062. Trang [0670-0681] - @ nhani78 (done)

3/12/15
062. Trang [0670-0681] - @ nhani78 (done)
  • :rose:
    Khoảng năm Lê Vĩnh Hựu, dân phản nghịch là Hoàng Công Thư đóng quân chiếm giữ 30 năm. Họ Lê lần lữa để đấy không hỏi. Dân trong bảy châu từ đó dựa dẫm phụ thuộc về phương Bắc, quan lại ở biên giới nhân đó bắt ép đổi cách mặc, cắm bài đánh thuế. Từ đời Lê đến đời Tây Sơn vẫn muốn chia vạch lại mà đều không được. Thế thì trong mười châu của phủ An Tây trấn Hưng Hóa thì sáu châu (Hoàng Nham, Hợp Phì, Tung Lăng, Tuy Phụ, Lễ Tuyền, Khiêm Châu) đã bị mất vào nước Thanh lâu rồi. Nay Chiêu Tấn và Lai Châu chính thuộc sổ Hưng Hóa mà người Thanh lại đem dân các mường động hai châu chép lẫn làm các trại mãnh, chẳng qua đó là bọn quan lại ở biên giới thấy đất đai và nhân dân ấy có lợi nên lập riêng xưng hiệu, mưu toan bá chiếm, mà Tổng đốc Vân Quý thì cứ một mực nghe theo. Xét lời lẽ trong thư gởi đến đều là mơ hồ không căn cứ. Nay xin trước viết thư trả lời cho Tổng đốc Vân Quý, tách bạch rõ ràng cương giới của hai châu yêu cầu sai người sang hội đồng chia vạch lại, để xem ý họ ra sao, rồi sau lại sẽ nói đến chuyện cũ về cương giới sáu châu. Như thế thì Tổng đốc Vân Quý hẳn là lo ta hoặc có sinh việc ở biên giới, không thể không trù liệu, dân hai châu do đó mà cũng có thể khỏi phải thuế má nặng nề.”

    Tờ tâu vào, vua cho rằng nước đương lúc bắt đầu khai sáng, chưa rỗi mà liệu công việc biên cương. Việc để đấy không trả lời.

    Bàn đổi lại sổ thường hành ở các trấn Bắc Thành (sổ đinh của nhà Lê trước, sinh ra không kể, chết đi không trừ, gọi là sổ thường hành). Trước đây, khi vua đã định Bắc Hà, thì muốn khiến dân làm lại sổ đinh, đem việc ấy hỏi bề tôi cũ nhà Lê là Nguyễn Đường. Đường thưa rằng : “Sổ thường hành của nhà Lê làm đã lâu, dân gian lấy làm tiện, nay nhất đán sửa đổi, thần thiết nghĩ là chưa nên.” Vua lặng thinh. Đến nay Đặng Trần Thường vào chầu, vua đem việc ấy để hỏi và bảo rằng : “Dân mọn hay yên theo lối cũ, thay đổi khó khăn. Nhưng nếu không đổi định từ lúc đầu thì lấy gì để giữ mãi về sau ? Ý khanh thế nào ?” Trần Thường thưa rằng : “Thánh nhân đối với dân, có thể cùng thành việc ở lúc sau mà không thể cùng lo việc ở lúc trước, có thể khiến họ noi theo mà không thể khiến họ biết được. Đổi phong tục phải dần dần là điều quan yếu trong phép trị dân”. Vua bảo là phải.

    Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Nguyễn Duy Hòa có tội bị cách chức. Năm ngoái nước lớn, Duy Hòa ủy cho thuộc lại là bọn Trần Văn Thục đi khám. Bọn Thục nhân ăn hối lộ của dân mà tự ý thêm bớt. Dân xã Nghĩa Lâm kêu ở thành, thành thần xét được sự trạng, tâu lên. Bọn Thục đều bị tội chết, Duy Hòa bị cách chức.

    Ký lục Bình Định là Trần Văn Tuân có tội bị cách chức. Trước đây
    Bình Định bị gió bão, thóc kho mục nhiều. Vệ úy Thị nội là Nguyễn Văn Giảng đến chở thóc, trách hỏi. Tuân nói rằng thóc mục là tự nó mục, chở hay không chở là tùy ý. Giảng đem việc tâu lên. Vua giận lắm, bắt trói Tuân giải về Kinh giao xuống cho quan bàn xét. Tuân bị tội bãi chức.

    Tháng 6, ngày Canh thìn, đặt yến lớn cho bầy tôi ở điện Cần Chánh. Tôn Thất Thăng, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Kỳ Kế lần lượt dâng thọ. Vua thân rót rượu thượng phương(1. Rượu thượng phương : Rượu quý của nhà vua dùng. 1) ban cho. Bầy tôi dự yến đều được ban thưởng khác nhau (Văn võ, từ nhị phẩm trở lên, đều dự yến và thưởng ; từ tam phẩm đến ngũ phẩm, cho tiền yến).

    Ban tiền yến cho các thành và dinh trấn (Các dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, mỗi dinh, đều 100 quan ; sáu cơ Kiên ở Quảng Ngãi 600 quan, dinh Bình Hòa và cơ Hòa Thắng, dinh Bình Thuận và cơ Thuận Nghĩa, đều 150 quan ; trấn Thuận Thành 50 quan ; trấn Gia Định 2.500 quan ; các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Trấn Định, Vĩnh Trấn, đều 100 quan ; trấn Hà Tiên 50 quan ; trấn Nghệ An 1.500, trấn Thanh Hoa nội 1.000 quan, ngoại 150 quan ; các phiên thần các trấn Thanh Hoa nội ngoại 100 quan. Bắc Thành và các trấn nội ngoại 10.000 quan ; phiên thần ở sáu ngoại trấn 300 quan).

    Ngày Giáp thân, truy tôn huy hiệu cho các hoàng đế hoàng hậu trước :

    Di Mưu Thùy Du Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoàng Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương tôn làm Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế, miếu hiệu là Triệu tổ. Sách văn rằng : “Vương giả dựng nước chịu mệnh trời, phải nhớ đến bực đế thủy tổ mà tôn thờ, là để báo đền gốc cỗi, theo dõi đời xa. Kính nhớ : Đức Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Vĩ Tích Chiêu Huân Tĩnh vương, trí dũng trời cho, thông minh thần giúp, nhân cao ơn dày, để lại con cháu. Cho nên trời soi tới nhà Nguyễn ta, thêm cho phúc lớn, diệt được quân thù, mở rộng bờ cõi. Thịnh tốt như thế, vì có người xưa, tôn đức báo công, cần nên làm trước. Kính cẩn đem bầy tôi, bưng sách vàng dâng tôn hiệu là : Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế, miếu hiệu là Triệu tổ. Cúi nghĩ : Thánh linh ở trên, nhận xưng hiệu lớn ; nước nhà gìn giữ, hưởng đức đời đời”.

    Từ Tín Chiêu ý Hoàng Nhân Đức phi, tôn làm Từ Tín Chiêu ý Hoàng Nhân Thục Đức Tĩnh hoàng hậu.

    Sách văn rằng : “Đức Khôn nguyên sáng lớn để sánh với Kiền ; đức Hoàng hậu vẹn thuần, nên hay giúp Đế. Nêu rõ tôn sùng, lễ nên làm cả. Kính nhớ : Đức Từ Tín Chiêu ý Hoàng Nhân Nguyễn Đức phi, đức kính ôn hòa, tiếng hay trong sạch, lắm con nhiều cháu, đông đúc cửa nhà, dậy sớm chuyên cần, thấm nhuần khuê khổn. Cho nên nay nhờ ơn nặng, thêm rạng phúc lành, nết tốt công lao, phải nêu lên trước. Vậy kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là : Từ Tín Chiêu ý Hoàng Nhân Thục Đức Tĩnh hoàng hậu. Cúi nghĩ : Hồn thiêng lên xuống, đức dày vô cùng, nhận lấy hiệu to lớn, để yên phúc lâu dài”.

    Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Thái vương, tôn làm Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ hoàng đế, miếu hiệu là Thái tổ.

    Sách văn rằng : “ Nhớ nguồn báo gốc, tôn kính tổ tông, đấy là rất nhân rất nghĩa vậy. Kính nhớ đức Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Thái vương bệ hạ, trời cho trí dũng, mưu lớn kinh dinh ; xem xét thời cơ, mở mang cõi đất ; gây nền vương nghiệp, hơn hai trăm năm ; công cao hơn đời, đức truyền con cháu. Nay nhờ uy linh, khôi phục bờ cõi ; xét theo điển lễ, kính tiến hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cẩn Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ hoàng đế, miếu hiệu là Thái tổ. Cúi nghĩ : Hồn thiêng lên xuống, soi lòng hiếu này ; nhận lấy hiệu to lớn, để yên phúc dài lâu”.

    Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý phi, tôn làm Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ hoàng hậu. Sách văn rằng : “Cờ búa dẹp yên nước, thực bởi thánh công ; giúp đỡ sửa việc nhà, đều nhớ hậu đức. Kính nhớ đức Từ Lương Quang Thục Minh Đức Nguyễn Ý phi điện hạ, thánh sánh với thánh, cùng ở ấp mới. Khuyên cần lao nơi nhung ngũ ; giữ trinh tĩnh trong buồng sân. Đức hóa thấm khắp nước nhà, phúc lộc dài truyền con cháu. Cho nên nay ngửa nhờ đức ấm, thêm rạng phúc xưa, nghĩ đến công đức kia, dám xét lễ sùng báo. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Ý Cung Gia Dụ hoàng hậu. Cúi nghĩ : Hồn thiêng lên xuống, nhận lấy sách vàng, phúc lớn lâu dài, ức vạn năm nữa”.

    Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Dụ Hiếu Văn vương, tôn làm Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Dụ Hiếu Văn hoàng đế, miếu hiệu là Hy tông. Sách văn rằng : “Có thân thì truyền lâu, có công thì phải lớn. Cho nên việc nêu rõ suy tôn, đạo người lấy đó làm hiếu. Kính nhớ đức Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Dụ Hiếu Văn vương, rạng nhận mệnh lớn, cả noi nghiệp to. Siêng năng để cầu trời, trung hậu để giữ nước. Uy đức tới đâu, biên thùy không lo ngại, phép tắc để lại, con cháu được nhờ lâu. Cho nên nay nhờ được phúc thừa, rạng thêm cơ nghiệp trước. Nêu đức ghi công lớn, dâng tôn hiệu đâu dám để sau. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Dụ Hiếu Văn hoàng đế, miếu hiệu là Hy tông. Cúi nghĩ : Đức thiêng lồng lộng, sự lòng xét soi, phúc để về sau, muôn năm còn mãi”.

    Huy Cung Thuận phi, tôn làm Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn hoàng hậu.

    Sách văn rằng : “Lớn thay đức Khôn nguyên, trên sánh với thể Càn. Phô nêu tốt đẹp, cốt để đền đáp ơn dày, mà hậu đạo hiếu. Kính nhớ đức Huy Cung Nguyễn Thuận phi, tính nết đoan trang, độ lượng rộng lớn ; giáo hóa khắp cõi, tỏ đức vô cùng ; chung đúc phúc lành, tràn trề lòng phúc. Nay nhờ cậy uy linh, nối được cơ nghiệp ; xét theo điển lễ, dâng danh hiệu to. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn hoàng hậu. Cúi nghĩ : Khí thiêng nghi ngút, soi tới nơi đây : nhận lấy hiệu hay, để yên phúc chỉ”.

    Thừa Cơ Toản Thống Cương Minh Hùng Nghị Uy Đoán Anh Võ Hiếu Chiêu hoàng đế, miếu hiệu là Thần tông. Sách văn rằng : “Nêu rõ đức của tổ, kính thờ công của tông, đó là thông nghĩa xưa nay vậy. Kính nghĩ : Đức Thừa Cơ Toản Thống Cương Minh Hùng Nghị Uy Đoán Anh Võ Hiếu Chiêu vương bệ hạ, cung kính ngày càng tiến, thông minh trời sẵn cho ; phép lớn noi theo, cõi bờ mở rộng ; mưu mô rạng rỡ, dòng dõi thịnh xương. Nay ngửa nhờ uy linh, cả có đất nước ; tham xét điển lễ, kính tiến hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Thừa Cơ Toản Thống Cương Minh Hùng Nghị Uy Đoán Anh Võ Hiếu Chiêu hoàng đế, miếu hiệu là Thần tông. Cúi nghĩ : Khôn thiêng rực rỡ, cao đến tận trời ; lên xuống hồn thiêng, ban cho nhiều phúc”.

    Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ phi, tôn làm Trinh Thục Từ Tĩnh mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chiêu hoàng hậu.

    Sách văn rằng : “Lễ Tôn Miếu, kính người tôn quý yêu người thân gần, là cốt để đền công mà nêu đức. Kính nhớ đức Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Đoàn Huệ phi điện hạ, dung nghi thùy mỵ, khuôn phép trinh thuần ; quẻ Khôn hợp đức, giáo hóa bắt đầu từ buồng sân ; quẻ Chấn ứng điềm, vui mừng cả đến Xã Tắc. Phúc lộc yên vui, đời đời không dứt. Nay ngửa nhờ uy linh, dựng lại nghiệp lớn ; kính dâng hiệu tốt để thịnh nghiệp to. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Trinh Thục Từ Tĩnh Mẫn Duệ Huệ Kính Hiếu Chiêu hoàng hậu. Cúi nghĩ : Hồn thiêng lên xuống, nhận lấy hiệu tôn ; phúc chỉ lâu dài, ban truyền không hết”.

    Tuyên Uy Kiến Võ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết vương, tôn làm : Tuyên Uy Kiến Võ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết hoàng đế, miếu hiệu là Thái tông. Sách văn rằng : “Được hưởng phúc lớn phải nhờ công tốt đẹp của tổ tông ; tôn kính người trên là bắt chước đạo hiếu của vua trước. Kính nhớ đức Tuyên Uy Kiến Võ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết vương bệ hạ, trời cho trí dũng, thường như nguồn suối chảy ra ; sáng thêm đức hay, cung kính noi theo nghiệp lớn. Trong sửa ngoài chống, thêm rạng rỡ công nghiệp đời xưa ; xây dựng nước nhà, để lại mưu mô con cháu. Cho nên nay nhờ được uy linh, thêm rạng phúc tốt. Nghĩ đến bao công để lại ; há dám chậm việc phô dương ! Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Tuyên Uy Kiến Võ Anh Minh Trang Chính Thánh Đức Thần Công Hiếu Triết hoàng đế, miếu hiệu là Thái tông. Cúi nghĩ : Hồn thiêng lên xuống, cho mãi phúc lành ; đến ức vạn năm, lâu dài mệnh lớn”.

    Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Liệt Trang phi, tôn làm Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết hoàng hậu. Sách văn rằng : “Có vua thánh nối dòng trị nước, hẳn có phi hiền để sửa việc nhà. Tôn quý gồm hai, chính là hợp lễ. Kính nhớ đức Từ Mẫn Chiêu Thánh Trang Liệt chu trang phi điện hạ, dung nghi điềm tĩnh, khuôn phép đoan trang ; đức hợp với vua, sáng đạo làm mẹ. Giáo hóa thấm khắp, như thơ Quan thư ; ôn trạch bao trùm, như thơ Cù mộc, mẫu khuôn nên phép, đức lành khôn phô. Nay đã dựng được công to, truy nhớ nghiệp lớn ; xét theo điển lễ, báo đáp ơn sâu. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Mẫn Chiêu Thánh Cung Tĩnh Trang Thận Hiếu Triết hoàng hậu. Cúi nghĩ : Hồn thiêng lên xuống, nhận lấy hiệu hay, ban cho phúc lành, lâu dài không dứt”.

    Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Tĩnh phi, tôn làm Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết hoàng hậu. Sách văn rằng : “Noi luân thường dùng điển lễ, báo ơn trước tôn người thân, đó là đạo hiếu của con cháu. Kính nhờ đức Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tông Tĩnh phi, sao Vụ sáng soi, đức Khôn thuần thục ; tập rèn gia pháp, kính cẩn miếu đường. Trên sánh với vua, sinh được trai trưởng. Kế thừa thêm tôn thống lâu dài, phúc trạch, mở cơ đồ thịnh lớn. Nay ngửa nhờ uy thiêng, khôi phục mở mang bờ cõi, noi theo rạng rỡ cơ đồ. Tra xét điển cũ, cử lễ đều tôn. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Tiên Huệ Thánh Trinh Thuận Tĩnh Nhân Hiếu Triết hoàng hậu. Cúi nghĩ : Thiêng liêng soi tới, nghi ngút cảm thông. Nhận danh hiệu hay, giúp cơ đồ quý”.

    Thiệu Hưu Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Ôn Huệ Từ Tường Hiếu Nghĩa vương, tôn làm Thiệu Hưu Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Từ Tường Hiếu Nghĩa hoàng đế, miếu hiệu là Anh tông. Sách văn rằng : “Hiếu không gì lớn bằng vẻ vang cha mẹ ; lễ không gì trọng bằng yêu kính người thân. Cho nên hiếu đến rất mực thì phải rất tôn. Kính nhớ đức Thiệu Hưu Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Ôn Huệ Từ Tường Hiếu Nghĩa vương bệ hạ, lúc mới giữ chính, nối bốn đời vua. Theo thời nên công, đem một đời đến nơi thịnh trị, yên dân, hòa chúng, giữ bốn cõi cho được bình yên. Chứa đức, góp nhân sáng tiền rạng hậu. Nay nhờ uy linh, giúp mở bờ cõi. Xét tra điển cũ, dâng danh hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Thiệu Hưu Toản Nghiệp Khoan Hồng Bác Hậu Ôn Từ Tường Hiếu Nghĩa hoàng đế, miếu hiệu là Anh tông. Cúi nghĩ : To lớn ở trên, thường khi lên xuống ; nhận danh hiệu lớn, phúc lâu dài”.

    Từ Tiết Tĩnh Thục Hiếu Từ Hiến phi, tôn làm Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa hoàng hậu. Sách văn rằng : “Tây Kỳ dựng nghiệp(1. Tây Kỳ là nơi Chu Văn vương dựng nghiệp. 1), nhớ phúc của Thái Nhâm Thái Khương(2. Thái Nhâm là mẹ của Văn vương, Thái Khương là bà của Văn vương.2), Đông Lạc mở nền(3. Đông Lạc là kinh đô nhà Đông Hán. 3), nhờ đức của Mã hậu Đặng hậu(4. Mã hậu là vợ Hán Minh đế, Đặng hậu là vợ Hán Hòa đế.4). Sánh với đời cổ nên báo đáp dầy. Kính nhớ đức Từ Tiết Tĩnh Thục Hiếu Từ Tống Hiến phi điện hạ, giữ tròn trăm nết, gồm đủ muôn hay. Lượng rộng trên sánh với vua, việc trong có khuôn phép tốt ; điềm lành sớm sinh con trưởng, truyền nhà dòng dõi vững bền. Cho nên nay nhờ phúc thiêng, thêm mới mệnh lớn. Nêu lên tốt đẹp, báo đáp công ơn. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Tiết Tĩnh Thục Tuệ Mẫn Hiến Thuận Hiếu Nghĩa hoàng hậu. Cúi nghĩ : Thiêng liêng như tới, soi xét không xa ; nhận sách báu này, giúp cơ đồ quý”.

    Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh vương, tôn làm Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh hoàng đế, miếu hiệu là Hiển tông. Sách văn rằng : “Đế vương có hiệu tốt danh to, để tỏ rõ muôn đời công đức. Kính nhớ đức Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh vương bệ hạ, cung kính ngày tiến, thông minh trời cho. Nối nghiệp năm vua, gặp thời hòa thịnh ; yên nuôi trăm tuổi, cõi thọ cùng vui. Văn hoa dạy người, như thơ Thanh nga(5. Thơ Thanh nga : Một thiên của Kinh Thi, nói người quân tử dạy được nhiều anh tài thì thiên hạ mừng vui.5) nhuần thấm ; Phước lành tạo tác, như thơ tài Vực phác(6. Thơ Vực phác : Một thiên của Kinh Thi, nói Chu Văn vương dùng được nhiều người tài giỏi.6) còn thua. Thêm sáng công trước, mở dẫn người sau. Nay được ngửa nhờ uy linh, cả nối mệnh sáng. Xét theo phép cũ, dâng tiến hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Anh Mô Hùng Lược Thánh Văn Tuyên Đạt Khoan Từ Nhân Thứ Hiếu Minh hoàng đế miếu hiệu là Hiển tông. Cúi nghĩ Thánh linh soi xuống, ban mãi phúc lành ; đời đời năm năm, dài lâu không dứt”.

    Từ Huệ Cung Thục ý Đức Kính phi tôn làm Từ Huệ Cung Thục Ý Đức Kính Mục Hiếu Minh hoàng hậu. Sách văn rằng : “Đất hợp với trời, hậu sánh với đế. Lễ do nghĩa mà ra, kính người đáng tôn là để chính lễ Tôn Miếu. Kính nhớ đức Từ Huệ Cung Thục ý Đức Tống Kính phi, dung nghi phương phi, đức hạnh tốt đẹp. Thùy mị nghiêm khuôn phép chốn Tiêu cung, dậy sớm giúp vua, siêng năng lo lắng ; chung dục ứng điềm lành bến Hoa chử, có nhiều con cháu, thịnh lớn lâu dài. Cho nên nay nhờ ơn trước, mở rộng nghiệp to ; nên xét lễ văn, nêu rõ tốt đẹp. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Huệ Cung Thục ý Đức Kính Hiếu Minh hoàng hậu. Cúi nghĩ : Nghi ngút ở trên, có soi xét tới, giúp cho nhà nước, bền vững lâu dài”.

    Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kính Văn Vĩ Võ Hiếu Ninh vương, tôn làm Tuyên Quang Thiệu Liệt, Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Võ Hiếu Ninh hoàng đế, miếu hiệu là Túc tông, Sách văn rằng : “Nêu cao danh hiệu là điển lễ lớn của đế vương tôn kính tổ tông. Kính nhớ đức Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Võ Hiếu Ninh vương thánh đức rộng sâu, hòa kính sáng suốt. Kính trời chăm dân tùy thời lập chính. Mở mang cõi đất, vang dậy uy thanh. Sáng trước rạng sau, công đức gồm thịnh. Nay ngửa nhờ uy linh, quét sạch khói bụi, khiến mặt trời mặt trăng lại sáng. Nhớ đến đức tốt, kính dâng hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Võ Hiếu Ninh hoàng đế, miếu hiệu là Túc tông. Cúi nghĩ : Thánh linh soi xuống, cho được phúc lành, để thịnh đời sau, dài lâu vui tốt”.

    Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục phi, tôn làm Từ ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu Ninh hoàng hậu. Sách văn rằng : “Đạo trong trời đất, càn khôn hai đức hợp nhau ; lệ ở miếu đường, đế hậu hai ngôi cùng trọng. Kính nhớ đức Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Trương Thục phi điện hạ, trong sạch thùy mị, đức tốt đoan trang. Sao Bảo vụ sáng liền sao Bắc thần, khuôn phép nghiêm tốt ; khí trời đất chung đúc ở mình thánh dòng dõi lâu dài. Cho nên nay nhờ uy linh, thêm rạng Phước trước ; dâng tiến hiệu tốt, nêu tỏ đức hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu Ninh hoàng hậu. Cúi nghĩ : Thiêng liêng soi tới, ban cho phúc lành, bảo hộ nước nhà, sánh cùng trời đất”.

    Kiền Cương Uy Đoán Thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Võ vương, tôn làm Kiền Cương Uy Đoán Thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu võ hoàng đế, miếu hiệu là Thế tông. Sách văn rằng : “Đức mới mệnh mới, là nhờ tổ tiên chứa phúc để cho ; rất kính rất yêu, là đạo hiếu của đế vương đời trước. Kính nhớ đức Kiền Cương Uy Đoán Thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Võ vương bệ hạ. Sáng tựa mặt trời lên, mạnh như đạo trời chuyển vận. ơn đức tốt đẹp, thấm khắp thần dân, tiếng hay lẫy lừng, lan tràn viễn cận. Nhân trạch ra bốn cõi. Đức chính mới mở mang. Đổi phục sắc định quan danh, việc làm rõ ràng đáng thuật. Đạo đức công nghiệp, người không thể quên. Cho nên nay ngửa nhờ phúc thiêng, được nối nghiệp trước ; lấy lại đô cũ, mở rộng cõi bờ. Kính tra điển lễ, dâng tiến hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Kiền Cương Uy Đoán Thần Nghị Thánh Du Nhân Từ Duệ Trí Hiếu Võ hoàng đế, miếu hiệu là Thế tông. Cúi nghĩ : Thánh linh lên xuống, ở hai bên trời ; ban cho phúc lành, dài lâu không dứt”.

