068. Trang [0737-0748] - @ nhani78 (Done)

3/12/15
068. Trang [0737-0748] - @ nhani78 (Done)
  • :rose:
    Đắp đập Hà Trữ (tên phường, thuộc huyện Phú Lộc). Vua thấy đất ấy gần biển, thường bị nước mặn thấm vào, sai Giám thành phó sứ Nguyễn Đức Sĩ cùng với dinh thần Quảng Đức đi xem xét đo đạc, đắp đập để ngăn [nước mặn], nông dân lấy làm tiện lợi.

    Sửa Nguyên miếu.

    Định lệ Bắc Thành chi cấp lương bổng cho biền binh lưu thú. (Phàm người dự có lương bổng mỗi tháng tiền 1 quan 5 tiền, gạo 1 phương 15 bát trở lên, thì không kể tháng đủ hay tháng thiếu, đều tính tháng cấp phát; tháng nhuận thì mỗi tháng chỉ phát tiền 1 quan, gạo 1 phương. Người chỉ có gạo 1 phương mà không có tiền thì tháng nhuận cũng cho chiếu phát, tháng thiếu thì khấu đi 1 ngày).

    Vua thấy [đạo] Thanh Bình thuộc về Thanh Hoa mà sổ binh lại thuộc về cơ Ngũ kích Tượng quân Bắc Thành, việc gọi phát không tiện, bèn sai thành thần theo số quân ba cơ Tiền Hậu Hữu quê ở Thanh Bình là 450 người, biên làm hai cơ Hữu Hậu, đổi đi thú ở Thanh Hoa; còn hơn 1.500 người quê ở các trấn thuộc Bắc Thành thì chia bổ làm ba cơ Tiền Trung Tả của Bắc Thành.

    Hạ lệnh cho bốn dinh trực lệ từ nay chức huyện lệnh có khuyết thì dinh thần chọn cử, rồi đem tên tâu lên.

    Đổi cho Chưởng Tượng chính Nguyễn Đức Xuyên làm Khâm sai chưởng Tượng quân lãnh Tượng chính.

    Dinh thần Quảng Trị tâu rằng ba đội Tráng nhất, Tráng nhị, Tráng tam thuộc dinh ấy số binh kén có ít, xin mộ thêm dân ngoại tịch bổ sung.
    Vua y cho.

    Sai Phó vệ úy vệ Thần uy là Phạm Văn Châu kiêm Quản năm đội Chấn sai.

    Lấy Tham quân Lê Xuân Nghi làm Cai bạ Định Tường.

    Tha thuế diêm tiêu và thuế thân năm nay cho đội Hùng diêm ở Bình Định. Vua thấy dân đội về Kinh làm việc và được sai đi việc quân ở Thanh Bình nên miễn cho.

    Định lệ cấp lương cho lính mộ ở Bắc Thành. Trước đây các viên biền ở Bắc Thành mộ lập các hiệu đội nghĩa binh (các đội Kiên nhất, Kiên nhị, ở Binh tào; các đội Kiên hùng, Kiên thắng ở Hình tào, và các đội Tuần thành, Chu mã, Phong vân, Minh nghĩa, Phấn nghĩa, Toàn nghĩa, Cường nghĩa, Tín nghĩa, Thuận nghĩa, Trung nghĩa, Quy nghĩa, Chương nghĩa, Ứng nghĩa, Chiêu nghĩa, Dực nghĩa, Dũng nghĩa, Hùng nghĩa, Hoài nghĩa, Kiên trung, Tương sai, Phấn dũng, Dương nghĩa, Hiệu nghĩa, ba chi Thuận nghĩa, Đồng nghĩa, Phấn nghĩa và ba hiệu Nghĩa thuộc) chưa có lương tháng, vì thế quan Bắc Thành tâu xin. Đặc biệt chuẩn cho phàm những người theo làm việc công ở thành ở trấn được sai khiến đi đóng giữ ở các đồn bảo thì cấp cho tiền gạo hằng tháng. (Quyền sai cai đội mỗi tháng tiền 1 quan 5 tiền, gạo 1 phương 15 bát; từ đội trưởng đến binh lính, thì tiền 1 quan, gạo 1 phương).

    Khai mỏ bạc ở Thanh Hoa. Mỏ ở ba động Lò Thượng, Lò Hạ, An Khương thuộc châu Lang Chánh. Bọn người nước Thanh là Cao Hoành Đức, Hoàng Quế Thành xin khai, mỗi năm nộp thuế 100 lạng bạc. Vua y cho.

    Quan Bắc Thành tâu nói : “Trước đây lệ định các phủ lỵ đều chọn những chỗ đường sá trung độ, địa thế xung yếu ở những huyện kiêm lý của phủ mà lập. Các phủ Thiên Trường, Kiến Xương, Thái Bình, Nam Sách, Hạ Hồng đã chọn đất dời phủ lỵ đến rồi. (Thiên Trường trước ở Nam Chân, dời sang Giao Thủy ; Kiến Xương trước ở Thư Trì, dời sang Vũ Tiên ; Thái Bình trước ở Phụ Dực, dời sang Đông Quan; Nam Sách trước ở Thanh Lâm, dời sang Chí Linh ; Hạ Hồng trước ở Gia Lộc, dời sang Tứ Kỳ). Nay còn các phủ lỵ Kinh Môn, Lỵ Nhân, Tiên Hưng, Quốc Oai, Từ Sơn, Thường Tín, xin cũng lần lượt cho dời. (Kinh Môn trước ở Kim Thành, dời sang Giáp Sơn ; Lỵ Nhân trước ở Nam Xang, dời sang Bình Lục ; Tiên Hưng trước ở Duyên Hà, dời sang Thần Khê; Quốc Oai trước ở Phượng Trì, dời sang Thụy ứng ; Từ Sơn trước ở Vinh Kiều, dời sang Thạc Quả ; Thường Tín trước ở La Phù, dời sang Hà Hồi. Phượng Trì, Thụy ứng đều là tên xã thuộc huyện Đan Phượng; Vịnh Kiều, Thạc Quả đều là tên xã thuộc huyện Đông Ngàn; La Phù, Hà Hồi đều là tên xã thuộc huyện Thượng Phúc). Lại phủ Đoan Hùng kiêm lý [huyện] Tam Dương, mà phủ lỵ thì đóng ở Tây Quan, xin lấy Tây Quan làm phủ kiêm lý mà do tri huyện Tây Quan đổi bổ đi tri huyện Tam Dương”. Vua đều nghe theo.

    Văn miếu làm xong. Ngày Bính tuất đặt thần vị Tiên sư [Khổng tử]. Sai Lễ bộ rước thần tượng chọn nơi đất sạch ở trong miếu chôn đi. Các bài vị tứ phối, thập triết, tiên hiền, tiên nho, bày theo thứ bậc thờ ở tả hữu và hai bên giải võ đông tây. Chế đồ thờ, định nhạc chương (dùng nhạc nhà Minh, tấu sáu lần). Văn vật một phen đổi mới rực rỡ. (Chính giữa miếu bày thần vị Chí thánh tiên sư Khổng tử; thờ phối phía đông : Phục thánh Nhan tử, Thuật thánh Tử Tư tử ; thờ phối phía tây : Tôn thánh Tăng tử, á thánh Mạnh tử ; dãy bên đông thờ các tiên triết : Mẫn tử, rồi đến Nhiễm tử, Đoan Mộc tử, Trọng tử, Bốc tử ; dẫy bên tây thờ các tiên triết : Nhiễm tử, Tể tử, Nhiễm tử, Ngôn tử, Chuyên Tôn tử; giải võ bên đông thờ 31 vị tiên hiền, 17 vị tiên nho; đầu là Đạm Đài tử Diệt Minh, rồi đến Nguyên tử Hiến, Nam Cung tử Quát, Thương tử Cồ, Tất Điêu tử Khai, Tư Mã tử Canh, Hữu tử Nhược, Vu Mã tử Thi, Nhan tử Tân, Tào tử Tuất, Công Tôn tử Long, Tần tử Thương, Nhan tử Cao, Nhưỡng tử Tứ Xích, Thạch tử Tác Thục, Công Hạ tử Thủ, Hậu tử Xử, Hề tử Dung Điểm, Nhan tử Tổ, Câu tử Tỉnh Cương, Tần tử Tổ, Huyện tử Thành, Công Tổ tử Câu Tư, Yên tử Cấp, Nhạc tử Khái, Địch tử Hắc, Khổng tử Trung, Công Tây tử Điểm, Nhan tử Chi Bộc, Thi tử Chi Thường, Tần tử Phi, rồi đến tiên nho là Tả tử Khâu Minh, Cốc Lương tử Xích, Cao Đường tử Sinh, Mao tử Trành, Đỗ tử Tử Xuân, Vương tử Thông, Âu Dương tử Tu, Chu tử Đôn Di, Trình tử Di, Trương tử Tái, Dương tử Trung Lập, Chu tử Hy, Lục tử Cửu Uyên, Thái tử Thầm, Hứa tử Hành, Trần tử Hiến Chương, Vương tử Thủ Nhân; giải võ bên tây thờ 31 vị tiên hiền, 16 vị tiên nho: đầu là Bật tử Bất Tề, rồi đến Công Dã tử Tràng, Công Triết tử Ai, Cao tử Sài, Phần tử Tu, Công Tây tử Xích, Lương tử Chiên, Nhiễm tử Nhu, Bá tử Kiền, Nhiễm tử Lý, Tất Điêu tử Đồ Phụ, Tất Điêu tử Xá, Thương tử Trạch, Nhâm tử Bất Tề, Công tử Lương Nhu, Công tử Khiêm Định, Khiêu tửu Đan, Hãn Phụ tử Hắc, Vinh tử Cân, Tả tử Nhân Sính, Trịnh tử Quốc, Nguyên tử Cang, Liêm tử Khiết, Thúc Trọng tử Hội, Cống Tây tử Dư Như, Khuê tử Tốn, Trần tử Cang, Cầm tử Trương, Bộ Thúc tử Thừa, Thân tử Trành, Nhan tử Khoái; rồi đến tiên nho : Công Dương tử Cao, Phục tử Thắng, Khổng tử An Quốc, Đổng tử Trọng Thư, Hậu tử Xương, Hàn tử Dũ, Hồ tử Viên, Trình tử Hạo, Thiệu tử Ung, Tư Mã tử Quang, Hồ tử An Quốc, Lã tử Thổ Khiêm, Trương tử Thức, Chân tử Đức Tú, Tiết tử Huyên, Hồ tử Cư Nhân).

    Lấy sở miếu cũ làm đền Khải thánh. (Gian chính giữa đền là vị Khải thánh công ; thờ phối bên đông: các tiên hiền Nhan thị và Khổng thị ; thờ phối bên Tây : các tiên hiền Tăng thị và Mạnh Tôn thị ; dãy bên đông thờ tiên nho : Trình thị Hướng, rồi đến Thái thị Nguyên Đình ; dãy bên tây thờ tiên nho : Chu thị Tùng, rồi đến Chu thị Phụ Thành).

    Hạ lệnh cho Văn miếu các địa phương đều đặt thần vị Tiên sư để thờ. Nơi nào trước có thần tượng thì chọn chỗ đất sạch mà chôn đi.

    Đốc trấn thần Thanh Hoa dâng sớ tâu về công trạng của những người dự việc bắt giặc ở Thanh Bình. Hạ lệnh cho Quản phủ Thiên Quan là Đào Văn Thành làm Vệ úy vệ Nhuệ phong, Tri phủ Nguyễn Kim Giám làm Điển quân vệ Thần võ, đều giữ bản chức mà lãnh việc phủ. Thưởng cho biền binh 2.600 quan tiền, cho thổ tù thổ binh 400 quan tiền. Người chết trận được tiền tuất và truy tặng theo thứ bậc khác nhau. Bọn Lương Văn Vân và Mai Gia Cương tuy có chiến công, nhưng không biết ngăn cấm quân lính cướp bóc, đều không được dự thưởng.

    Tháng 8, tế thu ở Văn miếu. Vua thân làm lễ.

    Lấy Cai bạ Quảng Đức là Trương Minh Thành làm Hữu tham tri Hộ bộ, Thị trung học sĩ Lý Gia Du làm Cai bạ Quảng Đức.

    Lấy Phó vệ úy vệ Uy võ là Trần Phúc Trung làm Vệ úy vệ Dương võ, Nguyễn Văn Lượng làm Phó vệ úy vệ Uy võ, Cai cơ Đặng Hữu Chất làm Vệ úy vệ Thành võ.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Thiêm làm Thủ ngự Hải Vân quan, Tri bạ Trần Đại Nghĩa làm Hiệp thủ cửa Eo.

    Lấy Hàn lâm chế cáo Trần Vân Đại làm Thiêm sự Lại bộ, Tri phủ Ngô Lương Uyển làm Hàn lâm chế cáo.

    Triệu Thống quản đồn Xiêm quân là Nguyễn Văn Tồn đem bọn trưởng chi trưởng hiệu quân sở bộ về Kinh. Đến nơi, thưởng cho tiền theo bực khác nhau, ở hơn một năm rồi cho về.

    Lấy Nguyễn Văn Thành làm Quản cơ cơ Hữu tiệp Tiền quân, Trần Văn Muộn làm Phó quản cơ cơ Trung tiệp, Lê Huy Tích làm Phó quản cơ cơ Hậu kính.

    Vua rước hoàng thái hậu đi xem thủy quân đua thuyền.

    Miễn binh dao cho dân thợ đúc ở Quảng Ngãi, sai lệ theo Nhà đồ để làm việc.

    Ban sắc và mũ áo cho bọn Hoàng Văn Linh, Cai đội đội An bộ và Trần Quang Lượng, Cai đội đội Cường bộ ở nước Chân Lạp, theo thỉnh cầu của vua Phiên Nặc Chăn.

    Thổ phỉ ở Kinh Bắc hơn 500 người cướp bóc ở ba xã Tiên Lục, Mỹ Lộc, Hoàng Hà thuộc phủ Lạng Giang. Bọn thổ hào Trần Thế Hanh, Trần Bá Liêu, Nguyễn Bá Điều tự đem đinh tráng đón đánh, bắt được 4 đồ đảng và chém được hơn năm chục thủ cấp. Thành thần tâu công trạng. Thưởng cho 500 quan tiền và 15 tấm nhiễu.

    Thành thần Gia Định tâu rằng : “Danh hiệu phủ huyện ở các trấn đã thay đổi, xin đặt mỗi huyện một tri huyện để làm việc huyện”. Vua theo lời. Sai xem xét địa thế để lập các huyện nha. Lại thấy buổi đầu mới chia đất, công việc nên theo đơn giản, sắc rằng các đạo Long Xuyên, Kiên Giang, Đông Khẩu, Đồng Môn, Hưng Phúc, Trấn Giang thuộc về địa giới huyện nào thì không phải đặt huyện nha nữa, vẫn cho quản đạo kiêm lý công việc của huyện.

    Hạ lệnh cho các thành dinh trấn đạo đều xét trong hạt giá gạo đắt rẻ, tình hình công việc làm ruộng và nắng mưa thế nào, mỗi tháng tâu một lần, duy sáu trấn ngoại ở Bắc Thành thì ba tháng tâu một lần.

    Hạ lệnh cho hai bộ Hộ Binh họp làm sổ đinh điền ở bốn dinh trực lệ.

    Cho phép thiêm sự sáu bộ từ nay được lên điện tâu việc.

    Dân ở hai thôn Tân Khánh và Lâm An thuộc đạo Long Xuyên kiện nhau về ruộng. Thành thần Gia Định thấy hai thôn đều không có sổ điền, ruộng thì ở Tân Khánh mà Lâm An thì trưng trước, lâu mãi không giải quyết xong, bèn đem việc tâu lên. Vua nói : “Tân Khánh tuy chưa có sổ điền, nhưng địa giới hai thôn ấy đã định rõ rồi thì Lâm An sao có thể tranh được”. Hạ lệnh lấy ruộng ấy cho về Tân Khánh.

    Định rõ điều cấm về bưu chính. Phàm các thành dinh trấn giải đệ đồ vật công, hay nhân việc công mà phát trạm thì không được quá 30 người. Nếu vật nhiều thì dùng binh để hộ tống. Nhà trạm lấy ấn chương làm tín, ai dùng triện riêng hay bắt riêng, nếu là quan thì xử biếm, dịch mục mà nghe theo thì xử tội đồ. Người sai phái nếu dọa nạt đòi cấp một phu trạm trở lên thì xử 100 roi. Duy việc quan hệ quân cơ, có tin hỏa tốc thì phải phát ngay, không câu nệ lệ này.

    Tướng giặc ở Sơn Nam hạ là Phạm Duật ra thú. Hạ lệnh tha tội, thả cho về. Nhân hạ lệnh cho Bắc Thành từ nay có giặc giã ra thú đều cho khoan tha. Do đó đảng giặc ra đầu thú rất nhiều.

    Sai Phó đô thống chế Đào Văn Lương Quản thủy quân Nghệ An.

    Quảng Bình bị lụt, người và súc vật chết đuối nhiều. Sai dinh thần phát thóc kho cho dân nghèo vay, mỗi người 3 hộc.

    Tháng 9, trấn thần Nghệ An tâu nói: “Số muối và mây nước ở trong kho trấn tích trữ đã lâu năm, xin từ nay hai hạng thuế ấy cho dân được nộp thay bằng vải và tiền.” (Muối nộp thay bằng tiền, mỗi người 6 quan, mây nước nộp thay bằng vải, mỗi người 2 tấm). Vua y cho.

    Lấy Nguyễn Hữu Trung làm quản cơ cơ Tả hùng quân Thần võ, Nguyễn Văn Chiêm làm phó quản cơ cơ Hậu hùng.

    Binh mười đội của cơ Võ lực ở Sơn Nam hạ trốn và chết mất nhiều, sai dồn làm bốn đội, mỗi đội đặt một cai đội để quản suất.

    Bắt đầu đặt chức Tổng trấn thành Gia Định. Triệu Nguyễn Văn Trương về, lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn Gia Định, Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn. Ban ấn Tổng trấn thành Gia Định (ấn bạc núm hình sư tử).

    Lấy Quản cơ Võ Văn Kế làm Trấn thủ Yên Quảng.

    Lấy tiến sĩ triều Lê là Nguyễn Tuấn Lý làm Đốc học Kinh Bắc, hương cống Lý Trần Tấn làm Trợ giáo.

    Lấy Vệ úy Hữu bảo là Phạm Danh Văn và Phạm Văn Lý làm Chưởng cơ, Phó vệ úy Lê Quang Tích làm Phó quản cơ Hữu thắng.

    Dinh thần Quảng Nam tâu nói: “Dân ở nguồn Hữu Bang mỗi năm phải nộp 1.000 cân nhựa trám, xin cho theo như lệ nguồn Ô Da, mỗi 100 cân nhựa trám nộp thay bằng 5 quan tiền”. Vua y cho.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Sửa đắp thành trấn Sơn Tây.

    Sai Thượng bảo khanh Trần Đình Trưng và Thị thư Nguyễn Khoa Minh họp nhau làm công việc cửa quan và khai mỏ ở Bắc Thành.

    Sai lấy hương cống bổ tri huyện ở các huyện. Tri huyện ở Bắc Thành có khuyết, thành thần dâng sớ xin cử những người từ hàn để sung bổ.

    Vua không cho, bảo các quan hầu rằng : “Chức huyện lệnh là bực thầy bực tướng của dân, có thể dùng những người tẹp nhẹp được ư? Nay những người mới đỗ hương cống còn chưa bổ quan, cho họ thử việc hành chính trị dân, cứ chọn ở đấy”. Bèn hạ chiếu cho Bắc Thành và Thanh Nghệ đều lấy hương cống mà bổ tri huyện. Và dụ cho họ biết ý dụng người của triều đình để họ giữ gìn nề nếp quan trường, thận trọng danh phận. Rồi ban cho phẩm phục và cho binh đưa đi nhậm chức. Từ đó việc chọn huyện lệnh càng trọng.

    Sai Đô thống chế Thủy quân Tống Phước Lương, Vệ úy Thị trung Trần Đăng Long, Thiêm sự Lễ bộ Nguyễn Đình Khoan đáp 50 chiếc thuyền ô đi Gia Định rước quan tài Duệ tông Hiếu định hoàng đế và quan tài Mục vương Anh duệ hoàng thái tử. Sai thành thần Gia Định đem quan thuộc đưa tới bến. Các dinh trấn từ Bình Thuận đến Quảng Đức đều đặt hương án ở cửa biển bái tống. Hoàng tử thứ hai là Thiếu úy Hy, hoàng tử thứ ba là Tuấn, chiêu dung là Lâm thị và Nguyễn thị, Tống quốc công phu nhân là Lê thị, Thái sư Tôn Thất Đồng, Thiếu phó Tôn Thất Chí, Tôn Thất Xuân, Thái phó Tôn Thất Huy, Tiền quân Tôn Thất Hội và những người Tôn thất chết ở Gia Định, đều đem quan tài về chôn.

    Lấy Phó vệ úy Lê Tiến Bửu làm Giám đốc cục Đúc tiền ở Bắc Thành.

    Chuẩn định từ nay các nha môn hỏi việc hình, phàm các án nặng thì phủ huyện kết nghĩ trước, thượng ty địa phương xét lại, Hình bộ thẩm duyệt, nếu có chỗ khác nhau thì đem cả hai thuyết tâu lên. Còn những tội hơi nhẹ thì nha môn sở tại phải xử trí ngay, không được giam giữ khổ dân.

    Sai Tham tri Công bộ Nguyễn Đức Huyên, Vệ úy Phấn dực Phạm Văn Tường theo Tống Phước Lương đi Gia Định, coi việc chế tạo 60 chiếc thuyền ô và thuyền lê.

    Đặt đồn Thủy quân Bắc Thành ở Nông Giang (thuộc huyện Duyên Hà). Thành thần là Nguyễn Văn Thành đi kinh lược các trấn, xem địa thế, đặt đồn thủ, thấy sông Nông Giang là nơi giáp giới Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ và Hải Dương, xin dời đồn thủy ở Hàm Giang đến đấy. Lại đặt bảo Thụy Anh ở Sơn Nam hạ, bảo Xuân Cát ở Hải Dương, đều giữ những nơi trọng yếu để nghiêm việc phòng bị. Vua đều theo lời.

    Lấy Khâm sai chưởng cơ chánh thống Hậu đồn quân Thần võ là Nguyễn Văn Hưng làm Chánh quản thập cơ Ngũ hùng Ngũ dũng.

    Hạ lệnh cho nước Chân Lạp nộp trả các ấn thông hành ngự tứ. Các lái buôn Chân Lạp thì dùng ấn của quốc vương.

    Nguyễn Hoàng Đức tâu xin khai khẩn hơn 30 mẫu ruộng hoang ở trại Phương Lang huyện Phù Ly. Vua y cho và cho miễn thuế.

    Tháng 11, truy tặng Tống quốc Công phu nhân là Lê thị làm Quốc phu nhân, thụy là Thục thận (năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], gia tặng là Quy quốc nhất phẩm phu nhân). Lại sai dựng từ đường ở An Quán, thờ ba đời của Quốc phu nhân.

    Sai đình thần chọn cử quan ty sáu bộ để bổ thư ký, cai án, tri bạ các dinh trấn.

    Sai Lưu thủ Tống Phước Ngoạn và Thượng bảo thiếu khanh Phạm Nhữ Phong sung chức chánh phó sứ sang Xiêm. (Tặng Phật vương 2 cân kỳ nam, 3 cân quế 100 tấm lụa, 300 tấm the, 100 tấm vải đen, cho vua thứ hai 1 cân kỳ nam, 2 cân quế, 50 tấm lụa, 200 tấm the, vải đen và vải trắng đều 50 tấm).

    Ấm thụ cho cháu Tôn Thất Khê là Tôn Thất Lễ làm đội trưởng, cho cháu Chưởng dinh Tống Hữu Thanh là Tống Hữu Danh làm thứ đội trưởng, cấp cho tự điền và mộ phu để giữ việc thờ tự.

    Lấy Cai đội Nguyễn Văn Nguyệt làm Phó vệ úy vệ Thắng uy; cho Cai đội Lê Quang Hiến làm Cai cơ.

    Lấy Lưu thủ Quảng Bình là Lưu Phúc Tường làm Trấn thủ Kinh Bắc, Phó thống Hậu đồn Tả quân là Lê Văn Côn làm Lưu thủ Quảng Bình. Phúc Tường xin cho hơn 30 người cựu thuộc là biền binh thượng đạo đóng thú Nghệ An và Quảng Bình được đi theo để sai khiến. Vua y cho.

    Lấy Hàn lâm viện Nguyễn Văn Diên làm Thiêm sự Hộ bộ, Nguyễn Văn Thịnh làm Thiêm sự Công bộ, Võ Văn Nho làm Thiêm sự Binh bộ, Tham luận Trương Văn Trinh làm Hàn lâm viện thị thư, Tri bạ Nguyễn Văn Ngôn làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ.

    Sai Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Công Tiệp đem Lệnh sử ty sáu bộ đi thanh tra tiền thóc các trấn thuộc Bắc Thành.

    Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Phan Tiến Thiện làm Hiệp trấn Kinh Bắc, Tri phủ Thái Bình là Hoàng Xuân Tú làm Tham hiệp. Trước đây Hiệp trấn Thái Văn Minh và Tham hiệp Nguyễn Văn Hoàng lấy thóc kho 15.000 hộc. Đến khi Minh đổi đi Hưng Hóa, Lê Minh Huy thay làm Hiệp trấn, Hoàng mưu với Huy thu bội thóc của dân đem đền vào số thiếu đó. Việc phát giác. Vua sai thành thần xét trị, lấy bọn Tiến Thiện thay chân. Sau án dâng lên, Minh và Hoàng đều bị tội chết. Huy bị bãi chức; quân và lại coi kho đều bị tội đồ.

    Tháng 12, hạ lệnh từ Quảng Bình tới Bình Thuận hằng ngày ghi công việc của trấn, mỗi tháng tâu lên một lần.

    Bình Hòa bị lụt.

    Nghệ An đói. Trấn thần tâu xin hoãn bắt lính trốn, xét kiện vặt và đòi nợ tư. Vua đều theo lời, lại hạ lệnh hoãn thu cả các thuế tô dung năm nay.

    Sai Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế và Tham tri Lại bộ Phạm Đăng Hưng hội tính số thóc gạo chứa kho trong ba năm từ Gia Định trở ra đến Thanh Bình, tâu lên vua biết.

    Cho Nguyễn Hữu Tú chức hàm Hàn lâm. Cha Hữu Tú là Nguyễn Hữu Tôn, tiên tổ xưa là người huyện Chương Đức trấn Sơn Nam, theo Thái tổ vào trấn phương Nam, nhập tịch ở xã Mậu Tài huyện Phú Vang. Hữu Tôn sau thờ tiên triều, làm quan đến Lại bộ tri Kinh diên, kiêm Binh bộ Hình bộ và coi Tàu vụ. Hữu Tú đã được tập ấm bổ Hàn lâm viện, đến khi Tây Sơn nổi loạn, cùng chịu sai dịch với dân. Đến nay Hữu Tú đem việc tâu bày, nên có lệnh này.

