063. Trang [0681-0693] - @ nhani78 (Done)

3/12/15
063. Trang [0681-0693] - @ nhani78 (Done)
  • :rose:
    Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ lập kính trước hết phải kính người tôn, lập ái trước hết phải yêu người thân. Cho nên rạng danh cha mẹ, gọi là thuần hiếu, suy tôn cha mẹ gọi là thịnh điển. Trẫm chăm nuôi nhân dân, muốn trị dân bằng đạo hiếu. Nghĩ Vương thái hậu bệ hạ, vì thân mà ở ngôi sang, có đức tất được tuổi thọ. Đầm đìa thấm thía, sâu rộng càng thêm. Phúc ở một mình trẫm, cũng là lợi vô cùng cho Xã Tắc. Lấy chín châu mà phụng dưỡng, chưa dám cho là đủ. Duy có sửa lễ để tỏ lòng thành, tôn hiệu để nêu đức tốt, ngõ hầu trên đáp lòng từ, giữ sáng nhiều phúc. Cho nên trẫm mới theo lời bầy tôi tâu xin, đã lên ngôi đế, ngửa trông công dưỡng dục, thực lớn như trời. Công siêng năng thì báo đền tốt ; sự thực chứa thì có danh hay. Nêu đức ghi công, không dám để chậm, cho nên ngày mồng 3 tháng này, thân đem bầy tôi bưng sách vàng ấn vàng kính dâng tôn hiệu Vương thái hậu làm Hoàng thái hậu, để được vẻ vang hiệu lớn, nêu rạng đức hay. Ôi ! Hiếu không thiếu mới hay để phúc, nay đã hậu lễ tôn thân, dậy không cùng cốt để giữ dân, còn mong tạo thành phong hóa”.

    Ngày Kỷ mùi, sách lập Vương hậu Tống thị làm Hoàng hậu.

    Sách văn rằng : “Trẫm nghĩ thể thuần khôn, sách cùng kiền đức. Vương hóa bắt đầu, gốc ở nội trị. Tôn quý như nhau, theo lễ là đúng. Nghĩ đến Vương hậu Tống thị, tiếng hay rộng khắp, thuần thục nết na, giữ việc trong nhà, bếp nước vui vẻ. Ngày trước bôn bá, trẫm khó nhọc ở ngoài, hậu siêng năng ở trong, giúp nhau trong lúc gian nan, trải qua chỗ bằng chỗ hiểm. Cầu cúng hết kính, ngon ngọt thảo hiền, ơn cho con cháu, trạch đến quân nhung. Ôn nhu cung kiệm, để giúp đỡ trẫm. Dịu dàng vẻ ngọc, khuôn phép trong nhà ; yểu điệu phong tư, giáo hóa cả nước. Sửa mình, tề nhà, trị nước, bình thiên hạ, thật có giúp đỡ cho trẫm. Nay trẫm mới theo lời tâu xin của đình thần đã lên ngôi đế, nghĩ, ngôi hậu ở trong, cùng trị với trẫm, chức việc trong cung, cũng gốc ở triều đình, nên trẫm đã tâu xin ý chỉ của Hoàng thái hậu, đặc biệt sai Chưởng Thần võ quân kiêm giám Thần sách quân Khiêm quận công Phạm Văn Nhân cầm cờ tiết, Hộ bộ thượng thư Tích thiện hầu Nguyễn Kỳ Kế làm phó, đem sách vàng ấn vàng tấn phong làm hoàng hậu để tôn vị hiệu. Hậu nên nhận lấy danh hiệu vẻ vang này, gắng sức sửa sang việc nhà, kính thờ Tôn Miếu, tỏ khuôn phép làm mẹ thần dân. Siêng năng việc đức, hằng nhớ nghĩa mà sáng tươi, để hưởng phúc lành mãi mãi không cùng”.

    Ngày Quý hợi, vua ngự ở điện Thái Hòa nhận lễ mừng, hạ chiếu bố cáo trong ngoài..

    Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ trời đất định ngôi, mặt trời mặt trăng hợp
    đức, cho nên tôn quý như nhau, lễ thực nên làm như thế. Nghĩ Vương hậu Tống thị, đức hạnh đầy đủ. Từ thuở tiềm long, giữ việc nội trợ. Nghiệp tốt đã rõ nơi sân ngọc, công to đã chép bằng bút son. Kịp tới lúc nước nhà dựng lại, đường cái thênh thang, Hậu siêng năng giúp việc trong, càng ôn hòa vui vẻ. Tiếng hay ngày càng thịnh, thực có bổ ích cho việc tu tề. Nay trẫm mới theo lời tâu xin của đình thần đã lên ngôi đế, lại nói mãi về đức hiền của hậu nên tôn, cho nên ngày 14 tháng này đã sai quan bưng sách vàng ấn vàng tấn phong Vương hậu làm Hoàng hậu, để cho rạng vẻ sao Bắc thần soi sáng khắp sáu cung. Ôi ! đức Khôn dày sánh với đức Kiền cao, để long trọng lễ nghi quý người đáng quý. Hằng giữ lâu đạo thánh nhân mới được, để tràn khắp đức hóa trinh thuận hòa vui”.

    Tướng giặc ở Thái Nguyên là bọn Dương Đình Cúc họp đảng mưu nổi loạn. Trấn thần phát binh trấn cùng với bọn phiên mục Đinh Công Oai, Ma Thế Cố, Ma Thế Trạch chia nhau đi bắt, bắt được bọn đầu mục giặc hơn mười người. Thành thần đem việc tâu lên. Cho Đinh Công Oai làm Tuyên úy sứ, thưởng mũ áo cho bọn Ma Thế Cố, Ma Thế Trạch và thưởng cho biền binh 2.000 quan tiền.

    Bắc Thành nước lớn, đê vỡ. (Xã Công Luận huyện Văn Giang trấn Kinh Bắc, xã Đạm Xuyên huyện Yên Lãng trấn Sơn Tây, xã Thần Quy huyện Phú Xuyên, hai xã Lục Tràng, Châu Cầu huyện Kim Bảng, ba xã Nga Sơn, Hồi Trung, Thụy Lôi huyện Nam Xang, trấn Sơn Nam thượng, hai xã Quan Khê, Lão Khê huyện Hưng Nhân, trấn Sơn Nam hạ), lúa ruộng ngập mất, nhiều nhà dân bị trôi. Sai thành thần khám thực tâu lên.

    Đổi định lệ tha tô thuế cho dân xiêu dạt trở về từ Nghệ An ra Bắc.

    Chiếu rằng : “Năm ngoái đã có chiếu nói phàm dân xiêu dạt mới về, người nào xiêu dạt từ năm Nhâm tuất về trước thì miễn tô thuế ba năm, từ năm Quý hợi về sau thì không thuộc lệ ấy. Nhưng nghĩ dân ấy bị Tây Sơn tàn ngược đã lâu, dần dần điêu hao, hoặc lại bị thêm thiên tai nắng lụt, đến phải phiêu lưu, đều là thế không dừng được. Vậy nghị cho từ năm nay về trước, các dân xiêu dạt đã thành án, không kể niên hạn năm ngoái đã định, đều cho chiêu tập, khiến về quê làng làm ăn. Như người nào đã trở về từ năm Ất sửu và năm Bính dần thì tô thuế từ năm ấy đến năm Kỷ tỵ đều được miễn ; như đến năm Đinh mão mới về thì cũng được miễn tô thuế ba năm Đinh mão, Mậu thìn và Kỷ tỵ”.

    Chế long khám ở Nguyên miếu. Sai Nhà đồ chiếu theo kiểu khám ở Thái miếu, gửi cho Thanh Hoa theo y kiểu ấy mà làm để phụng thờ.

    Lấy Hà Nguyễn Thứ sung Hàn lâm viện.

    Cai bạ Bình Thuận là Trần Văn Thuyên tuổi già dâng sớ xin về hưu dưỡng. Vua y cho.

    Lấy Cai đội Phan Tiến Thể làm Thủ ngự cửa biển Cu Đê.

    Người xã Tiểu Lễ (thuộc huyện Thiên Phúc) trấn Kinh Bắc là Nguyễn Phú Tiền oa trữ bọn giặc, bị xã dân tố cáo. Vua sai bắt chém. Thưởng cho người tố cáo 100 quan tiền.

    Chưởng cơ lĩnh trấn thủ Thanh Hoa ngoại là Ngô Văn Sở chiếm cướp ruộng dân của xã Hoàng Đan. Việc phát, bị mất chức.

    Đổi trấn Thanh Hoa ngoại làm đạo Thanh Bình ; lấy Chưởng cơ Lương Văn Vân lãnh chức quản đạo.

    Tháng 8, tế thu ở đàn Xã Tắc. Vua thân đến làm lễ.

    Dựng công đường cho sáu bộ (ở góc sau bên tả Hoàng thành).

    Nước Xiêm La sai sứ sang hiến ba chiếc chiến thuyền. Lưu trấn thần ở Gia Định đem việc tâu lên. Sai đưa sứ giả về Kinh chiêm bái, ban cho hậu, rồi cho về.

    Lấy Thị trung học sĩ Trịnh Hiến thự chức Tham tri Hình bộ, theo Bắc Thành làm việc.

    Lấy Tri phủ Hà Hoa là Phạm Văn Dưỡng làm Cai bạ Bình Thuận, tri phủ Anh Đô là Kiều Công Tuấn làm Ký lục Bình Hòa.

