066. Trang [0714-0725] - @ nhani78 (Done)

3/12/15
066. Trang [0714-0725] - @ nhani78 (Done)
  • :rose:
    Dựng điện Khôn Nguyên

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Bắt đầu mở khoa thi Hương từ Nghệ An trở ra Bắc. Sai Tham tri Lễ bộ Nguyễn Gia Cát sung Đề điệu trường Nghệ An, Hiệp trấn Hưng Hóa Nguyễn Đình Tứ sung Giám thí; Tham tri Hình bộ Nguyễn Hoài Quỳnh sung Đề điệu trường Thanh Hoa, Đốc học Quốc tử giám Hồ Công Diệu sung Giám thí; Tham tri Lại bộ Phạm Đăng Hưng sung Đề điệu trường Kinh Bắc, Trị trung học sĩ Phạm Thích sung Giám thí; Tham tri Binh bộ Nguyễn Quang Diệu sung Đề điệu trường Sơn Tây; Thị trung học sĩ Võ Trinh sung Giám thí; Tham tri Lễ bộ Lê Chính Lệ sung Đề điệu trường Sơn Nam thượng, Hiệp trấn Lạng Sơn Lê Duy Đản sung Giám thí; Tham tri Công bộ Nguyễn Khắc Thiệu sung Đề điệu trường Hải Dương, Phó đốc học Quốc tử Giám Nguyễn Viết Ưng sung Giám thí. Lấy đỗ Hương cống tất cả 62 người. (Trường Nghệ An: Hồ Sỹ Đề, Trần Ngọc, Dương Doãn Nguyên, Đinh Miễn, Nguyễn Trung Mậu, Hồ Sĩ Trinh, Nguyễn Đình Diễm, Trần Lễ, cộng 8 người. Trường Thanh Hoa: Lê Văn Luyện, Nguyễn Hữu Bình, cộng 2 người. Trường Kinh Bắc: Cao Huy Diệu, Nguyễn Văn Sưu, Nguyễn Ngọc Trác, Nguyễn Án, Đàm Thận Hưu, Lê Gia Thắng, Nguyễn Huy Trinh, cộng 7 người; Trường Sơn Tây: Trần Bá Kiên, Nguyễn Đình Lương, Hoàng Bình, Dương Huy Kiều, Khuất Duy Cử, Trần Duy Trác, Nguyễn Đình Thẩm, Nguyễn Tiến Trị, Phạm Gia Tứ, Nguyễn Quốc Đống, Hạ Văn Đạt, Nguyễn Danh Quế, Phạm Quang Nguyên, Nguyễn Thiều, Nguyễn Tư Trực, Vũ Viết Trường, Lê Duy Thanh, Vũ Đình Tín, Nguyễn Duy Thanh, Ngô Cao Lãng, cộng 20 người. Trường Sơn Nam thượng: Vũ Huy Đạt, Hoàng Quốc Bảo, Dương Duy Hinh, Phạm Đình Đồ, Lê Sỹ Nguyên, Lê Đình Dư, Phạm Vũ Phác, Nguyễn Văn Hán, Lê Thừa, Lê Trọng Phú, Nguyễn Khắc Gia, Nguyễn Hiếu Đức, Nguyễn Giản, Nguyễn Chí, Nguyễn Tú, Phạm Điển, Trần Liêu, Hồ Sỹ Diệm, Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Đình Niên, cộng 20 người. Trường Hải Dương: Lê Huy Triện, Phạm Văn Huyên, Nguyễn Chiểu, Đặng Huy Dư, Vũ Trọng Đĩnh, cộng 5 người).

    Vua thấy các nha môn hỏi việc hình, tra xét kiện tụng nhiều khi liên can dắt díu, đà lụy cho dân thường, bèn sắc từ nay thẩm cứu những án nặng thì giam kẻ yếu phạm, lập án tâu lên, còn những người liên can và chứng tá thì thả cho về làm ăn.

    Lấy Khâm sai cai cơ Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh hành việc Phó trấn.

    Vệ úy vệ Ban trực là Nguyễn Văn Sự lạm thu tiền của quân, việc phát giác, bị giết.

    Quan Bắc Thành tâu nói: “Ba huyện Tiên Lữ, Phù Dung và Nam Xang trấn Sơn Nam thượng, ba huyện Thanh Miện, Vĩnh Lại và Tứ Kỳ trấn Hải Dương, tiền thóc tô thuế năm ngoái đều nộp ở Sơn Nam hạ, đường sá xa cách, rất bất tiện cho dân xin cho đổi nộp ở kho trấn sở tại”. Vua y cho.

