân thủy bộ kể trên, đều có một cai án, một tri bạ ; mỗi vệ mỗi cơ có một cai án. Đến như vệ cơ trước có đặt trưởng hiệu, phó đội, chánh đội trưởng, đều cho ở lại ngạch, từ sau có khuyết thì bỏ, không được bổ nữa).

    Lấy Trần Công Lại lãnh Trấn thủ Nghệ An, Hoàng Ngọc Uẩn lãnh Hiệp trấn, Trịnh Ngọc Trí lãnh Trấn thủ Sơn Nam hạ.

    Dựng thêm kho Quảng Ngãi. Dinh thần xin chiếu theo thực số ruộng đất mà bắt dân nộp bán vật liệu. Vua theo lời.

    Thổ hào châu Vân Đồn trấn Yên Quảng là bọn Nguyễn Đình Bá và Phạm Đình Quế bắt được bọn giặc Tề Ngôi và thuyền ghe khí giới, quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Cho bọn Đình Bá làm đội trưởng, thưởng tiền 300 quan. Những giặc Thanh bắt được sai đưa trả về nước Thanh. Người Hán [người Việt] bị giặc bắt phải theo đều thả hết.

    Hạ lệnh cho Gia Định, phàm thuyền nước Thanh và thuyền Tây Dương đến buôn, ngày trở về thì chiếu theo số người trong thuyền mà cấp cho mỗi người 100 cân gạo, thu tiền giá là 3 quan, lấy làm lệ mãi mãi.

    Sai đô thống chế dinh Hậu thủy là Lê Văn Quế và Chánh thống Hữu đồn là Nguyễn Văn Thái vận chở gạo lương ở Bắc Thành. Hạ lệnh cho Thanh Hoa và Nghệ An đem binh thuyền đi tuần biển để phòng bị.:rose: