067. Trang [0725-0737] - @ nhani78 (Done)

3/12/15
067. Trang [0725-0737] - @ nhani78 (Done)
  • :rose:
    Mồ mả của dân bị lấn vào thì cho tiền dời đi nơi khác.

    Tháng 3, ngày Đinh mùi, sửa sang các tôn lăng. Sai Quốc thúc Tôn Thất Thăng, Chưởng quân Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên, Lê Chất, Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm, Trần Văn Năng chia nhau trông coi công việc. Vua thường đến xem. Thưởng cho các quân 8.000 quan tiền.

    Lấy Ngô Văn Tham làm trấn thủ Sơn Nam hạ.

    Đốc học Nghệ An là Nguyễn Danh Dương ốm phải nghỉ việc; lại sai Bùi Dương Lịch thay.

    Lấy Vũ Văn Châu làm Vệ úy vệ Cường uy quân Thần sách, Hồ Văn Thành làm Vệ úy vệ Ban trực hậu, Lê Văn Quân làm Vệ úy vệ Phấn võ, Nguyễn Văn Long làm Phó vệ úy vệ Hùng cự nhị Tượng quân.

    Hơn 80 chiếc thuyền giặc Tề Ngôi bị người Thanh đuổi bắt, trốn chạy đến ngoài biển Yên Quảng, Thành thần sai chánh thống Hữu đồn Tiền quân là Bùi Văn Thái, Phó thống Tả đồn là Nguyễn Văn Trị đem binh thuyền tiến đánh, chánh quản thập cơ quân Thần võ là Trần Văn Thìn đem quân bộ đến Hải Dương tiếp ứng, Chưởng dinh Trương Tiến Bửu làm Điều bát nhung vụ. Bọn giặc xâm phạm sông Bạch Đằng, áp đánh trấn lỵ Yên Quảng. Trấn thủ Lê Văn Vịnh cùng với Nguyễn Văn Trị đánh lui được giặc, chém được hơn mười đầu giặc và bắt được già trẻ hơn sáu chục người. Giặc bèn đem thuyền chia đậu ở các hải phận Hải Dương, Thanh Hoa và Nghệ An. Thành thần tâu lên. Vua lo thổ phỉ liên lạc với hải phỉ, bèn sai Tống Phước Lương quản lãnh binh thuyền tiến đánh, lại sai Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị theo làm việc giấy tờ ở trong quân.

    Kinh kỳ có mưa đá.

    Thuyền trưởng Hồng Mao là Tô Lô Xuy La Môn đáp chở hơn năm trăm khách buôn người Thanh, bị nạn bão đến đậu ở cửa Đà Nẵng. Dinh thần Quảng Nam tâu lên. Sai cấp tiền gạo cho khách buôn bị nạn rồi cho đưa theo đường bộ trở về nước Thanh. Lại thấy Tô Lô Xuy La Môn cứu giúp nạn nhân, thưởng cho 300 phương gạo rồi bảo đi.

    Tham tri Hộ bộ Nguyễn Thành Chẩn chết. Cho 2 cây gấm Tống, truy cấp cho 3 tháng lương.


    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXV

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Mậu thìn, Gia Long năm thứ 7 [1808], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Dâng tên hiệu các lăng của các vua các hậu đời trước:

    Lăng Triệu tổ Tĩnh hoàng đế [Nguyễn Kim] gọi là lăng Trường Nguyên (truyền văn rằng Tĩnh hoàng hậu hợp táng ở đó); lăng Thái tổ Gia dụ hoàng đế [Nguyễn Hoàng], gọi là lăng Trường Cơ; lăng Gia dụ hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Cơ; lăng Hy tông Hiếu văn hoàng đế [Nguyễn Phúc Nguyên] gọi là lăng Trường Diên; lăng Hiếu văn hoàng hậu gọi lăng Vĩnh Diên; lăng Thần tông Hiếu chiêu hoàng đế [Nguyễn Phúc Lan] gọi là lăng Trường Diên; lăng Hiếu chiêu hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Diên; lăng Thần tông Hiếu triết hoàng đế [Nguyễn Phúc Tần] gọi là lăng Trường Hưng; lăng Hiếu triết hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Hưng, cũng là lăng Quang Hưng; lăng Anh tông Hiếu nghĩa hoàng đế [Nguyễn Phúc Trăn] gọi là lăng Trường Mậu; lăng Hiếu nghĩa hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Mậu; lăng Hiển tông Hiếu minh hoàng đế [Nguyễn Phúc Chu] gọi là lăng Trường Thanh; lăng Hiếu minh hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Thanh; lăng Túc tông Hiếu ninh hoàng đế [Nguyễn Phúc Trù] gọi là lăng Trường Phong; lăng Hiếu ninh hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Phong; lăng Thế tông Hiếu võ hoàng đế [Nguyễn Phúc Khoát] gọi là lăng Trường Thái; lăng Hiếu võ hoàng hậu gọi là lăng Vĩnh Thái; lăng Duệ tông Hiếu định hoàng đế [Nguyễn Phúc Thuần] gọi là lăng Trường Thiệu; lăng Hiếu khang hoàng đế [Nguyễn Phúc Noãn] gọi là lăng Cơ thánh.

    Vua tôn chuộng đạo nho, rất chú ý việc lễ nhạc, từng hỏi Lễ bộ rằng : “Thiên tử thân tế Văn miếu, sau ba tuần hiến rượu có tiết “ẩm phước
    thụ tộ”(1. Uống rượu và ăn thịt để tỏ ra được thần ban phúc. 1) thì ở trong sách Lễ có không?” Nguyễn Gia Cát thưa rằng: “Không có. Thần xem Hội điển nhà Minh nhà Thanh thì tiết này là chỉ đặt ra cho quan đứng để thay vua mà thôi”. Vua khen phải. Nhân dụ bầy tôi rằng: “Trong Văn miếu trước có tượng, hiệu là Văn Tuyên vương. Trẫm nghĩ rằng tước vương tuy trọng, nhưng không hợp nghĩa tôn thầy, tượng tuy cổ thật, song gần như là khinh nhờn. Đó là vì khi bắt đầu gây dựng còn noi theo chế độ các đời trước, chưa rỗi chỉnh đốn lại. Nay bàn lễ xét văn là trách nhiệm ở trẫm, bọn khanh nên hiểu ý trẫm, tâu bày việc đó cho trẫm nghe”. Bầy tôi xin theo chế độ nhà Minh, đổi làm bài vị, xưng là Chí thánh tiên sư Khổng tử cho hợp lễ ý. Vua cho là phải.

    Sai Lễ bộ bàn định quy thức Văn miếu ở các thành dinh trấn. (Quy chế miếu thì chính đường ba gian bốn chái, tiền đường năm gian hai chái, phía hữu dựng đền Khải thánh(2. Miếu thờ cha mẹ sinh ra Khổng tử.2) ba gian hai chái). Phàm nhà cửa, biển ngạch, bài vị, đồ thờ, cho đến nghi tiết tế tự, đều chép làm giáp lệnh để ban hành.

    Bọn giặc ở Sơn Nam thượng vây phủ ứng Thiên. Thành thần được tin báo, sai án phủ Hoài Đức là Nguyễn Văn Xuyến, Vệ úy vệ Giản võ là Nguyễn Văn Thiện đem quân đánh bắt. Giặc chạy sang Thượng Phúc. Quản thủ Thường Tín là Vũ Văn Thân đón đánh phá được. Được vài ngày giặc lại vây phủ Khoái Châu, quân Cai vệ đội Tiền bảo nhị là Nguyễn Văn Trượng tiến họp với quân của Xuyến. Trượng gặp giặc ở Phù Dung, tung quân đánh dữ, chém được vài đầu giặc. Quân giặc sợ tan chạy. Quan quân thừa thắng đuổi đánh, giải được vây cho phủ Khoái Châu. Bọn Xuyến và Trượng bèn đem quân về.

    Giảm bớt tô thuế năm nay cho các thành dinh trấn.

    Chiếu nói: “Thương dân trọng nông là việc làm chính trị đầu tiên. Năm nay thóc tô các địa phương đều giảm cho 3 phần 10. Duy bốn dinh Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình là dân ở giáp Kinh kỳ, việc sai dịch hơi nặng, thì thuế thân cũng cho giảm bớt như thế.

    Triệu Lê Văn Duyệt về.

    Vua thấy bọn giặc ở Bắc Thành phiến động, muốn cử đại binh đi đánh dẹp, nên gọi Duyệt về. Duyệt cho rằng giặc Man mới bình, hãy lưu lại chừng một tháng để chia đặt đồn bảo, làm kế phòng ngự. Trước sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Giám đem việc vào tâu. Rồi Duyệt đem quân về, lưu Phan Tiến Hoàng đóng giữ.

    Triệu Phó trấn Thanh Hoa là Nguyễn Đức Thành và Lưu thủ Bình Hòa là Nguyễn Đắc về Kinh. Lấy Nguyễn Văn Trí làm Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách, đem quân năm dinh và bốn đội Thắng uy đi thú Thanh Hoa, Quản cơ cơ Hòa thắng là Nguyễn Văn Quế làm Lưu thủ Bình Hòa.

    Thổ tù Sơn Âm ở Thanh Bình là Quách Tất Thúc làm phản, họp đảng hơn 3 nghìn người vây đồn Gián Khẩu. Quản đạo Lương Văn Vân chạy báo cho Thanh Hoa. Đốc trấn Tôn Thất Chương sai Vệ úy Ban trực là Mai Gia Cương đem 300 quân đóng giữ Thanh Bình và sai Văn Vân đem quân đi đánh dẹp. Bọn giặc lui giữ Yên Trị, chia làm ba đạo vây phủ Thiên Quan. Quản phủ Đào Văn Thành chống giữ để đợi viện binh. Tôn Thất Chương lại sai Vệ úy Cung võ là Lê Văn Sách, Phó vệ úy Hổ uy là Phạm Văn Xuân đem binh đến họp. Văn Vân tự đem binh của đạo tiến lên. Văn Thành thấy có viện binh đến, xuất binh giáp chiến, chém được hơn hai chục đầu giặc. Giặc thua to, bỏ cả khí giới, tranh nhau sang sông, chạy đến Yên Trị, dựa thế núi cố thủ. Quan quân đánh không được. Việc báo lên. Sai Chưởng hậu quân Lê Chất quản lãnh đại binh đi đánh. Thị trung học sĩ Lý Gia Du làm Tham tán quân vụ, Phó tướng Trần Quang Thái đem 50 chiếc binh thuyền đi theo. Lại sai Trấn thủ Nghệ An Trần Công Lại theo Chất đi đánh giặc và sai Quyền thủ Quảng Bình là Hoàng Viết Toản thay lãnh việc trấn Nghệ An, Phó thống Hậu đồn tả quân là Lê Văn Luân Quyền thủ Quảng Bình. (Sơn Âm, Yên Trị, đều là tên xã, thuộc huyện Phụng Hóa).

    Cấp lương hàng ngày cho phu trạm ở Thanh Nghệ. Vua cho là ở Thanh Bình hiện có phiến loạn, phu trạm chạy giấy khó nhọc, nên đặc biệt
    cấp lương.

    Miễn dao dịch cho dân bảy phường ấp dinh Quảng Bình (4 ấp Tráng Tiệp, Hữu Tùng, Tả Tiệp, Tả Thắng; 3 phường Thuận Trạch, Chính An, Hữu Cai). Dân bảy phường này tổ tiên đều là người Thanh Nghệ, buổi quốc sơ dựng làm cơ đội thuyền, cho lệ vào đạo Lưu Đồn, chia giữ các đường hiểm yếu ở Trường Sa và Linh Giang (Buổi quốc sơ gọi người Thanh Nghệ là người Kinh, là người bản xứ). Những người già yếu tàn tật thải ra đều cho miễn lao dịch. Mùa hạ năm Tân dậu, lựa những người tinh tráng lập làm chín đội Thắng uy. Năm Gia Long thứ 2, đổi làm một vệ, những người già yếu ở dân lại phải chịu lao dịch. Đến nay bọn cai đội Nguyễn Văn Nguyệt và Phạm Công Tín viện lệ xin tha; lại thấy dân tản cư nhiều, cho gọi về hết, để bổ sung vào số binh thiếu của vệ. Vua đều y cho.

    Tháng 5, đảng giặc ở Sơn Nam thượng lại nổi lên ở Ứng Thiên và Khoái Châu, thế rất dữ. Thành thần lại sai Nguyễn Văn Xuyến cùng bọn Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Xuân chia đường đi đánh bắt. Văn Xuyến dẫn quân đến Kim Bảng, đánh giặc ở Phù Đề (tên xã), chém được tướng giặc và đồ đảng mười mấy đầu. Giặc cả thua chạy. Hưng và Xuân đến Khoái Châu, đánh nhau với giặc cũng thắng. Giặc chạy đến Sơn Nam hạ, tụ tập nhau ở các huyện ý Yên và Vọng Doanh. Ngô Văn Ngữ sai người do thám được tình hình của giặc, báo cho Thanh Hoa phát binh họp đánh, bèn dẹp yên.

    Lấy Phó vệ úy vệ Chính võ là Trương Văn Án làm Vệ úy vệ Tả bảo nhất.

    Lấy Cai đội Tiền quân là Võ Văn Phượng quyền quản vệ Tiền bảo nhất, Nguyễn Văn Trượng quyền quản vệ nhị, Cai cơ Đỗ Văn Huy quyền sung Phó vệ úy vệ nhị, Chưởng cơ Nguyễn Văn Tải quyền quản hai vệ Minh uy và Túc uy.

    Quảng Đức, Bình Định, Phú Yên bị hạn, lúa má tổn hại nhiều. Các dinh thần đem việc khám xét về số tổn hại tâu lên. Bầy tôi bàn 10 phần tổn 4 thì giảm cho 2 phần thuế, tổn 5 giảm cho 3 phần, tổn 6 giảm cho 4 phần, tổn 7 giảm cho 5 phần, tổn 8 giảm cho 6 phần, tổn 9 giảm cho 7 phần, tổn cả thì cho toàn miễn. Vua đặc ân chuẩn cho ruộng nào tổn từ 7 phần trở lên đều được miễn hết, còn thì y theo lời nghị.

    Lê Chất đến Thanh Hoa, trước hết sai Quản phủ Thiên Quan Đào Văn Thành và Tri phủ Nguyễn Kim Giám chiêu tập các thổ tù, lấy uy đức của triều đình mà dụ khiến họ quy thuận. Khi tới Thanh Bình thì bọn thổ tù Cao Viết Miệt, Quách Công Chuyên, Quách Công Cát, Quách Công Quán, phụ đạo Quách Tự Tào, Quách Công Giá, 35 người đều đến quân thứ đầu hàng. Chất khoản đãi rất hậu, ý muốn để chiêu dụ Tất Thúc, nhưng Tất Thúc không chịu ra. Chất bèn chia quân làm ba đạo tiến đánh. Tất Thúc chạy trốn. Đuổi đến Sơn Âm, đốt trại rồi trở về. Chất nhận xin dùng bọn thổ tù phụ đạo quy phụ ấy, lập làm bốn thuận hiệu tiền, tả, hậu, hữu, mỗi hiệu đặt chánh phó hiệu để cai quản. Vua giao xuống cho bầy tôi bàn, đều nói nên theo lời xin. Vua nói: “Bọn ấy mà cho lập danh hiệu riêng, sau này tất cùng nhau kết đảng, nên phòng ngừa ngay khi mới chớm, không nên nuôi cho lớn dần. Chi bằng chỉ trao cho chức hàm, sai giữ lấy đất để giữ chức phiên thuộc thôi”. Bèn cho bọn Cao Viết Miệt, Quách Công Chuyên 12 người làm phòng ngự sứ, bọn Quách Công Cát, Quách Tự Tào 10 người làm phòng ngự đồng tri, bọn Quách Tử Quán, Quách Công Giá 13 người làm phòng ngự thiêm sự. Chất lại đem danh sách thổ tù ở hai phủ Thiệu Thiên và Thanh Đô trấn Thanh Hoa là bọn Nguyễn Đình Đăng, Phạm Thúc Kiêm, Cao Viết Hùng, Lê Phi Giáp, Lang Công Hiển, Cẩm Bá Thiều, Văn Vi Kim, bọn phụ đạo là Cao Viết Chiêu, Hà Công Quán, Lê Phi Mại, Lê Phi Hợp, hơn 60 người dâng lên. Đặc biệt cho họ chức phòng ngự sứ, phòng ngự đồng tri và phòng ngự thiêm sự theo thứ bậc khác nhau.

    Thổ phỉ ở Kinh Bắc cướp phủ Thuận An, Trấn thủ là Phạm Tiến Tuấn đem quân cùng giặc giao chiến ở các xã Bảo Khám và Thanh Hoài, thắng trận, đuổi chúng đến xã Bình Ngô. Vệ úy vệ Giản võ là Nguyễn Văn Thiện do Bắc Thành phái đem quân vừa tới, cùng hợp đánh. Giặc bỏ hết súng ống khí giới mà chạy.

    Giặc biển Tề Ngôi đến cướp ở vùng sông Giá huyện Tiên Minh. Chưởng dinh Trương Tấn Bửu sai Chánh thống Thập cơ Trần Văn Thìn đem quân đi đánh. Thìn khinh suất tiến quân, bị giặc đánh úp. Tấn Bửu lại sai Chánh thống Hữu đồn là Bùi Văn Thái đến cứu viện, cùng giặc giao chiến phá được. Giặc dong thuyền chạy.

    Thổ phỉ ở Mỹ Lương trấn Sơn Tây đánh úp bảo Cao Bộ. Phó đội thủ bảo là Nguyễn Danh Gia chống đánh, bị chết. Thành thần sai quyền quản vệ Tiền bảo nhị là Nguyễn Văn Trượng đem quân đánh dẹp. Giặc nghe tin quân đến, chạy sang Lâm Thao. Trượng đuổi theo kịp, bắt và chém được giặc rất nhiều.

    Thổ phỉ ở Tiên Hưng trấn Sơn Nam hạ họp thuyền lẻn vào cửa biển Trà Lý, cướp bảo Diêm Hộ huyện Thanh Quan. Cai cơ thủ bảo là Nguyễn Bá Huề đem quân đánh, bắt được tướng giặc là Ninh và hơn bốn chục đồ đảng.

    Các đám giặc ở Bắc Thành đã tạm bình, thành thần thấy quan quân các đạo đi đánh giặc trước sau hơn ba chục trận, bèn xét thứ tự công trạng, chia làm bốn bậc, lập danh sách tâu lên. Thưởng 30.000 quan tiền. Sai thành thần theo thứ bực mà cấp. Những người chết trận thì cấp tuất theo lệ.

    Truy tặng Chưởng cơ quản vệ Minh uy là Lê Văn Tự làm Phó đô thống chế, Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Nguyễn Khắc Khoan làm Hữu phó đô ngự sử Đô sát viện, Phó vệ úy vệ Tiền bảo nhị là Trương Công Lãm và Quản thủ Khoái Châu là Lê Đắc Kế làm Vệ úy, Quản phủ Xuân Trường là Đặng Văn Trinh làm Phó đồn Cai cơ, bọn Cai cơ Nguyễn Văn Quán, Trần Phúc Tín, Dương Văn Lân, Hoàng Văn Huề, Hà Văn Châu, Nguyễn Văn Hổ làm Chánh quản cơ, bọn Cai đội Lê Văn Hảo, Phan Văn Thi, Nguyễn Văn Diêu, Nguyễn Văn Thường làm Cai cơ ; bọn Cai đội Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Nhiêu, quyền sai cai đội Nguyễn Quân, phó đội Trần Văn Truật, Nguyễn Danh Gia, đội trưởng Trần Văn Sỹ, Ngô Công Vỵ hơn 30 người thì tặng chánh hiệu úy, cai đội, phó đội theo thứ bậc khác nhau.

    Quan Bắc Thành lại tâu: “Vừa rồi giặc giã gây việc, bốn xã Cổ Tiết, Đồng Kỷ, An Vị, Lệ Bảo trấn Sơn Nam hạ, sáu tổng Cổ Trai, Kỳ Vỹ, Cẩm Khê, Phú Khê, Kinh Khê, Tử Đôi trấn Hải Dương, có nơi thì dò thăm tin giặc để báo quan, có nơi thì xuất thóc để giúp quân, đều là biết yêu việc nghĩa làm việc công, mong gia ơn thưởng để tỏ khuyến khích”. Vua nhận lời tâu. Thưởng cho xã Cổ tiết 500 quan tiền, các tổng Cổ Trai, Kỳ Vỹ đều 100 quan, ba xã Đồng Kỷ, An Vỵ, Lệ Bảo bị giặc tàn phá thì hoãn cho binh dao 2 năm. Bọn tổng trưởng xã trưởng Đoàn Đăng Lộc, Phạm Trữ 14 người đều cấp cho bằng sắc.

    Trước là giặc giã ở Bắc Thành mượn tiếng tôn nhà Lê nên dân ngu nhiều người bị mê hoặc. Nguyễn Văn Thành sai Trần Hựu làm bài hát “Điểm mê”, dùng lời quốc âm để hiểu thị. Khi ấy trong hạt lại có người làm bài hát “Tố khuất” quy cho bọn quan lại tham nhũng nên sinh giặc. Thành lại sai sở tại rộng mở hiểu dụ. Từ đó lòng dân mới yên.

    Những người công tính ở Thanh Hoa và Bắc Thành hơn 140 người về Kinh chầu hầu. Vua ban thưởng cho quần áo và tiền gạo theo thứ bậc. Rồi cho bọn Nguyễn Hựu Thanh, Nguyễn Hựu Thự 69 người làm đội trưởng, sai họ về mộ dân ngoại tịch làm thuộc binh, lệ thuộc quan địa phương sai khiến, hằng tháng cấp cho tiền gạo (mỗi người tiền 2 quan, gạo 1 phương 15 bát).

    Quan Bắc Thành là bọn Nguyễn Văn Thành, Trương Tấn Bửu, Phạm Như Đằng, Đặng Trần Thường dâng sớ trình bày năm điều: 1) Dẹp giặc cướp cho yên dân. 2) Truy sùng điển thờ. 3) Tăng lương cho quan lại để dưỡng liêm. 4) Định niên khóa để xét công quan lại. 5) Thông hành tiền Gia Hưng cho dân tiêu dùng được dồi dào. Việc giao xuống cho bầy tôi bàn bạc. Nguyễn Văn Nhân cho rằng các thành thần ở đấy lâu ngày, hiểu rõ sự thể, nên những lời trình bày đều có thể thi hành được.

    Vua nói: “Một khoản tăng lương, có chỗ bất tiện, vì lộc là máu của dân, triều đình dùng để đãi kẻ có tài năng, há nên khinh thường quá lạm. Trẫm thường xem các đời toàn thịnh trước kia đều định lộc có phép, đến sau suy kém mới bóc lột dân để cung cấp cho quan, bọn nhũng lạm rất nhiều, cuối cùng sinh ra biến loạn, lẽ nào lại lấy đó làm khuôn phép mà không phòng tệ lớn dần”. Bèn bỏ khoản tăng lương, còn các điều khác cho châm chước thi hành.

    Định lệ may cấp quần áo và mũ da cho hai thuyền An Lão (Hai thuyền An Lão hầu chực ở Nguyên miếu, áo quần cứ 5 năm một lần may cấp cho, mũ da thì rách nát mới đổi).

    Sai dinh Quảng Nam kén chọn 600 người tinh tráng trong dân biệt nạp sắt sống (Biệt nạp sắt sống có tám xã thôn, số dân 1.530 người), biên bổ là 12 đội, vẫn cho ở quê quán làm ăn, khi có việc mới gọi.

    Giặc biển Tề Ngôi lại đến cướp các ấp Hoàng Châu, An Phong (thuộc huyện Nghiêm Phong) trấn Yên Quảng. Trấn thần sai quản cơ Vũ Văn Kế đem binh đi đánh, chém được vài đầu giặc, bắt mười mấy người, giặc tan chạy. Tống Phước Lương chia sai binh thuyền đi tuần xét, đánh bại quân giặc ở cửa Liêu, bắt được bọn giặc là Nguyễn Văn Thung 7 người và 4 chiếc thuyền. Thế giặc cùng quẫn. Đồ đảng là bọn Lương Kim Ngọc, Trần Thế Dịch đem 2 chiếc thuyền và hơn 70 người thủy thủ vào đầu thú ở Nghệ An. Trấn thần tâu lên. Vua sai tha tội và cho an tháp ở phố Thanh Hà.

    Tháng 6, lại lấy Lưu Phúc Tường làm Lưu thủ Quảng Bình, triệu Lê Văn Luân về Kinh.

    Đổi chức chánh cai huyện các huyện thuộc Quỳ Châu và Trà Lân làm cai huyện, phó cai huyện làm ký huyện. Trấn thần Nghệ An thấy bọn chánh phó cai huyện ở bốn huyện thuộc phủ Trà Lân (Kỳ Sơn, Hội Nguyên, Tương Dương, Vĩnh Hòa) và hai huyện thuộc phủ Quỳ Châu (Trung Sơn, Thúy Vân) làm việc lâu ngày, nên tâu xin ban sắc cho họ. Vua y cho. Nhân hạ lệnh đổi chức cho hợp với quan chế.

    Ờ Quảng Nam giặc nổi, cướp bóc dân cư và thuyền buôn. Đình thần sai Cai đội Cao Văn Tiềm dò bắt, bắt được đầu đảng là tên Hội và bè lũ rất nhiều. Dân các xã Ngọc Sơn, Tiên Mỹ cũng bắt được bọn giặc đem nộp. Thưởng cho Văn Tiềm 150 quan tiền và dân các xã 100 quan.

    Hoãn việc kiếm nộp cây gỗ cho dân Nghệ An. Vua thấy năm hạn dân đói nên hoãn cho.

    Định lại thuế dầu biệt nạp ở Nghệ An. Dân Nghệ An phải biệt nạp dầu sơn, không phải là thổ sản. Trấn thần đem việc tâu lên, bèn định lại, cho nộp dầu nước (Lệ trước, mỗi người mỗi năm nộp 10 bát dầu sơn, đổi lại cho mỗi năm nộp 15 bát dầu nước).

    Giảm thuế vải cho dân Vu Đảo [Hòn Khoai] thuộc Bình Thuận. Vu Đảo có 11 thôn, ở xa ngoài biển, đất xấu dân nghèo, chuyên trồng lúa đỏ và khoai nương để sống. Năm ất mão mới lập làm đội biệt nạp vải trắng, cứ hằng năm phải nộp thuế bằng vải. Đến nay, vua cho là nặng, sai châm chước định giảm cho. (Lệ trước tráng hạng mỗi người nộp 7 tấm vải, lão tật 4 tấm, nay giảm cho tráng hạng nộp 4 tấm, lão tật 2 tấm 15 thước).

    Bỏ thuế nón trắng cho dân Bình Định (Dân đội nón trắng có 20 người, lệ nộp thuế nón trắng mỗi người 1 chiếc) và tuyển dân làm lính.

    Bọn Phó tướng Trung quân là Nguyễn Văn Vân, Lưu thủ Biên Hòa là Nguyễn Văn Triêm, Cai bạ Phiên An là Nguyễn Công Hạc, đốc suất những thuyền vận tải ở Gia Định về Kinh, nhiều thuyền bị mục dò nước. Vua nghe tin quở rằng: “Thuyền ghe vận tải đường biển là của cải nhà nước ở đó. Bọn ngươi không hay xem xét, nhỡ có sự bất trắc thì không hỏng việc ư”. Hạ lệnh đánh roi để khiển trách.

    Sai trấn thủ Nghệ An là Trần Công Lại trở về trấn, triệu Hoàng Viết Toản về Kinh.

    Thả các quân ở Bắc Thành về. Trong khi đi đường, ai đau ốm thì sai quan sở tại cấp cho thuốc men, lại phát cho tiền gạo đủ dùng.

    Đặt thêm trạm Thuận Biên ở Bình Thuận.

    Tên giặc trốn ở Tuyên Quang là Hoàng Phong Bút họp đảng ở Tụ Long (tên đất, thuộc châu Vị Xuyên) mưu lại nổi loạn. Trấn thần dò biết tin, sai Vệ úy vệ Trinh võ là Lê Văn Thái đem binh cùng với thổ tù là Ma Sĩ Trạch vây bắt, chém được quân sư ngụy là Cam, tiên phong là Thiều, bắt được đồ đảng rất nhiều. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Ban mũ áo cho Văn Thái và Sĩ Trạch, lại cất Sĩ Trạch làm Tuyên úy đại sứ và thưởng cho biền binh đi đánh 300 quan tiền, cho thổ tù thổ binh 1.000 quan tiền.

    Tháng 6 nhuận, hạ lệnh từ nay, ngày mồng 1 và ngày rằm tháng nhuận thì miễn thiết triều.

    Vua đến Thai Dương xem lũy cũ của giặc Tây Sơn. Rồi đi thăm Trung Đan, quan La Duy, An Tiêm, đến sông Thạch Hãn, (Trung Đan, La Duy, An Tiêm, Thạch Hãn đều là tên xã thuộc tỉnh Quảng Trị), ngắm xem hình thế, cùng bầy tôi bàn đào kênh mới. Vài ngày vua trở về, ban tiền cho các quân theo hầu theo thứ bậc khác nhau.

    Ấm thụ cho Xuân Hoán là con Hồ Xuân Quang tham mưu Vọng Các làm nho học huấn đạo.

    Giảm thuế thân cho dân Lạc Thổ đạo Thanh Bình. Đời Lê trước thuế thân của dân Lạc Thổ mỗi người là 1 quan 2 tiền; đến đời Ngụy Tây thu bội 3 lần, nặng quá dân không chịu nổi. Đến nay bèn hạ lệnh cho nộp theo lệ cũ, cũng bằng dân hai huyện Yên Hóa và Phụng Hóa.

    Phố chợ ở ngoại thành Nghệ An thất hỏa, cháy lan ra hơn 280 hộ. Mỗi hộ được cấp một phương gạo.

    Ký lục Bình Thuận là Hồ Tiến Chân vì hà khắc bị bãi chức; lấy Thiêm sự Công bộ là Hoàng Đình Hóa thay làm Ký lục.

    Hiệp trấn Nghệ An là Hoàng Ngọc Uẩn dâng sớ xin về quê thăm cha mẹ. Vua y cho. Lấy Cai bạ Quảng Ngãi là Ngô Đình Siêu làm Hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận làm Cai bạ Quảng Ngãi.

    Vét sông Dương Xuân. Vua tới xem, thưởng tiền cho biền binh theo thứ bậc khác nhau.

    Trấn thủ Sơn Nam thượng là Vũ Doãn Văn thiện tiện thả tù trộm cướp và chiếm ruộng đất của dân xiêu tán. Việc phát giác. Sai trói giải về Kinh trị tội. Lấy Phó thống Tiền đồn là Nguyễn Xuân làm Trấn thủ Sơn Nam thượng.

    Lấy Thiêm sự Hình bộ là Hoàng Tử Cao làm Hiệp trấn Sơn Tây, Tri phủ Khoái Châu là Nguyễn Văn Lễ làm Hiệp trấn Cao Bằng.

    Lấy Phạm Văn Tín làm Vệ úy vệ Thắng uy Thị nội.

    Vua thấy địa phương Thanh Bình đã tạm yên ổn, xuống chiếu cho Lê Chất đem quân về.

    Triệu Quản đạo Thanh Bình là Lương Văn Vân và Tham hiệp Nguyễn Bảo về Kinh; lấy Vệ úy Kiên uy là Đào Duy Dụng, Tham hiệp Nghệ An là Thái Văn Nguyên thay chân. Lại lấy Tri phủ Đức Quang là Nguyễn Văn Uyên làm Hiệp trấn Nghệ An.

    Thổ phỉ Thái Nguyên vây bảo Bắc Cạn. Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển phát binh đánh dẹp, chém được hơn sáu chục đầu giặc. Việc tâu lên. Thưởng cho 2.000 quan tiền.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXVI

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Mậu thìn, Gia Long năm thứ 7 [1808], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Vua rước hoàng thái hậu đi xem đánh cá ở sông Dương Xuân.