    Chưởng cơ hành lưu thủ Bình Thuận là Võ Văn Lân chết. Văn Lân có công Vọng Các, cho 300 quan tiền.

    Lấy Quản thủ Thiệu Thiên là Phan Tiến Quý làm Lưu thủ Bình Thuận.

    Tháng 11, ở Sơn Nam hạ giặc nổi, vây phủ Thiên Trường. Tri phủ Nguyễn Lượng và cai đội Nguyễn Văn Đại đều chết trận. Quan Bắc Thành được tin báo, ngầm sai phó đội Mai Viết Hiệu nhập bọn, rồi sai phó quản thập cơ Tả quân là Ngô Văn Tham đem quân đánh dẹp. Viết Hiệu ngầm dụ bắt được bọn tướng giặc là Nguyễn Tường và đồng đảng hơn 20 người. Quan quân tiến đến Chân Định, giặc vỡ chạy, chém được hơn trăm thủ cấp và bắt được 18 tên. Việc tâu lên. Cho Viết Hiệu chức cai đội, ban cho mũ áo và 500 quan tiền, thưởng cho biền binh đi đánh 3.000 quan. Tặng Nguyễn Lượng làm Hàn lâm viện, Nguyễn Văn Đại làm Cai cơ, cho mỗi người được một người con tập ấm.

    Cai bạ Vĩnh Trấn là Hoàng Đức Ân ốm phải nghỉ việc. Lấy Thiêm sự Hình bộ là Trần Công Hòa thay.

    Sai Vệ úy Thị trung là Hoàng Công Lý kiêm quản quân Cửu dực.

    Lấy Nguyễn Văn Thanh làm Vệ úy vệ Hùng cự, Tống Phước Liêu làm Phó vệ úy.

    Cai bạ Trấn Định là Bùi Đức Mân, Ký lục là Nguyễn Tăng Địch đều về cư tang. Lấy Đốc học Gia Định là Trương Chí Lý làm Cai bạ Trấn Định, Thiêm sự Hình bộ là Ngô Đình Giới làm Ký lục Bình Định.

    Phó tướng Hữu quân Mạc Văn Tô về tập hợp lính cũ ở Gia Định được hơn 1.170 người, làm danh sách dâng lên. Sai biên thành đội ngũ, chia làm hai cơ.

    Dựng thêm kho Xích Đằng ở Sơn Nam thượng. Thưởng cho binh lính 1.300 quan tiền.

    Thóc kho Bình Định bị hao hụt nhiều, trấn thần bắt dân đền bù. Vua được tin, nói rằng: “Thóc ở kho hao là lỗi tại quan, sao lại trách đòi ở dân?”. Sai Lại bộ truyền chỉ nghiêm quở và cho xã dân nào đã trót nộp rồi sẽ được trừ vào thóc tô sang năm.

    Đắp kỳ đài ở Kinh thành. Thưởng cho lính và thợ hơn 1.000 quan tiền.

    Lấy Tham luận quân Chấn võ là Võ Văn Sỹ làm Tham hiệp Sơn Nam hạ, Tri bạ theo trấn Gia Định là Đặng Tiến Thiện làm Tham luận Kiên Giang, Thư ký là Nguyễn Văn Ngân làm Tham luận Long Xuyên.

    Người Cổ Loa (tên xã, thuộc huyện Đông Ngàn) trấn Kinh Bắc là Nguyễn Thị Trúc tự xưng là công chúa nhà Lê, làm giả ấn tín mưu lãnh tiền kho Bắc Thành, việc phát giác, đem giết.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Đức Sỹ làm Giám thành phó sứ.

    Ấm thụ cho con Trung thủy dinh Võ Di Nguy là Võ Di Thiện làm Cai đội.

    Tháng 12, dựng kho trấn Thanh Hoa. Sai trấn thần chi hơn 4.600 quan tiền để mua gỗ lim làm kho, miễn thuế thân cho hơn 150 người lính kho.

    Người Sơn Vi trấn Sơn Tây là Ma Văn Tư cùng với người Phú Yên là Nguyễn Bảo làm giả ấn tín, tự xưng là quan đi bắt giặc, lẻn tới mỏ đồng ở châu Mai Sơn trấn Hưng Hóa giết cướp hộ khai mỏ; bắt được đem giết.