    Ôn Thành Thái phi tôn làm : Ôn Thành Huy Ý Tráng Từ Dục Thánh Hiếu Võ hoàng hậu. Sách văn nói rằng : “Họ Đồ Sơn(1. Đồ Sơn : Hạ Vũ là vua đầu tiên của nhà Hạ, lấy con gái họ Đồ Sơn.1) mở nhà Hạ ; họ Hữu Nhung(2. Hữu Nhung : Mẹ Ân Tiết tổ nhà Thương là con gái họ Hữu Nhung. Sau cháu chắt là Thánh Thang đánh Hạ Kiệt mà dựng cơ nghiệp nhà Thương. 2) dựng nhà Thương. Đức tốt đều sánh với người xưa ; điển lễ phải báo đáp cho hậu. Kính nhớ đức Ôn Thành Trương thái phi điện hạ, Bốn đức gồm đủ, trăm nết đều hay. Lượng rộng sánh với vua, trinh thuận vâng đạo lớn. Tiết độ hòa nhã, êm đềm ở chốn nhà công ; lợi lộc tóc da, dồi dào để cho con cháu. Nay nhờ ơn thiêng, thêm dài cơ nghiệp. Xét theo điển lễ, kính dâng hiệu to. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Ôn Thành Huy Ý Trang Từ Dục Thánh Hiếu võ hoàng hậu. Cúi nghĩ: Nghi ngút ở trên, hồn thiêng soi ; giúp cơ nghiệp lớn, được phúc dài lâu”.

    Thông Minh Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định vương, tôn làm Thông Minh Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định hoàng đế, miếu hiệu là Duệ tông. Sách văn rằng : “Đế vương chịu mệnh trời vẻ vang dâng miếu hiệu, đó là yêu kính rất mực. Kính nhớ đức Thông Minh Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định vương bệ hạ, đức tốt kính hòa, nết hay nhân hậu. Giữ công nghiệp để lại ; gặp những bước gian nan. Trời thẳm vực sâu, theo thời đến nơi cùng cực ; thói hay ơn tốt, ở người không bao giờ quên. Nay ngửa nhờ ơn thiêng, nên được nghiệp lớn, xét tra điển lễ, kính dâng hiệu hay. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Thông Minh Khoan Hậu Anh Mẫn Huệ Hòa Hiếu Định hoàng đế, miếu hiệu là Duệ tông. Cúi nghĩ : Lên xuống soi tới, xét lòng chí thành, giúp nước nhà ta, lâu bền phúc lộc”.

    Ngày Ất dậu, truy tôn Từ Tường Đạm Bạc Khoan Dụ Ôn Hòa Hiếu Khang vương làm Nhân Minh Cẩn Hậu Khoan Dụ Ôn Hòa Hiếu Khang hoàng đế, miếu hiệu là Hoàng khảo, sách văn rằng : “Hiếu không gì lớn bằng tôn kính cha mẹ. Cho nên con có thiên hạ, phải suy tôn cha, đó là đạo hiếu rất mực vậy. Kính nhớ đức Từ Tường Đạm Bạc Khoan Dụ Ôn Hòa Hiếu Khang vương bệ hạ, đạo đức đáng là bực thánh, danh vọng xứng với ngôi vương. Lấy tư chất cung kính khiêm nhường, giúp chí khí anh hùng mạnh mẽ. Rất kính rất hiếu, cảm cách đến đất trời ; lòng nhân tiếng nhân, thấm khắp cả dân chúng. Trời có lòng yêu, khiến con cháu thịnh. Cho nên, thần là kẻ nhỏ mọn, một mình đương gian nan, ngửa nhờ ơn thiêng, diệt được giặc nước, giữ yên Tôn Miếu Xã Tắc thực nhờ phúc đức tích lũy, nên mới được thế. Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu là Nhân Minh Cẩn Hậu Khoan Dụ Ôn Hòa Hiếu Khang hoàng đế, miếu hiệu là Hoàng khảo. Cúi nghĩ : Thiêng liêng có cảm, soi tới rất gần. Dựng việc chẳng sai, gồm đức tốt của tam hoàng ngũ đế. Phúc còn hưởng mãi, thêm lịch số hàng vạn tải thiên thu”.

    Ngày Tân mão, vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ mừng, ban lời đại cáo khắp trong ngoài.

    Chiếu rằng :