    Ban ấn thông hành cho nước Chân Lạp (khắc chữ triện Ngự tứ thông hành chi ấn). Phàm thuyền buôn của dân Chân Lạp và người Thanh do cửa biển Ba Xắc ra vào buôn bán, người tấn thủ Trấn Di xét xem bài thuyền có đóng làm tin thì cho đi lại, miễn thuế cho.

    Cho Cai đội Trương Phước Giáo làm Khâm sai cai cơ.

    Ấm thụ cho con Thuộc nội cai cơ quản vệ Long điện Nguyễn Văn Liêm là Nguyễn Văn Yên làm đội trưởng (Văn Liêm có công Vọng Các).

    Tháng 9, cấp 200 mẫu tự điền cho Thái bảo Miên quốc công, sai Nguyễn Thích giữ việc thờ cúng.

    Định lệ thử thóc thu tô. (Phàm trường thuế trưng thu thóc tô, trước hết lấy một thăng đổ vào nước để thử, lấy nổi 2 thược làm hạn, quá 2 thược thì không thu. Hạt thóc ẩm ướt cũng không thu. Thóc thử thì trả lại dân, người coi kho không được lấy riêng. Làm trái thì có tội).

    Sai quan Bắc Thành sửa dựng kho của thành, chi tiền kho để mua vật liệu, chiếu theo thể thức bộ Công gửi mà làm.

    Tướng giặc ở Bình Định là Nguyễn Văn Khống họp đảng ở Tượng Sơn, ngụy xưng chức tước, mưu đánh trấn thành. Người ấp Định Hương là Văn Công An đến trấn tố cáo tình trạng. Trấn thần cho quân vây bắt, bắt được đồ đảng rất nhiều. Khống trốn chạy, sau bị tượng quân là Nguyễn Văn Cẩn và thổ dân là Trương Văn Nhuận bắt được. Sai chém. Thưởng cho Văn Cẩn 200 quan tiền, Văn Nhuận 100 quan tiền, miễn thuế dịch. Người tố cáo là Văn Công An tuổi già, miễn thuế thân và dao dịch trọn đời cho con là Văn Công Phú.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “ở các trấn và phủ huyện án tờ đọng lại nhiều, xin tùy theo nặng nhẹ định phạt cho nghiêm phép quan”. Lại nói : “Binh lính nhiều người vì mắc nợ của quản quan mà phải đào ngũ, quản quan lại bắt dân phải đền nợ, dân bị khổ lắm. Xin cấm chỉ cho hết thói tệ”. Vua đều theo lời.

    Nguyễn Đình Đắc tâu nói : “Thần năm trước theo về, bị giặc cướp nhà cửa, mẹ thần lẩn trốn mà chết. Năm Nhâm tuất hỗ giá đi Bắc chinh, vâng lệnh ở lại đóng thú, tới đây đã 5 năm. Thần nay tuổi đã quá 50, hơi sức suy kém ; các con đều còn phải bế ẵm, dòng máu một nhà chỉ còn mình thần. Vậy xin nghỉ về quê một năm để lo liệu việc nhà”. Vua thương tình y cho.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Lấy Phó vệ úy vệ Nghĩa dũng là Nguyễn Xuân Tiến làm Phó vệ úy vệ Hữu nhất Thị trung.

    Thuyền đánh cá của người Thanh là bọn Lâm Tiến Hưng bị bão dạt vào Đồ Sơn (thuộc tỉnh Hải Dương). Sai cấp cho lương ăn và bảo về nước.

    Vua thứ hai nước Xiêm La mới lập, sai sứ đem hiến sản vật địa phương.

    Tướng giặc ở Lạng Sơn là Mạc Xán Vi (cháu chín đời Mạc Nguyên Thanh) nổi lên ở ải Du Thôn, gọi người Thanh là Tăng Khôi Nguyên cho làm ngụy hộ giá, tự xưng niên hiệu là Cảnh Xuân. Trấn thần sai bọn Cai cơ Nguyễn Văn Khương, Nguyễn Văn Huân đem quân đánh bắt, bắt được Xán Vi, Khôi Nguyên và bè đảng hơn mười người. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Thưởng áo mũ cho bọn Văn Khương và cho biền binh 600 quan tiền. Xán Vi, Khôi Nguyên đều bị xử tử. Đồ đảng là Mộng Bạch Bành, Lương Pháp Quyền, Mã Nho Minh đều là người Thanh, bị bắt ép phải theo, sai đưa về châu Bằng Tường nước Thanh.

    Đổi bổ Đô thống chế dinh Túc trực là Nguyễn Văn Khiêm làm Đô thống chế Thị trung.

    Lấy Hoàng Văn Diễn làm Ký lục Quảng Bình, Nguyễn Quang Châu làm Đông các học sĩ, Vũ Du sung Hàn lâm viện.

    Chưởng cơ phó thống Trung đồn Tiền quân là Nguyễn Văn Lân chết ; tặng Thị nội thống chế.

    Tháng 11, tha thuế thiếu cho dân xiêu dạt ở các trấn Bắc Thành.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “Các hạt Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng, hạ, Hoài Đức, Thái Nguyên, Hưng Hóa, từ năm Nhâm tuất tới nay, nhân dân xiêu tán đến hơn 370 xã thôn, tô thuế bỏ thiếu chồng chất đến hơn 11 vạn quan tiền, hơn 7 vạn hộc thóc, xin lượng cho khoan giảm để đỡ khổ cho dân”. Vua hạ lệnh tha hết cho, và sai quan sở tại yên ủi gọi về.

    Cấm tệ riêng của những quản suất các quân. Phàm binh lính trốn hay chết, quản suất phải báo ngay cho bộ để bắt điền, không được để kéo dài mà đòi thu tiền đại dịch, cũng không được thiện tiện đòi bắt, tạ sự quấy rối. Làm trái sẽ bị trị theo quân pháp.

    Vệ úy vệ Ban trực hậu là Đinh Công Xuyên nhũng lạm lấy tiền của quân 1.900 quan. Việc phát, bị giết. Đô thống chế là Trần Văn Năng vì không hay ngăn cấm bị phạt. Nhân đó vua triệu các chưởng quân đến dụ rằng :

    “Bọn người có trách nhiệm cầm coi binh lính, nên nghiêm nhặt răn bảo người sở thuộc phải ráo riết tuân theo quân chính. Có kẻ nào trái phép mưu lợi riêng, thì phải xét hoặc nêu ra, nếu ẩn giấu mà không phát, đến khi việc phát thì phải tội lây”.

    Lại hạ chiếu răn bảo tướng hiệu các quân rằng : “Triều đình đặt quan, đã có lộc thưởng. Người quản binh nên yêu thương quân sĩ, để họ vui lòng làm việc. Trước đây đã răn bảo đinh ninh, những điều nghiêm còn đấy. Thế mà Đinh Công Xuyên lại dám xem khinh kỷ luật, làm càn trái phép, theo phép thường thì tội phải giết, đã chém đầu để bảo cho mọi người. Ôi ! Phép là của công thiên hạ, bọn người đều nên cẩn thận giữ phép thường, để giữ lấy tước lộc lâu dài, và hưởng phúc thanh bình mãi mãi”.

    Sai Bắc Thành mỗi năm thu 600 phương gạo nếp (2 phương gạo nếp khấu trừ 3 phương thóc tô) nộp về Kinh.

    Nước Chân Lạp sai sứ đến cống.

    Cấp lương tháng cho Thái y viện. (Ngự y chánh tiền 5 quan, gạo 4 phương, ngự y phó tiền 4 quan, gạo 3 phương).

    Thuyền đánh cá của người Thanh gặp bão dạt vào phần biển Quảng Nam Bình Định. Sai cấp cho tiền gạo rồi bảo về.

    Phó quản cơ Trung quân là Nguyễn Văn Long, Trưởng hiệu là Nguyễn Văn Lý và Phó đội là Nguyễn Văn Oai nhũng lạm. Việc phát, giáng chức Văn Long làm Cai đội ; bọn Văn Lý, Văn Oai đều sung làm lính.

    Hạ lệnh cho thành thần Gia Định thông sức cho quan quân dân chúng ở bốn dinh, có ai đóng thuyền nan thuyền ván, bề ngang từ 5 thước trở lên, có thể đi biển được, thì mỗi năm đến tháng 11 phái người khám thực làm danh sách tâu lên.

    Khâm sai cai cơ Hữu quân là Lê Văn Phúc chết ; tặng Chưởng cơ.

    Miễn binh dao và thuế thân cho con Cai đội Nguyễn Văn Sĩ. Trước kia trong chiến dịch Bình Định, Văn Sĩ thường ra vào trong thành thăm dò tình hình giặc. Vua nghĩ thương nên tha cho con.

    Lấy Mai Văn Định làm Vệ úy vệ Ban trực hậu, Nguyễn Văn Loan làm Phó vệ úy.

    Triệu tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành, Hình bộ Phạm Như Đăng và Án trấn Quy Nhơn Nguyễn Hoàng Đức về Kinh chiêm cận. Sai Phó tướng Trương Tấn Bửu quyền lãnh công việc Bắc Thành, thự Tham tri Hình bộ Trịnh Hiến quyền giữ Hình tào, Hữu quân phó tướng Nguyễn Văn Hiếu quyền làm công việc Bình Định.

    Sách Nhất thống dư địa chí làm xong. Trước là vua sai Thượng thư Binh bộ Lê Quang Định kê cứu sách vở bản đồ cả nước, các thành dinh trấn đạo từ Kinh sư vào Nam đến Hà Tiên, ra Bắc đến Lạng Sơn. (Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Gia Định trấn, Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Định, Vĩnh Trấn, Hà Tiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, Bắc Thành, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Yên Quảng, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng), phàm sông núi hiểm hay dễ, đường đi xa hay gần, giới hạn bờ cõi thế nào, sông biển nguồn lạch, cho đến cầu cống chợ điếm, phong tục thổ sản, hết thảy ghi chép lấy, soạn làm 10 quyển. Sách làm xong, Quang Định trình biểu để dâng.

    Tháng 12, ngày mồng 1, vua ngự điện Thái Hòa. Lễ bộ dẫn Khâm thiên giám đem lịch vạn toàn năm Đinh mão tiến lên để ban cho trong ngoài. Trước kia lấy ngày phong ấn để ban lịch. Năm Giáp tý đổi dùng ngày hôm sau. Đến nay chuẩn định ngày mồng 1 tháng 12, làm lệ mãi mãi.

    Dựng đền Dục Đức (thờ Thái bảo Miên quốc công và quốc thái phu nhân Phùng thị), đền Tống công (thờ Thái bảo Khuông quốc công và quốc phu nhân Lê thị). Sai bọn Công bộ Trần Văn Thái, Tham tri Nguyễn Khắc Thiệu và Nguyễn Đức Huyên trông coi công việc.

    Đặt các vệ đội bảo và sai. Bảo thì có Trung bảo, Tiền bảo, Hậu bảo, Tả bảo, Hữu bảo, Võ bảo, Chấn bảo, cộng bảy bảo ; mỗi bảo chia làm 2 vệ, mỗi vệ đặt chánh vệ úy, phó vệ úy, cai án đều có một người ; mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội đặt một cai đội. Sai thì có Trung sai, Tiền sai, Hậu sai, Tả sai, Hữu sai, Võ sai, Chấn sai, cộng bảy sai ; mỗi sai có 5 đội, mỗi đội đặt một cai đội. Sai lệ thuộc vào bảo. Lấy Phó tướng Trung quân là Nguyễn Văn Vân quản các vệ đội Trung bảo Trung sai, Phó tướng Tiền quân là Nguyễn Đình Đắc quản các vệ đội Tiền bảo Tiền sai, Chưởng Hậu quân Lê Chất quản các vệ đội Hậu bảo Hậu sai, Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt quản các vệ đội Tả bảo Tả sai, Chưởng Hữu quân Nguyễn Hoàng Đức quản các vệ đội Hữu bảo Hữu sai, Chưởng Thần võ quân Phạm Văn Nhân quản các vệ đội Võ bảo Võ sai, Chưởng Chấn võ quân Nguyễn Văn Nhân quản các vệ đội Chấn bảo Chấn sai. Từ Chánh phó vệ úy trở xuống thì lấy bọn Trần Văn Đào, Bùi Văn Điền, Đào Quang Lý, Nguyễn Văn Nghiêm, Phạm Danh Văn, Nguyễn Văn Khuyến, Nguyễn Văn Đoạt, Dương Văn Mai, Phan Văn Quý, Nguyễn Văn Tam, Nguyễn Văn Thập, Nguyễn Văn Hưng, hơn 160 người để bổ vào.

    Định cấm điều đối với những binh lính giả bệnh.

    Phàm kỳ hạn đến ban, ai ốm không thể đi được thì báo quan sở tại xét thực phê bằng mới được ở lại quê quán để điều dưỡng. Nếu giả bệnh mà xin gian thì đánh 100 roi, đầy đi phục dịch một năm, bắt xã dân điền cấp cho đủ ngạch.

    Cai cơ Lê Văn Uy chiêu nạp bọn du côn đi cướp bóc thuyền buôn. Thành thần Gia Định nghị xử tội chết. án tâu lên. Vua nghĩ Uy là con Lê Văn Quân không nỡ giết, đổi làm án đánh 100 roi, đồ 5 năm.

    Ngày Canh dần, vua yết lăng Hoàng khảo.

    Ngày Tân mão, làm lễ tế Chạp.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXI

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Đinh mão, Gia Long năm 6 [1807] (Thanh - Gia Khánh năm 12), ngày Canh tuất, tháng giêng, mùa xuân, tế Xuân hưởng. Sắc rằng : “Từ nay tế hưởng ở Thái miếu, các hoàng tử hoàng tôn ai nấy theo thứ tự sung làm nhiếp tế và bồi tự((1). Nhiếp tế : Thay vua mà tế. Bồi tự : cũng như bồi tế, đứng địa vị phụ mà làm lễ.1).

    Bắt đầu bói ngày để tế Giao(2. Tế Trời Đất ở Nam giao. 2). Trước kỳ, Khâm thiên giám chọn ba ngày tốt trong tháng 2 tâu lên. Trung tuần tháng giêng sai quan bói. (Dùng tiền keo bằng bạc, đem những ngày đã chọn ra để bói. Một đồng sấp một đồng ngửa là tốt. Nếu bói ngày đầu không được, lại bói ngày thứ hai, nếu lại không được thì dùng ngày thứ ba).

    Trước tế Giao ba ngày và ngày chính, cấm xét việc hình và cấm sát sinh ở chợ búa, làm lệ mãi mãi.

    Ngày Ất mão xuất quân. Sai Chưởng Thần sách quân Phạm Văn Nhân xuất bộ binh, Thị trung đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm xuất thủy binh, chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên xuất binh tượng mã [voi ngựa]. Trước kia xuất quân đầu năm, vua thân ra hiệu lệnh, tới nay mới sai quan lãnh cờ mao tiết để thi hành. (Trước kỳ đặt nghi tiết thường triều ở điện Cần Chánh, ban cho mỗi quan khâm mạng một cờ mao tiết. Đến ngày, quan khâm mạng mặc nhung phục, trước xuất bộ binh. Đánh ba hồi trống. Bộ binh đánh thanh la mở cờ. Đội Trung hầu theo lệ bắn đại bác, các quân bắn súng tay. Trống đánh ba tiếng. Các quân tiến bảy bước, hoan hô ba tiếng, rồi đánh chuông thu quân. Thứ xuất thủy binh và binh tượng mã. Đánh ba hồi trống. Trung hầu bắn đại bác. Trống đánh ba tiếng. Đội Tiểu hầu cử nhạc. Thủy binh mở thuyền múa chèo. Binh tượng mã mở cờ tiến đi. Khua chuông thu quân. Vua ngự ở điện Càn Nguyên, trăm quan lạy mừng. Quan khâm mạng phục mạng [trả mạng lại], nộp cờ mao tiết).

    Người nước Xiêm là bọn Hoàng Bảo Hưng và Ma Liệt sang nước Thanh nộp cống, thuyền gặp bão phải đậu vào hải phận Bình Định. Họ xin đến Kinh chiêm cận. Vua y cho rồi cấp cho 7.000 quan tiền và 1.000 phương gạo. Lại sai trấn thần sửa chữa giúp thuyền, rồi cho về. Người Xiêm sau đem 3.000 đồng bạc Xiêm để tạ, lại xin kỳ nam và nhục quế. Vua sai nhân có sứ đến gửi cho.

    Gọi quân Thần sách ở Thanh Nghệ, Ngữ quân và Tượng quân ở Bắc Thành 4.000 người về Kinh.

    Vua nghĩ tới quan và binh đi đánh ác man ở Quảng Ngãi đóng giữ luôn năm, xông pha lam chướng, bèn sai cấp thuốc chữa người đau ốm ; sau lại sai Lê Văn Duyệt cầm quân đi đánh.

    Lương Mang [Mường Luổng](1. Mường Luổng : Tức Luang Prabang. 1) sai sứ đến cống. Sứ đến Nghệ An, trấn thần dịch thư dâng lên. Vua cho rằng Lương Mang ở xa mà đến thần phục, thực dối chưa rõ, sai trả lại đồ cống, cho hậu rồi bảo về.

    Nguyễn Văn Thành dâng sớ điều trần bốn việc : 1) Xin đặt kinh diên, mỗi tháng cứ các ngày 2, 12, 22 thì giảng quan đến giảng sách ; các quan văn võ từ hàng tam phẩm trở lên đều được nghe giảng. 2) Định luật mới, khiến quan lại có chỗ tuân theo, quân dân biết [điều phải] mà theo [điều trái] mà tránh. 3) Đặt sử quan để làm quốc sử. 4) Đặt Ngự sử đài để nghiêm phép triều đình. Vua khen phải và nhận. Bàn phép khoa cử. Sai Lễ bộ tham khảo điển cố, bàn định điều lệ quy thức tâu lên.

    Tướng giặc ở Quảng Nam là Lê Đình Ân trước nổi tiếng về địa lý, lừa dối dân ngu, mưu việc khởi ngụy. [Vua] sai Vệ úy vệ Ban trực là Vương Văn Học cùng Lưu thủ là Tôn Thất Huyên chia quân đi dẹp bắt, bắt được Đình Ân và bè đảng rất nhiều. Sai giết Đình Ân và mười người đồng mưu, còn những người bị ép theo đều tha hết.

    Trong kinh kỳ không mưa. Sai đảo vũ ở đền Thai Dương. Mưa rất to.

    Lập hai sở lò gạch ngói, lấy 300 người dân Quảng Bình và 600 người dân Quảng Nam làm việc, hằng tháng cấp cho tiền gạo.

    Lấy Ký lục Phú Yên là Vũ Đức Thông làm Hữu tham tri Hình bộ, Cai bạ Bình Định là Trần Quang Tĩnh làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham hiệp Lạng Sơn là Lê Minh Huy làm Hiệp trấn Kinh Bắc.

    Lấy Phó vệ úy vệ Tề võ là Mai Văn Thành làm Phó vệ úy vệ Nội trực, Khâm sai cai cơ là Nguyễn Văn Phấn làm Thủ ngự cửa biển Tư Dung.

    Quảng Trị gạo đắt. Sai phát 10.000 hộc thóc kho giảm giá bán cho dân (một hộc thóc trị giá 1 quan 8 tiền, bớt 5 tiền).

    Định năm bực công thần Vọng Các chết trận và chết bệnh (Hàng võ. Bậc nhất : bọn Ngoại tả chưởng dinh Chu Văn Tiếp, Tiền quân Tôn Thất Hội, Thuộc nội cai cơ quản thuyền nội thủy Trung thủy thuyền Võ Di Nguy, Trung dinh đô thống chế Tống Viết Phúc, Hậu quân đô thống chế Mai Đức Nghị, quản Tiểu sai đội Đỗ Văn Hựu, 6 người ; bậc nhì : bọn quản Tiền trực vệ Nguyễn Văn Mẫn, Giám thành xứ Tô Văn Đoài, Chưởng cơ Hoàng Tiến Cảnh, quản Tiểu sai đội Bùi Khoan, Tống Phước Ngọc, Chưởng cơ Đoàn Văn Khoa, Thuộc nội cai cơ Nguyễn Văn Liêm, Phó tướng chưởng cơ Nguyễn Văn Lợi, quản Tiểu sai đội Trương Phúc Luật, Cai cơ quản Tiền chi Ngô Công Quý, Cai cơ lưu thủ Nguyễn Thoan, Chưởng cơ Nguyễn Văn Vân, Thống nhung cai cơ Nguyễn Văn Dực, Lưu thủ cai cơ Trương Văn Giao, án trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Tánh, Tả thủy cai cơ Nguyễn Hữu Nghị, Thống binh chưởng cơ Nguyễn Công Thành, quản Tuyển phong tả vệ Lê Thành Lý, Cai cơ suất Tả bính đội Nguyễn Văn Định, Hậu dinh phó đô thống chế Tống Phước Đạm, Hậu thủy cai cơ Nguyễn Văn Nhàn, Chưởng cơ quản Tiền chi Nguyễn Văn Đắc, Trung thủy cai cơ Nguyễn Văn Uy, Thống binh chưởng cơ Phan Viện, Thượng đạo chưởng cơ Đặng Văn Lượng, Nguyễn Văn Thảo, Tiên phong cai cơ Võ Văn Chính, quản Tuần hải đô dinh Hà Hỷ Văn, Trung thủy dinh thống chế Tống Phước Châu, Chưởng cơ Hà Văn Lộc, Cai cơ Mai Tĩnh, 35 người ; bậc ba : bọn Tuyển phong hậu vệ Vệ úy Đoàn Cảnh Cư, Chưởng cơ Nguyễn Văn Phú, Tuyển phong tiền vệ Vệ úy Nguyễn Văn Hựu, Trung võ vệ Vệ úy Trần Văn Xung, Ban trực tả vệ Vệ úy Võ Văn Đổ, Uy võ vệ Vệ úy Hoàng Phú c Bảo, Thần võ vệ Vệ úy Nguyễn Văn Kỷ, Dương võ vệ Vệ úy Nguyễn Văn Trường, Tiền khuông chi Cai đội Đinh Văn Tam, Tuyển phong hậu vệ Vệ úy Đoàn Phúc Tân, quản Nội trực vệ Lê Văn Tín, Thống binh cai cơ Dụ Kỷ, Dũng võ vệ Vệ úy Trương Văn Hoảng, Cai cơ lưu thủ Võ Tiến Đẩu, Tuyển phong hậu vệ Vệ úy Mãn, Dương võ vệ Phó vệ úy Nguyễn Vĩnh Hựu, Thanh Châu Cai cơ Đoàn Công Duệ, quản Túc trực bát đội cai cơ Lưu Văn Trung, Túc trực thất đội Cai đội Lưu Đức Hiến, Tiền quân Cai cơ Nguyễn Văn Trí, Ban trực tiền vệ thập đội Cai đội Mai Đức Duật, Nội dực Vệ úy Nguyễn Hiên, Tiền thủy dinh Cai cơ Nguyễn Văn Cẩm, Cai cơ Hồ Văn Trường, Dương võ vệ Cai cơ Lê Văn Thuật, Thuộc nội cai đội Nguyễn Văn Thạch, Túc trực cai đội Nguyễn Văn Sơn, Tuyển phong tả Phó vệ úy Lê Nhân Sử, Tiền quân phó tướng Nguyễn Huệ, Cung võ vệ úy Hoàng Văn Tứ, Ban trực hữu Phó vệ úy Nguyễn Văn Đăng, Cai cơ Nguyễn Loan, Vĩnh Trấn lưu thủ Nguyễn Đăng Chiêu, Cai cơ Nguyễn Lưu, Thanh Châu đạo Cai cơ Lê Thượng, Nguyễn Tần, Tả thủy dinh Hậu chi Cai cơ Nguyễn Văn Chất, Cai cơ Nguyễn Văn Chính, Thanh Châu đạo Cai cơ Nguyễn Văn Luật, 39 người ; bậc bốn : bọn cai đội Trần Văn Mỹ, Tiền quần cai cơ Nguyễn Quận, Cai đội Nguyễn Văn Thủy, Dương võ vệ Cai đội Đĩnh, Tả mã Cai đội Cẩm, Cai đội Huấn, Cai cơ Chính, Cai cơ Lộc, Kiên uy vệ Phó vệ úy Nguyễn Công Thành, Cai đội Huệ, Cai đội Võ Văn Tiến, Cai đội Nguyễn Văn Luận, Cai đội Hiên, Cai đội Nguyễn Văn Lưu, Cai đội Trần Văn Định, Cai đội Tống Văn Đồng, Thượng đạo Cai cơ Nguyễn Văn Tuy, Nội mã Cai đội Nguyễn Văn Ngân, Túc trực vệ nhị đội Cai đội Nguyễn Văn Hòa, Tả vệ Cai đội Nguyễn Khương, Ban trực tả vệ Cai đội Lê Văn Hậu, Thần sách thuộc nội Cai đội Nguyễn Văn Ân, thuộc binh Cai đội Phan Văn Hiến, Tiền thủy dinh chánh Tiền chi Cai cơ Nguyễn Văn Thái, Cai đội Trần Văn Nho, Thủ ngự Lê Văn Linh, Hậu điện Cai đội Nguyễn Đình Thạch, suất Hoàng Kiêm đội Tống Viết Khánh, Tả chấn chi Cai cơ Cao Đức Hùng, Cai đội Nguyễn Văn Bính, Tả mã thuyền Cai đội Tống Phước Giao, Nguyễn Văn Bộ, Cai cơ Nguyễn Văn Nguyện, Tiểu sai cai đội Nguyễn Lợi, Nội trực Cai đội Lễ, Tiểu sai Cai cơ Nguyễn Văn Siêu, Trường Thọ cung Cai đội Mỹ, Tuyển phong tiền vệ Cai cơ Mai Văn Đắc, Cai đội Nguyễn Văn Thụ, Cai đội Quỳnh, Tổng nhung cai đội Đẳng, Tả quân Cai cơ Nguyễn Văn Thanh, Cai cơ Lê Văn Minh, Tiền quân Cai cơ Nguyễn Lộc, Cai cơ Ngoạn, Cai đội Nguyễn Văn Đông, Tả quân cai đội Nguyễn Văn Thục, cai đội Nguyễn Văn Châu, cai đội Nguyễn Văn Lại, Hoàng Văn Của, Lê Văn Chấp, Hà Văn Tài, Nguyễn Luật, Trung hầu tam thuyền Cai đội Cao Phúc Luật, 53 người ; bậc năm : bọn Chánh tàu Cai cơ Võ Văn Khách, Hậu dinh đội trưởng Trần Mãn, Trung hầu nhị thuyền Cai đội Nguyễn Đồng, Nội trù Cai phủ Nguyễn Văn Hội và binh đinh 11 người. Hàng văn. bậc nhì : bọn Hộ bộ Trần Phúc Giai, Lễ bộ Nguyễn Thái Nguyên, Lễ bộ Nguyễn Đô, Hộ bộ Phan Thiên Phúc, 4 người ; bậc ba : “bọn Tham tri Nguyễn Văn Mỹ, Cai bạ Nguyễn Văn Thiêm, Ký lục Nguyễn Văn Hiến, 3 người ; bậc bốn : Tham mưu Hồ Xuân Quang, 1 người ; bậc năm : bọn Thái y viện Nguyễn Khắc Minh, Thuộc nội cai đội kiêm Thái y viện Nguyễn Thận, 2 người).

    Cấp cho mộ phu theo thứ bậc khác nhau (Công thần bậc nhất : Người chết trận cấp mộ phu 16 người, chết bệnh ở trong quân cấp 13 người, chết bệnh ở nhà cấp 10 người. Công thần bậc nhì : Người chết trận cấp mộ phu 13 người, chết bệnh trong quân cấp 10 người, chết bệnh ở nhà cấp 7 người. Công thần bậc ba : Người chết trận cấp mộ phu 10 người, chết bệnh trong quân cấp 7 người, chết bệnh ở nhà cấp 4 người. Công thần bậc bốn : Người chết trận cấp mộ phu 3 người, chết bệnh trong quân cấp 2 người, chết bệnh ở nhà cấp 1 người. Công thần bậc năm : Người chết trận cấp mộ phu 2 người, chết bệnh trong quân cấp 1 người, chết bệnh ở nhà miễn thuế thân và dao dịch cho một người con).