    Đắp mười đoạn đê mới ở Bắc Thành. (ở Sơn Nam thượng, một đoạn đê dài hơn 700 trượng ở xã Nga Khê huyện Nam Xang, một đoạn 49 trượng ở xã Xâm Thị huyện Thanh Trì, một đoạn hơn 100 trượng ở xã Văn La huyện Chương Đức, một đoạn hơn 140 trượng ở xã Hồi Trung huyện Kim Bảng, một đoạn hơn 230 trượng ở xã Lạc Trường, một đoạn 33 trượng từ xã Mễ Trường huyện Thanh Liêm đến xã Châu Cầu; ở Sơn Nam hạ, một đoạn hơn 70 trượng ở xã Đường Xâm huyện Chân Định, một đoạn hơn 300 trượng ở xã Sơ Lâm huyện Thượng Nguyên; ở Kinh Bắc, một đoạn hơn 86 trượng ở xã Phụng Công huyện Văn Giang). Tính tiền hết hơn 84.000 quan.

    Lấy Nguyễn Văn Chính làm Phó vệ úy vệ Trung bảo nhị.

    Dời dinh lỵ Quảng Nam đến xã Thanh Chiêm (thuộc huyện Diên Phước). Dinh lỵ Quảng Nam cũ (ở xã Hội An) chật hẹp, vua sai đình thần tìm nơi địa thế cao ráo sáng sủa, vẽ đồ dâng lên. Đình thần tâu xin đặt ở xã Thanh Chiêm. Bèn hạ lệnh dời dựng ở đấy.

    Từ phi họ Nguyễn mất; tặng Ý Thận Huy Gia Từ phi, táng ở Thiên Thai, dựng từ đường ở Kim Long. Phi là chị hoàng thái hậu, trước hầu Hiếu khang hoàng đế, sinh được hai con trai (Tôn Thất Hạo, Tôn Thất Mân) hai con gái (Ngọc Du, Ngọc Toàn). Gặp loạn năm Giáp ngọ, ẩn lánh ở dân gian. Khi ở Gia Định, sai người rước đến. Tới nay phi ốm, gặp lúc hoàng thái hậu se mình, vua chưa dám tâu. Kịp phi mất hoàng thái hậu mới hay tin, giận bỏ cơm. Vua thân đến thỉnh an. Hoàng thái hậu nói: “Thân già này có một người chị, khi ốm không được gặp mặt, vì thế ăn không ngon, ngủ không yên”. Vua quỳ ở dưới thềm yên ủi khuyên giải hồi lâu, hoàng thái hậu mới lại ăn cơm. Vua bèn trở về.

    Sai phó đội Nội hầu nhất là Nguyễn Hữu Cổ kiêm quản đội Nội hầu nhị.

    Bọn ác man Quảng Ngãi lại tụ họp hơn 300 người, đốt bảo Tượng Đầu. Sai Lưu thủ Nguyễn Văn Toản cùng Đô thống chế lãnh Tả quân phó tướng Phan Tiến Hoàng đem quân đi dẹp.

    Hộ tịch Bắc Thành làm xong. Có 23 phủ, 100 huyện, 848 tổng, 6.280 xã, thôn, phường, vạn, trại, sách. Số đinh thực nạp là 193.389 người. Số đinh trong sổ thường hành của triều Lê là 268.990 người, đến nay làm lại hộ tịch, dân nhiều người gian xảo, khai số không thực. Sổ dâng lên. Vua thấy số đinh kém đi không bằng lòng, nhưng nghĩ nước mới bình định, chính trị nên rộng rãi, nên tạm để đó.

    Sai Lưu trấn thần Gia Định chia cấp sai thuyền cho bốn dinh, mỗi dinh 10 chiếc.

    Ngày Giáp thân, vua yết lăng Hoàng khảo.

    Ngày Ất dậu, tế Chạp.

    Phát trang phục cho nhạc công. (Nhạc công hát thờ ở các miếu, mỗi năm cứ sau ngày tế Chạp thì may phát cho 40 cái áo và 20 cái xiêm).

    Lễ bộ dâng nghi chú tiết Trừ tịch và tiết Nguyên đán. (Lễ trừ tịch, vua đến nhà Thái miếu làm lễ, các quan văn võ từ ngũ phẩm trở lên bồi tế. Lễ Nguyên đán và lễ Mồng ba, cũng thế. ở miếu Triệu tổ và miếu Hoàng khảo, đều sai quan làm lễ [Trừ tịch]. Đêm ấy các quan văn võ từ tứ phẩm trở lên túc trực ở hai bên công thự tả hữu; các lễ quan chia nhau túc trực ở các miếu. Nhạc công hát thờ. Ngày Nguyên đán, vua đến Thái miếu và miếu Hoàng khảo làm lễ. Miếu Triệu tổ thì sai quan làm lễ. Lễ xong, vua đem các quan đến cung Trường Thọ làm lễ chúc mừng. Lễ xong, vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ chầu mừng. Lễ xong, các quan xin đến cung Khôn Đức lạy mừng. Ngày mồng 2 Tết, ở các miếu đều sai các quan đến làm lễ. Ngày mồng 3, vua đến nhà Thái miếu làm lễ. Miếu Triệu tổ và miếu Hoàng khảo thì sai các quan làm lễ). Sai chép làm lệ.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXIV

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Mậu thìn, năm Gia Long thứ 7 [1808] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 13), mùa xuân, tháng giêng, thưởng bạc lạng cho các quan viên túc trực: các quan văn võ từ tứ phẩm trở lên, đêm trừ tịch túc trực ở hai bên công thự tả hữu. Vua sai bọn Chưởng Thần võ quân Phạm Văn Nhân, Đô thống chế Thị trung Nguyễn Văn Khiêm, Thượng bảo khanh Trần Đình Trưng lập danh sách dâng lên. Ngự phê ban thưởng từ trên nhất phẩm đến tòng tứ phẩm, theo thứ bậc khác nhau.

    Hạ lệnh cho hoàng tử hoàng tôn tuổi đã lớn theo ban vào chầu mừng.

    Ngày Ất tỵ, tế xuân hưởng.

    Gọi 5.500 người thuộc Ngũ quân và Tượng quân ở Bắc Thành và 1.000 người quân Thần sách ở Thanh Nghệ về Kinh.

    Vua thấy địa thế Gia Định rộng lớn, sai đình thần bàn kỹ việc kinh lý để giữ gìn bờ cõi cho vững mạnh. Bèn đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành, dinh Phiên Trấn làm trấn Phiên An, dinh Trấn Biên làm trấn Biên Hòa, dinh Vĩnh Trấn làm trấn Vĩnh Thanh, dinh Trấn Định làm trấn Định Tường; thuộc trấn Phiên An thì huyện Tân Bình làm phủ Tân Bình, tổng Bình Dương làm huyện Bình Dương, tổng Tân Long làm huyện Tân Long, tổng Phúc Lộc làm huyện Phúc Lộc, tổng Bình Thuận làm huyện Thuận An; thuộc trấn Biên Hòa thì huyện Phúc Long làm phủ Phúc Long, tổng Tân Chính làm huyện Phúc Chính, tổng Bình An làm huyện Bình An, tổng Long Thành làm huyện Long Thành, tổng Phúc An làm huyện Phúc An; thuộc trấn Vĩnh Thanh thì châu Định Viễn làm phủ Định Viễn, tổng Bình An làm huyện Vĩnh An, tổng Bình Dương làm huyện Vĩnh Bình, tổng Tân An làm huyện Tân An; thuộc trấn Vĩnh Tường thì huyện Kiến An làm phủ Kiến An, tổng Kiến Đăng làm huyện Kiến Đăng, tổng Kiến Hưng làm huyện Kiến Hưng, tổng Kiến Hòa làm huyện Kiến Hòa, hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang cũng đặt hai huyện Long Xuyên và Kiên Giang, mỗi huyện đều đặt hai tổng.

    Định ngạch thuế về tiền dung, tiền đầu quan, tiền điệu và gạo cước cho năm nội trấn và phủ Hoài Đức thuộc Bắc Thành. (Dân tráng hạng mỗi năm nộp tiền dung 1 quan 1 tiền, tiền đầu quan 1 tiền, tiền điệu 6 tiền, gạo cước 2 bát; hạng dân đinh nộp một nửa; chức sắc thì quan viên từ con quan tam phẩm các bộ viện ty trở lên, thủ hợp tại gia, nhiêu thân, nhiêu ấm, quan viên triều Lê cũ từ lục phẩm trở lên, tiến sĩ, tạo sĩ, hương cống triều Lê cũ cùng các loại binh lính, cung giám, phu trạm đều liệt vào hạng ngoại tiêu sai, được miễn phú dịch; quan viên tử con quan từ tứ phẩm đến thất phẩm, quan viên tử con quan triều Lê cũ từ tam phẩm trở lên, thì thuế xem như hạng dân đinh. Ngoài ra các hạng biệt tính(1. Đã chua ở trên.1) thì thuế xem như tráng hạng).

    Thuyền bị nạn của sai dịch nước Thanh là bọn Diệp Phương, Hoàng Phước đậu ở cửa biển Sa Kỳ. Dinh Thần Quảng Ngãi đem việc tâu lên. Vua sai cấp cho bạc lụa quần áo rồi đưa theo đường bộ về nước. Chủ thuyền là bọn Trần Hoan 8 người cũng cấp cho lương ăn cho đáp thuyền buôn mà về.

    Lấy Thái Văn Minh làm Hiệp trấn Hưng Hóa.

    Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Nguyễn Vĩnh Thị chết. Vĩnh Thị có công Vọng Các, cho 2 cây gấm Tống, 200 quan tiền và 7 người mộ phu.

    Triệu Án trấn Quy Nhơn là Nguyễn Hoàng Đức và Đốc trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Chương về Kinh.

    Kén dân ở hai xã Phù Bài và Thủy Ba làm lính. Dân Phù Bài hơn 500 người, dân Thủy Ba hơn 90 người, xưa nay vẫn lệ thuộc Nhà đồ để làm việc, thường sai đi bắt hổ. Đến nay mới kén bổ làm lính, dân Phù Bài hơn 300 người, dân Thủy Ba 50 người, biên thành bảy đội. Phù Bài trước có thuế sắt, nay miễn.

    Phan Tiến Hoàng tiến đánh bọn ác man, xin hạ lệnh cho dân ở ven núi sắm đồ binh khí, phụ lực với đồn bảo của quân. Vua y cho. Lại sai Lê Văn Duyệt đem binh đến đốc tiễu. Dụ rằng: “Bọn ác man quấy rối, không thể không đánh, nhưng đường lối hiểm dốc chưa dễ phá ngay được. Ngươi nên tùy liệu xử trí, để phục lòng chúng; không đánh mà khuất phục được người lại là thượng sách đó”. Khi Văn Duyệt đến nơi mật sai Vệ úy Lê Văn Từ và Phó vệ úy Lê Kim Nhượng giả làm dư đảng Tây Sơn, lẻn vào sách Man ở với chúng, nhân dò hỏi tình hình. Người Man nói với Từ rằng họ không có ý làm phản, nhưng khổ vì Phó quản cơ Lê Quốc Huy hà khắc sách nhiễu mãi, nên phải họp nhau mưu phản thôi. Từ về báo. Văn Duyệt liền bắt Quốc Huy, xử theo quân pháp, tâu xin chém. Từ đó dân Man về hàng nhiều.

    Đặt chánh cai quản ty Giáo phường ở Thanh Nghệ, mỗi ty một người, để cai quản ca công, mỗi năm hai kỳ về Kinh để đàn hát trong kỳ lễ miếu hưởng (mỗi người được cấp tiền 2 quan gạo 2 phương).

    Nguyễn Văn Nhân ốm, ban cho nhục quế, trầm hương và long diên hương.

    Đặt thêm miếu phu ở miếu nhà Lê. Lê Duy Hoán tâu nói: “Ba thôn xã Bố Vệ thì Kiều Đại là một, thế mà trước đây chuẩn định 100 miếu phu toàn lấy ở hai thôn Mật Sơn và Tạnh Xá, thôn Kiều Đại không dự. Nay xin cho 48 người dân thôn ấy cũng sung miếu phu, miễn trừ dao dịch, để đều được ơn”. Vua y cho.

    Tướng giặc ở Kinh Bắc là Hoàng Hữu Nhân họp đảng hơn bảy trăm người mưu làm loạn. Trấn thần chia quân đi bắt. Phủ lại Lạng Giang là Hoàng Thúc Đạt đem quân đi trước dẫn đường bắt được Hữu Nhân. Quan quân theo sau, chém được hơn mười thủ cấp, bắt được giặc mười mấy người, còn thì vỡ chạy cả. Bắt được súng ống khí giới rất nhiều. Việc tâu lên. Thưởng cho biền binh 300 quan tiền, cho Thúc Đạt chức đề lại và thưởng 100 quan tiền.

    Cải bổ quản phủ các phủ ở Bắc Thành. Quan Bắc Thành tâu rằng: “Trước đây chức quản phủ ở các phủ, đều lấy quản cơ ở trấn sung làm, quân lính đều làm binh thổ trước cả, hoặc có kẻ cùng bọn thổ phỉ thông đồng nên việc bắt giặc bất lực. Xin đổi chỗ mà thay bổ, cho mang theo cả số quân họ vẫn cai quản”. Vua y lời tâu.

    Tướng giặc Sơn Nam hạ là Vũ Đình Khanh họp đảng ở khoảng Thiên Trường và Nghĩa Hưng. Quan Bắc Thành được tin báo, sai ngay chánh quản thập cơ là Ngô Văn Ngữ đóng giữ trấn thành mà sai nhiếp trấn là Ngô Văn Tham cùng chánh thống Hậu đồn là Lê Công Lý đem quân chia đường tiến đánh. Lại sai chánh thống Tiền đồn là Nguyễn Văn Hưng, phó thống là Nguyễn Xuân quản xuất binh thuyền để tiếp ứng. Tham đến Nghĩa Hưng, giao chiến với giặc chém được mấy đầu, giặc hơi lùi. Ngày hôm sau, giặc lại tràn đến trấn lỵ. Tham dẫn quân về, hết sức đánh giữ, quân giặc vỡ chạy. Quân của Lý đóng ở Thiên Trường bị giặc vây ba mặt. Lý chia quân xông đánh từ giờ dần đến giờ thân; giặc đánh rất dữ. Quản phủ Đặng Văn Trinh, Phó vệ úy Trương Công Lãm đều bị chết, binh sĩ tử trận hơn vài mươi người. Lý thu quân vào phủ thì gặp quân của Hưng và Xuân tiến đến, giặc lùi về sông Lác. Quan quân đuổi theo đến Đại An, bắt được Đình Thanh, chém được một trăm đầu. Giặc lại họp thuyền đậu ở ngã ba sông huyện Giao Thủy. Tham và Xuân đem quân thủy bộ tới đánh. Quân giặc nhảy xuống nước chết vô kể. Bắt được cờ ấn, súng ống khí giới và hơn ba chục chiếc thuyền. Bọn thổ hào Phạm Đức Hữu cũng đem dân đinh đón bắt, chém được một đầu giặc ở sông Văn Lang (tên xã, thuộc huyện Thư Trì). Việc tâu lên. Cho Đức Hữu làm phó tổng, thưởng tiền 500 quan.

    Ở Yên Quảng giặc nổi. Án thủ Vạn Ninh là Phan Phương Khách đánh đuổi, bắt được tướng và đồ đảng giặc hơn hai chục người. Cho Phương Khách làm Tuyên úy sứ và thưởng cho 300 quan tiền.

    Tha tô thuế năm nay cho [huyện] Tống Sơn.

    Tháng 2, làm chùa Hàm Long.

    Định lệ lễ dâng bạc. Hằng năm, trong các lễ Thánh thọ, Vạn thọ, Thiên thu, Thiên xuân, Nguyên đán, Đoan dương, ngày kỵ tháng 5 tháng 9, lệ định đồng niên dâng lễ bằng bạc: trên hàng nhất phẩm, mỗi người 5 lạng, chánh nhất phẩm 4 lạng, tòng nhất phẩm 3 lạng 5 tiền, chánh nhị phẩm 3 lạng, tòng nhị phẩm 2 lạng 5 tiền, chánh tam phẩm 2 lạng, tòng tam phẩm 1 lạng 5 tiền, chánh tứ phẩm 1 lạng, tòng tứ phẩm 9 tiền 5 phân, chánh ngũ phẩm 8 tiền 5 phân, tòng ngũ phẩm 8 tiền, chánh lục phẩm 7 tiền, tòng lục phẩm 6 tiền 5 phân, chánh thất phẩm 5 tiền 5 phân, tòng thất phẩm 5 tiền, chánh bát phẩm 4 tiền, tòng bát phẩm 3 tiền 5 phân, chánh cửu phẩm 2 tiền 5 phân, tòng cửu phẩm 2 tiền, vị nhập lưu 1 tiền 5 phân, tôn nhân phủ, hoàng tử, hoàng nữ, hoàng tôn 50 lạng, tả hữu cung tần 40 lạng, công tính 5 lạng, các chi công tính ở Bắc Thành 5 lạng, Tống Sơn 4 lạng, con cháu dòng dõi công thần 4 lạng, họ Lê 10 lạng, Hà Tiên 10 lạng, Thuận Thành 15 lạng. Lấy lễ Chính đán năm Kỷ tỵ bắt đầu. Từ chánh tứ phẩm trở xuống đếu vị nhập lưu, trong khoảng ba năm Kỷ tỵ, Canh ngọ, Tân mùi giảm cho 4 phần 10; cai đội, phó đội chưa coi quân và đội trưởng đều miễn hết.

    Ở Khoái Châu trấn Sơn Nam thượng giặc nổi. Hiệp trấn Nguyễn Khắc Khoan đương ở kho Xích Đằng lập tức cùng quản phủ Lê Đức Kế đem quân úp bắt. Đến Điềm Xá thì giặc bỗng nổi dậy, Khắc Khoan và Đức Kế cố sức đánh đều chết cả. Thành thần sai Chánh quản thập cơ Tả quân là Nguyễn Văn Xuân đem binh và voi tiến đánh. Giặc bỏ trốn ban đêm. Xuân đuổi đến Vương Xá, bắt chém đồ đảng rất nhiều. (Điềm Xá, Vương Xá đều là tên xã, thuộc huyện Tiên Lữ).

