064. Trang [0693-0703] - @ nhani78 (Done)

3/12/15
064. Trang [0693-0703] - @ nhani78 (Done)
  • :rose:
    Về sau hễ có người dự công Vọng Các được tục tâu lên, thì chiếu theo đẳng cấp như thế mà cấp. Hạ lệnh từ nay những công thần Vọng Các, từ hàng Chưởng cơ trở xuống, khi viết quan hàm thì nêu lên đầu hai chữ Vọng Các. Có vợ góa con côi thì quan sở tại xét hỏi, hằng tháng cấp cho tiền gạo đủ dùng. Con đã hơi lớn thì ấm thụ cho nhàn chức(1. Chức quan thanh nhàn, không phải làm việc.1) (như những hàm cai đội, đội trưởng, thủ hợp).

    Tháng 2, sai Bắc Thành chọn hơn trăm người thợ các tượng cục cho đến Kinh làm việc.

    Sai đóng thêm hơn trăm chiếc thuyền chiến sai. Vua từng nói với bọn Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Trong nước tuy đã yên ổn nhưng không thể quên được việc chiến tranh. Quân ta rất giỏi thủy chiến mà số thuyền ghe hiện không có mấy, nên đóng sẵn trước để phòng khi dùng đến”. Bèn sai Gia Định lấy gỗ nộp về Kinh, hạ lệnh cho các quân theo mẫu thức mà đóng.

    Sai Võ Viết Bảo kiêm quản các đội Thị trà, Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm, Loan nghi, Nội mã, Tả mã, Hữu mã, Tiểu hầu, Bả lệnh, Nguyễn Cửu An làm phó.

    Xiêm La sai sứ sang cống phương vật và báo tang vua thứ ba. Sứ giả đến, cho hậu rồi bảo về. Vua dụ bầy tôi rằng : “Nước Xiêm đem việc tang vua thứ ba đến cáo, thật không có ý nghĩa gì. Xong nước ta với nước Xiêm tình nghĩa giao hiếu không nên dứt, nên bàn sai sứ sang viếng”. Bèn sai bọn Cai cơ Đỗ Phùc Thịnh, Tham luận Trần Đán, Hàn lâm viện Hoàng Văn Tri, Câu kê Ngô Văn Duyệt sung chánh phó sứ sang Xiêm. (Tặng Phật vương : 2 cân kỳ nam, 23 cân quế, 300 tấm the, 100 tấm lụa, vải nhỏ trắng và vải thâm mỗi thứ đều 50 tấm ; tặng vua thứ hai 200 tấm the, lụa và vải đều 50 tấm ; phúng vua thứ ba : 100 cân sáp ong, 1.000 cân đường cát, đường phổi và đường phèn đều 200 cân, vải vàng 100 tấm). Khi sứ trở về, người Xiêm gửi thư tạ ơn.

    Vua thấy nước Xiêm cùng ta giữ hậu việc giao hảo, hành lý đi lại, đường sá thông nhau, bèn sai quan Lễ bộ bàn định trình thức của sứ bộ để gửi sang Xiêm. (Sứ ta sang Xiêm, đi đường thủy thì 50 người, đường bộ thì 12 người. Văn thư đi thì đưa qua nước Chân Lạp chuyển đạt. Sứ Xiêm thì đi đường biển đến Gia Định rồi vào Kinh ; đi đường thủy thì 50 người, đường bộ thì 14 người).

    Cho Mạc Công Du làm Khâm sai cai đội, Mạc Công Tài làm Cai đội.

    Hạ lệnh từ Nghệ An ra Bắc xã nào đinh tịch 140 người trở xuống thì đặt một xã trưởng, 150 người trở lên thì đặt thêm một thôn trưởng, dân số tăng đến 50 người nữa thì lại đặt thêm một thôn trưởng, do quan địa phương cấp bằng cho làm việc.

    Định phép thi Hương và thi Hội. Chiếu rằng : “Nhà nước cầu nhân tài, tất do đường khoa mục. Tiên triều ta chế độ khoa cử đời nào cũng có cử hành. Từ khi Tây Sơn nổi loạn, phép cũ hủy bỏ, sĩ khí vì đó mà bế tắc. Nay thiên hạ cả định, Nam Bắc một nhà, cầu hiền chính là việc cần kíp. Đã từng xuống sắc bàn định phép thi : kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa, kỳ đệ nhị thi chiếu, chế biểu ; kỳ đệ tam thi thơ, phú ; kỳ đệ tứ thi văn sách. Lấy tháng 10 năm nay mở khoa thi Hương, sang năm Mậu thìn mở khoa thi Hội. Bọn học trò các ngươi đều nên dùi mài việc học, để đáp lại cái ơn tôn chuộng nghề văn”. Sau vì thấy mới bắt đầu bình định, văn học còn ít, nên đình việc thi Hội.

    Lấy Tham tri Hình bộ là Vũ Đức Thông lãnh Hình tào Bắc Thành, Phan Tiến Thiện, Nguyễn Quang Huyên làm Thiêm sự Hộ bộ sung biện việc Hộ tào.

    Truy tặng quản Tuần hải đô dinh Hà Kỷ Văn làm Thủy dinh thống chế, ấm thụ cho con là Chấn Dương làm cai phủ tàu, cho con là Văn Dưỡng chức hàm đội trưởng.

    Khơi sông Phương Lang (tên xã) ở Quảng Trị. Sửa đường Hải Vân quan ở Quảng Đức. Dân phu làm việc đều được cấp lương hằng ngày.

    Trần thần Nghệ An tâu rằng : “Dân biệt nạp gỗ lim kiếm nộp gỗ long hiệp cốt(1. Long hiệp cốt : Gỗ đóng sườn thuyền, ví như sương sườn của rồng.1), nhiều cây không được đúng thức (lấy chiều dài 7 thước, lưng tròn 4, 5 thước làm mức), xin chiết thu bằng tiền để tiện cho dân. Vua y cho.

    Định đại lễ Nam giao. (Tầng thứ nhất : Chính vị hướng về nam, nậm vàng, chén vàng tàn tròn, quần bàn màu xanh, tàn vuông, quần bàn màu vàng ; phối vị hướng về tây, nậm vàng, chén vàng tàn tròn màu vàng, quần bàn màu đỏ. Tầng thứ hai : Bày tàn tròn lớn màu vàng 4 cái ; tòng vị ở tả hữu hướng về đông và tây, nậm bạc, chén bạc, tàn, lọng, quần bàn đều màu đỏ. Tầng thứ ba : ở trước bày tàn tròn màu vàng hạng thứ 12 cái. Cả thảy ba tầng. Bốn cửa dựng cờ tứ sắc, bốn cửa của nền vuông thì dựng cờ tứ sắc hạng lớn, mỗi cửa hai lá, đều theo phương hướng của cửa mà dùng màu cờ. Tầng thứ hai, đông và tây mỗi bên đặt một bộ âm nhạc hạng nhỏ, mỗi bộ 8 người. Tầng thứ ba, đông và tây mỗi bên đặt một chuông lớn và một trống lớn. Người đánh chuông đánh trống thì dùng hai quản vệ Thị trung. Mé dưới chuông trống mỗi bên đặt một bộ đại nhạc trống kèn, mỗi bộ 7 người. Bắt đầu nổi chuông trống, rồi tấu nhạc nhỏ. Chỉ đến các tiết Phiền sài(1. Phiền sài : Khi tế Trời xong thì đốt những vật tế ở trên một đống củi kho, đốt ngọc lụa gọi là “phiền”, đốt thịt tế gọi là “sài”.1), Thăng đàn(2. Lúc bắt đầu tế. 2), Giáng đàn(3. Lúc tế xong. 3) Vọng liệu(4. Vọng liệu : Trông về chỗ đốt văn tế khi đã tế xong. 4) mới tấu đại nhạc).

    Ngày Tân mão, tế Trời Đất ở đàn Nam giao. Rước Thái tổ Gia dụ hoàng đế(5. Nguyễn Hoàng. 5) lên phối hưởng. Ba ngày trước trai giới, đặt nghi thức đại triều ở điện Thái Hòa, hạ chiếu cho trăm quan thề trai giới. Trước 2 ngày, đem việc tế cáo yết ở Thái miếu. Trước một ngày sai quan thủ hộ Kinh thành. Vua ngự đến Trai cung, hữu ty đặt lỗ bộ pháp giá theo nghi thức. (Chánh phó sứ phù liễn mỗi chức một người ; từ Đô thành đến Trai cung đặt vệ tất [lính giữ trật tự dọc đường] ; đặt nhã nhạc nhưng không cử nhạc ; khi xa giá đến, trăm quan quỳ đón ở bên trái đường).

    Đến ngày tế, vua đội mũ cửu long, mặc áo bào vàng, đai ngọc, xiêm vàng, lên đàn làm lễ. Các quan dự tế đều mặc triều phục (Thượng thư tước quận công giữ việc dâng rượu ở hai tòng vị tả hữu ; các quan tam phẩm trở lên bồi tế ở tầng thứ ba, tứ phẩm trở xuống ở nền vuông).

    Làm lễ xong, vua trở về Trai cung, trăm quan làm lễ khánh thành, rồi vua hồi loan. (Khi ấy nhã nhạc nổi, trăm quan quỳ đưa ở bên đường). Cáo ở Thái miếu như lúc đầu.

    Hạ lệnh cho nhân dân Bắc Thành mộ dân ngoại tịch làm lính. Ai mộ được 50 người thì cho chức đội trưởng, mộ được 100 người trở lên thì cho chức cai đội ; cấp cho lương tháng theo thứ bậc khác nhau.

    Hạ lệnh từ nay binh lính và cục tượng về Kinh làm việc, khi hết hạn trở về đều được cấp lương ăn đường.

    Dựng phủ đệ hoàng tử. Sai Thị trung vệ úy Hoàng Công Lý và Nội trực vệ úy Trương Phúc Phượng trông coi công việc.

    Thao diễn trận voi. Vua ra Thủy các để xem.

    Tha thuế thân và dao dịch cho Lưu Văn Nghĩa người Bình Định. Bình Định có giặc trốn là Tiêm, trốn tránh đã lâu, Văn Nghĩa thám báo cho Cai đội Phan Văn Biền bắt nộp. Việc tâu lên. Thưởng cho Văn Biền 100 quan tiền, mà miễn thuế thân và dao dịch cho Văn Nghĩa. Lại có người Bình Định là bọn Nguyễn Văn Phẩm, Lê Văn Tín cũng báo bắt được giặc, quan địa phương tâu lên, đều được tha thuế thân và dao dịch.

    Thuyền của biền binh cơ Trung tiệp Nghệ An chở quan hạng đến Quảng Bình, gặp bão phải đậu ở cửa biển Nhật Lệ, sai đội công xa Quảng Bình, Quảng Trị chở theo đường bộ về Kinh.

    Cho Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành, Hình bộ Phạm Như Đăng và án trấn Quy Nhơn Nguyễn Hoàng Đức về lỵ sở nhận việc.

    Người Thuận Thành là Khoa Nộn tụ họp dân man hoang hơn 300 người đến cướp bảo Thị Linh. Trưởng bảo là Phan Vân đánh chém được Khoa Nộn, đồ đảng còn lại đều trốn hết.

    Tháng 3, hạ lệnh cho các thành và dinh trấn xem xét tình hình động tĩnh của trộm cướp ở địa phương mình hằng năm cứ bốn quý làm sách tâu lên.

    Dời phần mộ của Kiến Miên quốc công phu nhân là Phùng thị về Dương Xuân. Phu nhân là mẹ Hoàng thái hậu, chết ở Gia Định, tới nay đưa quan tài về. Ngày táng, vua thân hành đưa đám. Nghỉ chầu 3 ngày.

    Bảy sách man ở Cam Lộ vào cống. Lễ bộ tâu xin cho thổ tù làm sách trưởng các sách để thống nhiếp nhau, giữ việc tuế cống lâu dài. Vua nghe theo. Cho tên Ca làm chánh sai trưởng Mường Vang, tên Lung làm sai trưởng Cha Bôn, tên Thìn làm sai trưởng Làng Thìn, Xú La Dã làm sai trưởng Trầm Bồn, Phi Huân làm sai trưởng Thượng Kế, tên Kha làm sai trưởng Xương Cụm.Ấp Ma Hạt làm sai trưởng Phá Băng (Cha Bôn, Trầm Bồn, Xương Cụm, Phá Băng, đến năm Minh Mệnh thứ 3 đổi làm Na Bôn, Tầm Bồn, Xương Thịnh, Tá Bang).

    Sai năm nội trấn của Bắc Thành và phủ Hoài Đức làm lại sổ hộ tịch. Chiếu rằng :”Số hộ khẩu lấy sổ sách làm căn cứ. Cho nên việc sửa nước trị dân trước hết phải định rõ hộ chính. Tiên triều ta đặt chế độ, dựng pháp luật, đã có quy tắc sẵn, kẻ tới tuổi thì vào sổ, kẻ già yếu thì thải ra, là để phân biệt chỗ đông chỗ thưa, mà chia đều phú dịch, đời đời noi theo, đã hơn 200 năm. Nay dư đồ thống nhất, Nam Bắc một nhà, từ Quảng Bình trở về Nam đều đã cử hành phép cũ, mà Bắc Hà trở ra thì vẫn còn theo sổ thường hành cũ, sống chẳng kể chết chẳng trừ, gắn chặt nhất định, thành thử nơi nhẹ cứ nhẹ mãi, nơi nặng cứ nặng mãi, dân ngày càng xiêu tán, chính là do đấy. Nếu không sửa đổi tệ ấy thì chẳng những trong nước có chính sách khác nhau, mà nỗi đau khổ của dân cũng không lấy gì chữa được. Vậy đặc biệt xuống chiếu cho xã dân các trấn phủ huyện các ngươi đều phải chiếu từ chức sắc đến quân dân, cho chí những dân gia cư và ngụ cư, hết thảy đều ghi vào sổ. Phàm đinh khẩu từ 18 tuổi trở lên đến 59 tuổi trở xuống thì liệt làm các hạng thực nạp(1. Thực nạp : Hạng dân nộp đủ phú dịch.1), và ngoại tiêu sai(2. Ngoại tiêu sai : Hạng dân được miễn sai dịch, xem là ở ngoài.2), xã trưởng thôn trưởng đều lấy đinh số tăng hay giảm mà định thưởng phạt. (Hạng tráng, hạng dân đinh, hạng biệt tính là thực nạp, chức sắc, quan viên tử, binh lính, phu trạm là ngoại tiêu sai. Sổ khai của xã trưởng so với sổ cũ, cứ đinh số tăng được 10 người thì thưởng cho một suất khinh phu, người khinh phu được miễn binh dịch dao dịch ; tăng 30 người thì thưởng cho bằng son xã trưởng ; tăng 50 người thì thưởng cho bằng son tướng thần ; cứ tăng 50 người thì lại thưởng thêm một chức, như phó tổng, cai tổng, ký thuộc, cai thuộc, ký huyện, cai huyện, gặp khuyết thì bổ. Xã nào có thôn trưởng mà chỉ tăng có 10 người thì thôn trưởng không được dự thưởng ; tăng 20 người thì thưởng 2 suất khinh phu, thôn trưởng và xã trưởng mỗi người được một, lại thưởng cho bằng son thôn trưởng ; ngoài ra nếu tăng được 30 người, thì thưởng cho 3 khinh phu, xã trưởng được 2, thôn trưởng được 1 ; tăng 40 người thì thưởng 4 khinh phu, xã trưởng và thôn trưởng đều được 2 người. [Thôn trưởng] thì chỉ được chiếu số thưởng phu mà không được cùng với xã trưởng tăng chức từng bậc. Nếu đã được ân thưởng rồi, mà sau số đinh lại giảm đi thì chiếu theo số giảm ấy mà bớt phu giáng chức. Duy xã trưởng và tướng thần là đều lui về tiện nghi làm xã trưởng thôn trưởng. Thôn trưởng lui về tiện nghi thì không ở trong lệ giáng chức).

    Định rõ điều cấm về lậu đinh. (Lậu 1 người đinh có gia sản, thì xã trưởng bị 60 trượng, thu tiền 30 quan để thưởng cho kẻ tố giác ; lậu 2, 3 đinh, xã trưởng bị 60 trượng và đồ 1 năm, kẻ tố giác được miễn thuế dung thuế điệu 2 năm, nếu nhiều người cùng cáo giác thì chỉ thưởng cho một người đầu đơn ; lậu từ 4, 5 đinh, 6, 7 đinh, 8, 9 đinh, 10 đinh đến 14 đinh, xã trưởng đều bị xử gia bậc tội trượng và đồ, kẻ tố giác cũng được gia bậc lãnh thưởng ; lậu từ 15 đinh đến 24 đinh, xã trưởng bị tội lưu, người tố giác được miễn thuế dung thuế điệu 12 năm ; lậu từ 25 đinh trở lên, xã trưởng và vợ con đều phải tội lưu, duy con trai đã có vợ con gái đã có chồng thì được miễn, người tố giác được miễn phú dịch trọn đời. Lậu 1 người đinh không gia sản, xã trưởng bị 10 roi, thêm mỗi đinh xử thêm một bậc, đến 5 đinh thì mãn tội xuy [roi] ; lậu 6 đinh, xã trưởng bị 60 trượng, thêm mỗi đinh xử thêm một bực, đến 10 đinh thì mãn tội trượng, lại cứ mỗi đinh thì trách thu 5 quan tiền để thưởng cho người tố giác ; lậu từ 11 đinh đến 14 đinh, xã trưởng cũng chỉ tội mãn trượng, người tố giác cũng chỉ được thưởng 50 quan tiền ; lậu từ 15 đến 19 đinh, 20 đinh đến 24 đinh, 25 đinh đến 29 đinh, 30 đinh đến 34 đinh, 35 đến 44 đinh, coi cũng như lệ đinh có gia sản 2, 3 đinh, 4, 5 đinh, 6, 7 đinh, 8, 9 đinh, 10, 14 đinh ; lậu từ 45 đinh đến 59 cùng 60 đinh trở lên thì xem như lệ đinh có gia sản từ 15 đinh đến 24 đinh cùng 25 đinh. Người đinh lậu có gia sản thì bị 60 trượng, không gia sản thì bị 30 roi, đều phải ghi vào sổ chịu sai dịch. Xã trưởng ăn hối lộ tang đến 300 quan thì xử tử và truy tang trả lại dân. Xã nào có thôn trưởng thì đều bị xử kém tội lý trưởng ba bậc. Kẻ tố giác báo bắt lậu đinh không đủ số thì không thưởng ; nếu cáo hết thảy không đúng thực thì bị phản tọa.

    Định lệ phát phối những tù tội đồ tội lưu. (Phàm người bị tội đồ tội lưu, đều phải đóng xiềng khóa chân. Tội lưu lại thêm cái bài sắt khắc tên họ và tội danh. Tù tội đồ làm việc mỗi tháng cấp lương 1 phương gạo, hằng năm cấp một bộ quần áo vải ; mãn hạn thì về làng chịu sai dịch. Tù tội lưu đi tới chỗ bị đầy, quan địa phương cấp cho ruộng đất hoang và thóc giống, trâu bò, cùng đồ làm ruộng khiến cày cấy ở đó ; số thóc giống hạn một năm thời thu lại ; trâu cày và đồ làm ruộng cứ ba năm chiếu giá thu tiền ; hằng tháng cấp gạo lương, hằng năm cấp quần áo, cũng theo như lệ tù tội đồ ; trong một năm không phạm tội gì khác thì tha xiềng chân ; ba năm thành sản nghiệp thì bỏ cả bài sắt. Như vợ con tình nguyện theo đi và vợ con cùng bị lưu, thì tới chỗ đầy được bỏ ngay xiềng xích, chỉ để cái bài sắt, vợ con bị lưu thì không phải mang xiềng xích và bài sắt ; cấp gạo lương và quần áo, cho bản thân người phạm tội thì hạn hai năm, cho vợ con thì hạn một năm ; người tội lưu chung thân không được về làng, duy người tình nguyện đi theo thì cho được đi lại).

    Lấy Đoàn Đức Luận làm Quản cơ cơ Trung kích.

    Sai thủy quân diễn tập thuyền hải đạo ở sông Hương. Vua ra xem.

    Hạ lệnh từ Nghệ An ra Bắc, các thứ tiền thuế thân, tiền đầu quân, tiền thập vật, tiền thuế thủy lợi, nếu dân xin nộp thay bằng bạc thì cho, cứ
    28 quan tiền ăn 10 lạng bạc. Không đủ số quan tiền thì nộp tiền cho đủ ngạch.

    Định lệ báo cướp cho các địa phương. Dụ rằng : “Quan tư ở địa phương là người được gửi tính mạng của nhân dân và là tai mắt của triều đình. Trong khi dân gian yên lặng, hoặc có nổi trộm cướp khiến dân không được ở yên, thì phải đem việc tâu lên, há lại che giấu ? Vậy đặc biệt hạ lệnh từ nay trở đi, nơi nào xảy ra việc cướp bóc tài sản hay sát thương tính mạng thì xã trưởng lập tức báo phủ huyện, phủ huyện chuyển báo quan trên để đề đạt lên ngay. Nếu không xảy ra việc gì thì phủ huyện cũng phải mỗi tháng báo lên một lần, để rõ sự động tĩnh. Nếu ẩn giấu việc cướp không báo thì chiếu theo nặng nhẹ mà định tội. (Đám cướp chỉ có 5 đứa hoặc 10 đứa, tang vật nhẹ, thì lý trưởng bị 50 roi, phủ huyện và thượng ty bị phạt ; đám cướp có 20, 30 đứa trở lên, tang vật nặng, thì lý trưởng bị 70 trượng, phủ huyện và thượng ty xử biếm giáng ; đám cướp đến 40, 50 đứa trở lên thì xã trưởng bị 100 trượng, phủ huyện và thượng ty xử bãi chức. Nếu có tình trạng nặng mưu làm loạn mà ẩn giấu không báo thì lý trưởng bị tội đồ, quan địa phương bị tội lưu).

    Tha thuế gạo nếp cho dân man nộp cống ở đạo Cam Lộ. (Hai man Cha Bôn, Thượng Kế, thuế 20 sọt, ba man Phá Băng, Xương Cụm, Trầm Bồn, thuế 10 sọt, mỗi sọt 30 thăng).

    Sai các trấn Bắc Thành ghi sổ lính mộ ở các đồn bảo sở tại và thưởng cho quản suất phẩm trật và lương tiền theo thứ bực khác nhau. (Binh
    30 người đến 45 người, thưởng quyền sai cai đội, mỗi tháng cấp lương
    1 quan 5 tiền, gạo 1 phương 15 bát ; từ 46 đến 50 người, thưởng chức cai đội bằng son, mỗi tháng cấp tiền lương 2 quan, gạo 2 phương ; 150 người, thưởng chức cai đội sắc son, mỗi tháng cấp tiền lương 2 quan 5 tiền, gạo 2 phương 15 bát).

    Giặc biển tỉnh Mân nước Thanh là Thái Khiên và Chu Phần bị quan quân nước Thanh đuổi bắt, chạy trốn ra ngoài biển, Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi thư cho Bắc Thành nói thuyền giặc đều mũi xanh cột buồm đỏ, nếu có chạy đến hải phận ta thì đón bắt cho. Thành thần đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho các quan địa phương duyên hải từ Quảng Đức trở ra Bắc đều phát binh thuyền đi tuần xét.

    Định lại thuế ván gỗ cho năm hiệu Mộc đĩnh ở Gia Định. Hiệu dân hơn 540 người, theo lệ mỗi năm phải nộp đủ ván đóng 5 chiếc thuyền hải đạo. Gần đây vì dân nhiều người trốn và chết, tạp dịch lại nhiều, thành thần đem tình hình tâu lên, bèn hạ lệnh giảm cho 2 thuyền, làm lệ mãi mãi.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXII

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Đinh mão, Gia Long năm 6 [1807], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Tha thuế ruộng năm nay cho huyện Tống Sơn.

    Sửa lại Kinh thành. Lại gọi 3.000 người quân Thần sách ở Thanh Hoa, Nghệ An và 5.500 người của Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành về Kinh làm việc. Đến nơi cho ăn một bữa, rồi hậu cấp thêm cho tiền gạo. Lại lấy quân Quảng Đức đi bồi đắp đường sá, thưởng cho 1.000 quan tiền.

    Thuộc hạ của Nguyễn Văn Trương là Hoàng Văn Nghiêm làm giả thư của Văn Trương gởi cho Nguyễn Văn Nhân nói xấu Trịnh Hoài Đức. Văn Nhân bắt được thư đem tâu. Vua hạ lệnh cho Văn Trương về tâu. Nghiêm sợ trốn đi. Văn Trương đem việc trình tạ và nói: “Thần cùng Hoài Đức không có nghi kỵ gì nhau”. Vua xem tờ tâu rồi bỏ đi.

    Quảng Ngãi bị hạn. Có chiếu dụ Lê Văn Duyệt: “Binh khí không phải là đồ hay, mà chiến tranh là việc nguy vậy. Vừa rồi vì bọn ác man quấy rối nên phải dùng binh. Nay nắng hè nồng nực, lam chướng đương nhiều, nếu tiến đánh gấp thì tướng sĩ trèo non vượt hiểm dễ sinh tật bệnh. Ngươi nên tùy cơ chiêu dụ, để dân cư được yên, đó là thượng sách dẹp giặc. Nếu bất đắc dĩ mà phải đánh, thì cũng đem tình hình tâu trước”.

    Văn Duyệt liền dâng sớ nói: “Thần từ khi vâng mệnh tới nay, ngày đêm lo sợ. Nhờ được uy đức của Triều đình, nên khi quân đến Đồng Dương (tên đất) thì tù trưởng Man ra quy phục. [Thần] lại sai chúng chiêu dụ bọn Man hoang cho đều yên nghiệp làm ăn, nay đã được yên, không còn lo nữa”. Sớ vào, thưởng cho quân sĩ tại hành 2.000 quan, cho tù trưởng 300 quan.

    Sai Lễ bộ Đặng Đức Siêu kiêm quản việc Khâm thiên giám.

    Dụ rằng: “Việc suy lường độ số của trời cần phải biết trước, nếu để hiện tượng đã xảy rồi mới biết, thì chẳng là thiếu trách nhiệm ư?”. Trước kia, mỗi khi gặp nhật thực nguyệt thực, người Thanh gửi công điệp sang, bấy giờ Khâm thiên giám mới tâu báo, nên phải răn bảo như thế.

    Ở Thanh Hoa giặc nổi. Trấn thần đem quân đánh bắt được. Việc tâu lên. Hạ lệnh cho giết tên đầu đảng, thưởng cho biền binh 100 quan tiền. Bọn Lê Văn Trạch ba người vì có công dò bắt được giặc, cho làm cai đội, đội trưởng và cai hợp.

    Tướng giặc ở Sơn Tây là tên La tụ đảng cướp bóc vùng Sơn Tây và Kinh Bắc. Người Kinh Bắc là bọn Nguyễn Đức Chiêu, Nguyễn Đình Sâm, Nguyễn Đình Thắng lập mưu dụ tên La đến nhà, rồi sai người đi mật báo ở trấn. Trấn thần ủy Chánh thống Tiền đồn là Nguyễn Văn Hưng và Phó thống Nguyễn Xuân đem quân vây bắt, chém được tên La, bắt được đồ đảng hơn 20 người, thu được súng ống khí giới rất nhiều. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Thưởng cho biền binh 200 quan tiền, cho Đức Chiêu làm cai đội, bọn Đình Sâm làm đội trưởng và cho mũ áo.

    Lấy đá tảng và đá lát ở Quảng Nam. Dân và thợ làm việc được phát tiền gạo.

    Vệ úy Thị trung là Hoàng Văn Tòng tham nhũng, bị binh lính kiện, phải cách chức, đòi tang vật trả lại quân lính.

    Lấy Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Tăng Địch làm Ký lục Bình Định, tham quân Tượng quân là Nguyễn Văn Thục làm Ký lục Phú Yên, Hiệp thủ Cam Lộ là Nguyễn Đình Do làm Cai bạ Bình Thuận.

    Hạ chiếu cho Bình Thuận thuộc về trấn Gia Định, Bình Hòa thuộc về trấn Quy Nhơn. Trước hai dinh ấy đều thuộc về Gia Định. Kịp khi đặt án trấn thành Diên Khánh thì cho hai dinh lệ theo. Đến nay bãi án trấn Diên Khánh mới chia hai dinh thuộc về Gia Định và Quy Nhơn, cho lưu trấn [Gia Định] và án trấn [Quy Nhơn] ở xa lãnh. Phàm công việc binh dân, từ tụng, tô thuế của hai dinh đều do công đường quan của dinh tự xét làm, duy công việc quan trọng mới chuyển báo cho lưu trấn và án trấn quyết định. Nếu có sơn man xuẩn động hay trộm cướp nổi lên thì đều phải tùy cơ phòng ngự và báo cho lưu trấn, án trấn điều độ.

    Quản Đồ gia là Hoàng Văn Cẩn và Cáp Văn Hiến tâu xin cho bọn tượng cục là Hoàng Văn Lịch hơn 300 người làm chánh cai quản, chánh tư quản, cai quan, tư quan, thủ hợp. Vua y cho.

    Ở Nghệ An giặc nổi. Đường thông thương bị nghẽn. Trấn thần chia binh đánh dẹp không được. Việc tâu lên. Vua thấy đất Diễn Châu, Anh Đô nhiều rừng rậm, là nơi giặc cướp ẩn hiện, sai thêm quân để chặn bắt.

    Biên vệ Võ chấn trấn Lạng Sơn (lính 100 người) làm hai đội Võ chấn.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “Ruộng đất của dân xiêu dạt ở các trấn trước đã định cấm điều; gần đây nghe thấy các nha và những ấp chung quanh còn có kẻ chiếm canh, che giấu lẫn cho nhau, khiến dân xiêu dạt sinh lòng ngờ sợ, nhiều người chưa dám trở về. Xin sai người giao cho cùng với sở tại tra xét ruộng hiện canh để đánh thuế, rồi y lệ định mà xử trí”. Vua y cho.

    Tha thuế gỗ năm nay cho đội Lâm công [thợ rừng] ở Quảng Trị.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “ở Bắc Hà từ sau loạn lạc kẻ đi học tự học lấy ở nhà, hết thảy đều tập theo lề lối đời Lê cũ. Gần đây đã ban bố học quy, nhưng học tập ngày một kém. Nếu nhất luật theo đó mà lấy thì sợ kẻ thực học cùng người sơ học không lấy gì mà phân biệt nhau. Xin châm chước văn thể cũ của nhà Lê, đừng quá câu nệ so đo, thì ngõ hầu những người vốn chăm nghiệp học mới được phấn tấn, mà những kẻ vô tài không thể cầu may”.

    Chiếu trả lời rằng: “Mở khoa thi lấy học trò là chính sách lớn của triều đình. Sửa định văn thể cần có thể thức sẵn. Năm trước ban bố học quy, việc đã nhất định. Gần đây học quan đôn đốc, học trò giảng tập, không phải không lâu rồi, gián hoặc có kẻ tập mà không suy xét, đó là tại người dạy và người học bất lực mà thôi. Nay nếu cứ uốn theo lời người nói thì chính thể còn ra thế nào? Vậy hạ lệnh cho các học quan lưu ý dạy bảo cho kịp kỳ thi”.

    Chế biển các cửa Cung thành và Hoàng thành.

    Định lệ canh giữ Hoàng thành. (Bốn lầu ở trước sau tả hữu thành, mỗi lầu một cai đội, một phó đội và 50 người lính Thị trung cùng 10 người lính hầu thuyên, ngày đêm chia phen canh giữ. Nếu có hỏa hoạn ở trong thành thì lính đội Tiểu sai đánh thanh la báo hiệu ở cửa Hoàng Phước, nếu hỏa hoạn ở ngoài thành thì đánh thanh la ở điện Càn Nguyên; các quân nghe hiệu lập tức đến cứu).

    Hạ lệnh cho thuế ruộng năm nay ở các trấn Bắc Thành nộp thay bằng tiền (mỗi hộc thóc nộp 1 quan 2 tiền), duy Sơn Nam hạ vẫn nộp thóc, để vận chở đi.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “Cửa biển Liêu Lác là nơi quan yếu ở Sơn Nam hạ, trước nay thuyền buôn ra vào, phần nhiều lấy bừa giấy thông hành, tấn thủ không thể kiểm xét được, sợ những bọn bậy bạ nhân đó làm gian. Xin từ nay hễ thuyền ở Kinh thì do quan Kinh cấp bằng, thuyền ở ngoài thì do quan địa phương cấp bằng, xét đúng rồi mới cho đi, để phòng bọn gian dối”. Vua theo lời.

    Tháng 5, ngày mồng 1 Nhâm dần, có nhật thực.

    Lễ bộ dâng nghi tiết về tiết Đoan dương. (Hôm ấy, vua trước đến Thái miếu và miếu Hoàng khảo làm lễ. Lễ xong, đem các quan đến cung Trường Thọ(1. Cung Thái hậu ở.1) làm lễ mừng. Lễ xong, vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ chầu mừng. Lễ xong, các quan xin đến cung Khôn Đức(2. Cung Hoàng hậu ở. 2) lạy mừng.

    Ban mũ áo cho chánh khanh sáu bộ.

    Hạ lệnh từ nay cai bạ, ký lục các dinh có khuyết thì lấy thiêm sự ở sáu bộ cho làm.

    Ký lục Bình Hòa là Kiều Công Tuấn dâng yến sào. Vua hỏi Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế: “Trước nay thuế yến sào như thế nào?” Kế thưa rằng: “Đội yến sào bãi đã lâu rồi”. Bèn sai các dinh trấn hải phận nơi nào có sản yến sào thì làm sổ tâu lên, cấm dân lấy trộm; ai lãnh thầu thì đánh thuế.

    Sai Lễ bộ Đặng Đức Siêu biên phép Quốc triều thế hệ. Sách xong, đặt tên là Thiên nam thế hệ. Sách chép bắt đầu từ Triệu tổ Tĩnh hoàng đế đến Duệ tông Hiếu định hoàng đế, trên lại chép lên đến Hoành quốc công và Trừng quốc công để tỏ rõ dòng dõi của Triệu tổ từ đâu mà ra, sau chép đến Hiếu khang hoàng đế để tỏ rõ bản thân vua từ đâu mà ra, trên dưới gần hơn 200 năm. Phàm công nghiệp các đời, cho chí ngày sinh năm giỗ, phương hướng các lăng tẩm, đều ghi chép đủ.

    Ngày Nhâm tý, hoàng tôn (tức Hiến tổ Chương hoàng đế) sinh (ở ấp Xuân Lộc, phía đông Kinh thành, sau dựng chùa Diệu Đế ở đấy).

    Phả Bô Lam Ma La Xa ở Lạc Hoàn sai sứ đến cống (Voi 2 thớt, sừng tê 2 tòa, sáp ong 35 cân). Tờ biểu nói: “Từ năm Quý hợi về sau, vì thuộc Man có việc lôi thôi nên lệ tuế cống bỏ thiếu, nay xin cống bù”. Vua thương là thành thực, hạ lệnh cho Nghệ An sai trạm đưa về Kinh. Đến nơi, hậu tứ rồi cho về. Chuẩn định lệ cống để ban hành. (Ba năm một lần cống, lấy các năm thìn, mùi, tuất, sửu làm kỳ cống. Đồ cống thì voi đực 1 thớt, sừng tê 2 tòa. Đường cống do Quy Hợp đến Nghệ An. Trấn thần nhận đồ cống rồi cho về).