    Xuống chiếu lấy Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình làm bốn dinh trực lệ, đổi dinh Quảng Ngãi làm trấn Quảng Ngãi, dinh Bình Định làm trấn Bình Định, dinh Phú Yên làm trấn Phú Yên, dinh Bình Hòa làm trấn Bình Hòa, dinh Bình Thuận làm trấn Bình Thuận.

    Ban ấn đồng cho các dinh trấn từ Quảng Bình trở về Nam. (Dinh thì khắc chữ “Mỗ dinh chi chương”, trấn thì khắc chữ “Mỗ trấn chi chương”, gồm năm chữ).

    Triệu Tống Phước Lương về Kinh. Sai Bắc Thành giải tù giặc biển là bọn Trương Á Nhị, Mông Kiến Sinh, 37 người sang nước Thanh.

    Nước Chân Lạp sai sứ đến dâng sản vật địa phương và dâng biểu xin cho thuyền buôn các nước thông tới Nam Vang. Vua bảo Hộ bộ rằng: “Người Hán [Việt] và người Di buôn bán với nhau, vốn là để cho nơi có thông với nơi không, nhưng bờ cõi có giới hạn thì trong ngoài cũng phải nghiêm phòng”. Sắc rằng phàm thuyền buôn của người Thanh hay người Chà Và muốn đi Nam Vang để đổi chác hàng hóa đều cho, duy người Gia Định thì phải có bằng cấp của thành mới được đến buôn, tự vượt riêng nơi quan tấn thì cấm không cho.

    Định lại phép duyệt tuyển. (Phàm chức sắc, người nào đã kính được nhận sắc son, bằng son, chiếu ban, chỉ sai, chỉ truyền và giấy công đồng phó, cùng là kính được nhận bằng son về từ chỉ của cung Trường Thọ hay ý chỉ của cung Khôn Đức, thì đều phải đến kỳ tuyển đem trình xét, không có thì trở về tráng hạng. Duy người làm quan xa hoặc đi thú xa thì được miễn. Các quan viên văn võ, từ tứ phẩm trở lên, và quan viên dự công Vọng Các từ cửu phẩm trở lên, thì các con đều được ghi làm quan viên tử; quan viên tử con quan văn võ nhất, nhị, tam phẩm và quan viên tử con công thần Vọng Các, đều được miễn binh dao và thuế thân; quan viên tử con quan văn võ tứ phẩm chỉ miễn binh dao thôi. Người dân đến tuổi và dân mới trở về quê quán mà tuổi 18, 19 thì ghi làm hạng tráng, hạng quân, hạng dân mới tục. Người có nhà ở hay ở ngụ thì ghi làm hạng gia cư hay ngụ cư. Tuổi 55 trở lên đến 60 tuổi thì xã trưởng phải dẫn đến trường để ứng tuyển, quan khâm mạng xét tuổi và diện mạo để cho làm lão hạng hay lão nhiêu. Phàm người mang tật thì cho làm hạng nhiêu tật, hạng tàn tật. Tuổi từ 30 trở lên đến 55, mà thân hình lùn bé, không đầy 3 thước trở xuống, cho làm hạng tiểu nhiêu. Các cục tượng thì không dự lệ tuyển. Những hạng lão và tật do Binh bộ xét nghiệm đúng thực thì chuẩn cho được miễn trừ hẳn. Các vật cung ứng ở tuyển trường thì cứ chiếu mỗi tên trong sổ mà đóng 10 đồng tiền, trong số đó lấy 1 đồng làm tiền giấy sổ giao xuống).

    Duyệt tuyển từ Quảng Nam trở về Nam đến Gia Định. Sai bọn Chưởng quân Nguyễn Văn Nhân, Hình bộ Nguyễn Tử Châu, Phó đô thống chế Hoàng Viết Toản, Tham tri Công bộ Nguyễn Khắc Thiệu, Vệ úy Thị trung Hoàng Công Lý, Tham tri Công bộ Lê Cẩn, Vệ úy Thị trung Trần Đăng Long, Tham tri Công bộ Nguyễn Đức Huyên, Lưu thủ Phú Yên Lê Văn Vạn, Ký lục Bình Hòa Kiều Công Tuấn, Lưu thủ Bình Định Vương Văn Học, Cai bạ Quảng Nam Nguyễn Tường Vân, Lưu thủ Quảng Nam Tôn Thất Huyên, Cai bạ Quảng Đức Trương Minh Thành, cộng 14 người, chia đi các nơi. Còn ba dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, mùa màng đương bận, hoãn sang năm sẽ làm.