    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Quang Huyên làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng.

    Dân Man bảy sách đạo Cam Lộ đến cống.

    Sai Vệ úy vệ Ban trực hữu là Mai Gia Cương đem quân bản bộ đi thú Thanh Hoa.

    Triệu Hiệp trấn Thanh Hoa là Lê Bá Phẩm về Kinh; lấy Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hoài Quỳnh thay.

    Sai hai trấn Thanh Hoa và Nghệ An hằng ngày ghi công việc của trấn, mỗi tháng tâu lên một lần.

    Quan Bắc Thành tâu rằng: “Xưa nay việc thu thóc tô của dân, khi thu thóc cứ lấy một thăng thóc nổi 2 thược làm mức. Năm nay thóc không được mùa, thử không đúng phép, xin cho cứ một thăng thóc nổi 1 Phần 20 thì tạm cho thu nhận, để tiện cho dân”. Vua y cho. Sau Nghệ An cũng tâu xin như thế. Vua nói đó không phải là lệ thường, không cho. Bèn sai xay thành gạo chở vào Kinh.

    Vua ngự ở điện Càn Nguyên xem các quân thao diễn.

    Định số nhân viên cho Tả Hữu thừa ty, Chiêm hậu ty, Lương y ty của các thành dinh trấn cùng thuộc lại ty các đạo.

    (Tả thừa ty có ba phòng Lại, Hộ, Lễ; Hữu thừa ty có ba phòng Binh, Hình, Công, cộng 6 phòng: Lại phòng coi phòng việc văn từ thư trát; Hộ phòng giữ việc sổ sách, tiền lương, thuế lệ, thu phát, vận tải; Lễ phòng giữ việc tế lễ, tán xướng, nghi chế, tân khách, xem thời tiết, ghi chép mưa gió hàng ngày, duy ở Bắc Thành thì việc ghi chép mưa gió chuyên do ty Chiêm hậu; Binh phòng giữ việc sổ sách, kiểm điểm binh số, đốc thúc công việc, kén chọn cấp phát binh lính, kiểm xét bến đò cửa ải, chạy trạm dịch; Hình phòng giữ việc kiện tụng tra khám ; Công phòng giữ việc gỗ lạt, thợ thuyền, xây dựng cầu cống, đường sá, sông ngòi đê điều, Công phòng Bắc Thành và Gia Định lại theo làm công việc của Nhà đồ ở thành). Bắc Thành, Tả thừa ty thì câu kê, cai hợp, đều 5 người, thủ hợp 10 người, Hữu thừa ty thì câu kê, cai hợp đều 4 người, thủ hợp 8 người, số ty lại của hai thừa ty đều 200 người; Chiêm hậu ty thì câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 2 người, ty lại 40 người; Lương y ty thì huấn khoa 2 người, y sinh 30 người. Gia Định, Tả Hữu thừa ty, mỗi ty đều câu kê 1 người, cai hợp 2 người, thủ hợp 6 người, ty lại 60 người; Lương y ty thì huấn khoa 1 người, y sinh 15 người. Hai thừa ty của Quảng Nam, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hoa, Sơn Nam hạ, số câu kê, cai hợp, thủ hợp, ty lại và huấn khoa ty Lương y cũng như ở Gia Định, duy số y sinh ở ty Lương y thì giảm 1 phần 3; hai thừa ty ở Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nghĩa, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Sơn Nam thượng, số câu kê, cai hợp, thủ hợp, huấn khoa ty Lương y cũng như Quảng Nam, Bình Định, Nghệ An, Thanh Hoa, Sơn Nam hạ, duy số ty lại ở hai thừa ty thì giảm 1 phần 6, hai thừa ty của Yên Quảng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hưng Hóa, số câu kê cũng như các dinh trấn khác, số cai hợp, thủ hợp ty lại và y sinh Lương y thì bằng một nửa các dinh trấn, còn huấn khoa ty Lương y thì bằng một nửa các dinh trấn, huấn khoa ty Lương y thì bớt đi; đạo Thanh Bình đặt ty thuộc lại, câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 2 người, ty lại 30 người, nhân số ty Lương y cũng như Yên Quảng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hưng Hóa; hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang, đặt ty thuộc lại, thủ hợp đều 1 người, ty lại đều 10 người.

    Lưu thủ Quảng Bình là Lưu Phước Tường có bệnh, sai Phó đô thống chế Hoàng Viết Toản thay làm việc dinh.