    “Từ xưa, người có thiên hạ, tất phải truy tôn tổ khảo, nêu rạng suy sùng, tỏ rõ thịnh điển. Nhà nước ta từ đức Chiêu Huân Tĩnh vương, công dày đức tốt, để lại đời sau ; đức Tiên Thái vương ta dựng nước mở đất, gây nên nghiệp vương ; các thánh nối truyền, mưu giỏi công cao, nghiệp vương ngày càng sáng lớn. Hoàng khảo ta tiếng nghĩa rõ rệt, đức tốt nhân hậu, người đều thấy nghe ; dốc chứa phúc lành, để cho con cháu. Cho nên trẫm ngửa nhờ ơn thiêng, lấy lại nghiệp cũ, mở rộng bờ cõi, thực nhờ ơn đức của tổ tông thánh thần để lại, mãi mãi không cùng. Nay trẫm theo lời xin của bầy tôi, đã lên ngôi hoàng đế, xét lễ truy tôn, Tôn Miếu đời cổ, đó là việc phải làm đầu tiên. Ngày mồng 8 tháng này đã đem bầy tôi bưng sách vàng truy tôn huy hiệu các thánh vương trước làm hoàng đế và các vương phi trước làm hoàng hậu. Ngày mồng 9 đem bầy tôi bưng sách vàng truy tôn huy hiệu Hoàng khảo làm hoàng đế. Hằng năm tuần tiết tiến hưởng, lễ vật chúc hỗ, đều dùng lễ nhạc hoàng đế để cho vẻ vang thêm và tỏ bày sự tôn kính báo đáp. Ôi ! Ở ngôi ấy làm lễ ấy, lòng kính ái nay đã rất thành. Gốc ở mình, nghiệm ở dân, đức hóa hợp đồng, còn mong được khắp”.

    Định lệ tiền ân tuất cho quan viên văn võ. (Chánh nhất phẩm tiền tuất 400 quan, tòng nhất phẩm 300 quan, chánh nhị phẩm 200 quan, tòng nhị phẩm 100 quan, chánh tam phẩm 70 quan, tòng tam phẩm 40 quan, chánh tòng tứ phẩm 30 quan, chánh tòng ngũ phẩm 25 quan, chánh tòng lục phẩm 20 quan, chánh tòng thất phẩm 15 quan, chánh tòng bát phẩm 10 quan, chánh tòng cửu phẩm 5 quan, lính lưu thú và thợ thuyền làm ở các công sở 3 quan. Những bề tôi công lao và cố cựu đặc biệt được ân tuất thì không thuộc lệ này).

    Thủy sư chở thóc ở Gia Định, thấy thóc nổi nhiều (một thăng thóc nổi đến ba thược), lính chở không chịu lĩnh thóc. Lưu trấn thần đem việc tâu lên. Vua thấy Gia Định liền năm không được mùa, nên sai chở hết về Kinh.

    Tha thuế cho các đầu nguồn ở Quảng Ngãi. Bốn nguồn ở Quảng Ngãi là Đà Bồng, Cù Ba, Phụ Bà Rịa, Ba Tơ, mỗi năm phải nộp tiền thuế là
    1.720 quan. Từ năm Gia Long thứ 2, vì đánh giặc ác man nên cấm thông thương mà tha thuế cho. Đến nay quan quân hãy còn ở để phòng ngự, buôn bán không tiện, dinh thần tâu lên, bèn hạ lệnh tha cho.

    Đổi tấn Hòn Xú ở Hà Tiên làm tấn Kim Dữ.

    Lại lấy Nguyễn Khắc Khoan làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng. (Khắc Khoan có tang nghỉ việc, tang xong, lại cho làm việc như cũ).

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXX

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Bính dần, năm Gia Long thứ 5 [1806], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Ngày Mậu thân, vua đem bầy tôi đến cung Trường Thọ, bưng sách vàng ấn vàng tôn Vương thái hậu làm Hoàng thái hậu.

    Sách văn rằng : “Trộm nghe hiếu trước hết phải ở lòng yêu, lễ không gì hơn tôn cha mẹ. Xét theo phép thường, đủ nêu lễ thịnh. Kính nghĩ, đức Vương thái hậu bệ hạ, tiếng lành rộng khắp, cao vượt đời xưa. Nết tốt đức dày, cảnh nào vẫn thế. Khuôn phép chốn đình vi, ích lợi đến Xã Tắc. Phúc để con cháu, ơn kịp thần dân. Công chứa nhân chồng, ngày nay mới có. Cho nên thần mới theo lời bầy tôi, đã xưng đế hiệu, càng nhớ đến công dưỡng dục như trời không cùng, há dám không suy tôn để đáp ơn lớn ! Kính cẩn đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn hiệu làm Hoàng thái hậu. Cúi xin nhận lấy hiệu to, cho nhiều phúc chỉ. Danh xứng với đức, sáng mãi như mặt trời mặt trăng ; phúc tự trời cho, thọ mãi như núi sông gò đống”.

    Ngày Canh tuất, vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ mừng, hạ chiếu bố cáo trong ngoài.