    Lấy Vệ úy vệ Nghiêm dũng là Tôn Thất Bính làm Vệ úy vệ Hữu nhất thị trung, Vệ úy vệ Dương võ là Nguyễn Văn Soạn làm Vệ úy vệ Long võ.

    Lấy Văn Nguyên làm Vệ úy vệ Trung nhất Thị trung, Trần Văn Cường, làm Phó vệ úy, Võ Công Thìn làm Vệ úy vệ Ban trực tiền, Nguyễn Đình Lân làm Phó vệ úy.

    Đảng giặc ở Sơn Nam hạ lại họp quân vây phủ Kiến Xương. Bọn Ngô Văn Tham, Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Xuân đem quân thủy bộ đánh liên tiếp, cả phá giặc, bèn giải được vây cho phủ Kiến Xương. Đảng giặc chạy tản đi các ngả. Thủ ngự Trà Lý là Đặng Đình Hữu, thủ ngự Ba Lạt là Vũ Đức Cát, thổ hào Thư Trì là Đỗ Trọng Toán, Lương Bá Uyên đều bắt được tướng và quân giặc đem nộp. Vua cho Đình Hữu, Đức Cát làm Cai đội, Trọng Toán, Bá Uyên làm Cai tổng ; thưởng hơn 400 quan tiền.

    Ngày Giáp thân, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Chia dân đội Hùng diêm ở Bình Định làm mười đội. Dân số đội Hùng diêm ở 12 ấp thuộc 2 huyện Phù Ly, Bồng Sơn của Bình Định là hơn 1.200 người. Vua sai Lê Chất chia làm 10 đội, mỗi đội 100 người trở lên. Lấy bọn cai đội tòng quân là Đặng Văn Ất 10 người làm cai đội, bọn đội dân là Đặng Văn Quyến 10 người làm chánh đội trưởng.

    Chuẩn định chánh phó vệ úy, tham quân, quản cơ, cai cơ, cai đội, tham luận ở các vệ cơ thuộc Tượng quân, mà do Tượng dinh cũ của quân Thần sách bổ sung thì trật ngang với quân Thần sách; từ nay về sau thuyên bổ thì cũng như các quân khác.

    Nước Diến Điện đánh thành Xoang Mai của nước Xiêm La, tướng Xiêm La là Phi Nhã Mai đầu hàng Diến Điện. Người Xiêm phát quân đi đánh. Quân đến Lục Khôn và Xa Gia (đều tên đất nước Xiêm), đều bị quân Diến Điện đánh bại. Tin ấy báo lên, vua sai trấn thủ Hà Tiên là Mạc Tử Thiêm mang thư của Lễ bộ gửi cho Phi Nhã Phạt Lăng, mượn cớ để dò xem tình hình động tĩnh. Tử Thiêm sợ không dám đi. Lưu trấn thần Gia Định tâu lên. Vua tha tội, lại cho 3.000 đồng bạc phiên, rồi dụ rằng: “Ngươi ở lâu nơi biên trấn hiểu rõ tính tình người Man, việc này ngươi không đi thì không xong. Người Xiêm tất không hại ngươi đâu, đừng sợ!” Tử Thiêm bèn vâng mệnh đi. Lấy Mạc Công Du quyền lãnh việc trấn.

    Dựng Văn miếu.

    Vua cho rằng miếu cũ ở Long Đồ quy chế nhỏ hẹp, mới chọn đất ở An Ninh mà dời dựng. Sai hữu ty tính gỗ, gọi thợ, làm theo quy chế cao lớn, lấy ngày ất mùi tháng này khởi công. Bọn Tham tri Công bộ là Nguyễn Khắc Thiệu và Nguyễn Đức Huyên, Vệ úy vệ Long võ là Nguyễn Văn Soạn trông coi công việc. Quy chế của miếu thì chính đường, tiền đường, tả hữu tòng tự đường, đều một cái; đằng trước đặt cửa Đại Thành, bên tả là cửa Kim Thanh, bên hữu là cửa Ngọc Chấn; lại ở ngoài cửa Đại Thành đặt hai nhà, bên tả là nhà Sùng Văn (tức nhà Hữu văn ngày nay) bên hữu là nhà Dụy Lễ; phía tả miếu đặt nhà Tu Kính, phía sau miếu thì tả có nhà Thần Trù(1. Nhà bếp 1), hữu có nhà Thần Khố(2. Nhà kho.2); chu vi xây tường gạch, đặt ba cửa phía trước là cửa Văn miếu, tả là cửa Đạt Thành, hữu là cửa Quan Đức; phía ngoài tường trồng thông khắp cả.