    Cho Vệ úy Nguyễn Văn Ngoạn là con Chưởng Trung quân Nguyễn Văn Trương lấy công chúa Ngọc Châu, Vệ úy Phạm Văn Tín là con Chưởng Hữu quân Phạm Văn Nhân lấy công chúa Ngọc Quỳnh, Vệ úy Trương Phước Đặng là con cai cơ Trương Phước Tuấn lấy công chúa Ngọc Anh tiền hồi môn mỗi công chúa đều 30.000 quan, ghi làm lệ.

    Cho nội giám Hà Đình Vịnh làm nội đội trưởng, suất các đội Hùng địch.

    Cho dân Thanh Hoa và Thanh Bình đến vụ hạ sang năm thóc tô được nộp thay bằng tiền để tiện cho dân.

    Ngày Quý mão, vua yết lăng Cơ Thánh.

    Ngày Giáp thìn, làm lễ tế Chạp.

    Tham tri Lại bộ kiêm quản Trường đà là Phạm Đăng Hưng dâng sổ hội kê về các hạng thuyền ghe năm nay của các dinh trấn. (Thuyền 3.460 chiếc, được ơn miễn thuế 78 chiếc, ứng việc vận tải 425 chiếc, được miễn vận tải 2.957 chiếc. Tiền nộp thay vận tải và tiền thuế bến hơn 17.700 quan. Từ nay lấy việc dâng sổ hội kê làm thường lệ).

    Lễ bộ tâu rằng: “Trước nay đầu năm khai ấn duyệt binh, cuối năm yết lăng, tế chạp và khóa ấn, đều để tới kỳ mới chọn ngày lành. Nay xin lấy ngày nhất định”. Vua nghe lời tâu, chuẩn định mỗi năm cứ ngày mồng 7 tháng giêng thì khai ấn, sai quan xuất binh, ngày 13 tháng chạp yết lăng, 14 tế Chạp, 25 khóa ấn. Lấy sang năm là năm Kỷ tỵ bắt đầu.

    Bãi chức Tri phủ hai phủ Trà Lân, Quỳ Châu và chức Tri châu châu Quy Hợp. Trước là lệ định phủ đặt quản phủ, châu đặt thủ ngự. Năm ngoái trấn thần tâu xin quyền đặt tri phủ tri châu. Đến nay bãi đi.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXVII

    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Kỷ tỵ, Gia Long năm thứ 8 [1809] (Thanh - Gia Khánh năm thứ 14), mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu thìn, tế xuân hưởng,.

    Lấy Cai bạ Quảng Ngãi là Nguyễn Hữu Thận làm Hữu tham tri Lại bộ. Tham quân quân Thần sách là Trịnh Văn Thành làm Cai bạ Quảng Ngãi, Thiêm sự Hộ bộ là Trương Văn Ngoạn làm Ký lục Bình Thuận, Tri phủ Hà Trung là Mai Đức Giai làm Thiêm sự Công bộ.

    Quan Bắc Thành tâu rằng: “Dòng sông Đình Ngọ (tên xã) thuộc huyện Duyên Hà bị úng tắc đã lâu, xin lấy dân khơi đào cho thông với sông Hưng Na huyện Quỳnh Côi để lợi việc nông”. Vua y theo.

    Quan Bắc Thành lại nói: “Thế nước sông Nhĩ Hà chảy xói, bờ sông ở Phúc Tâm và Kiên Nghĩa (hai thôn thuộc phủ Hoài Đức) nên xây mỏ kè để chống nạn nước, xin lấy các quân ra làm”.

    Vua nói: “Nhà nước nuôi quân cốt để phòng khi có việc, sao lại động việc gì cũng bắt làm mệt nhọc”. Bèn sai thuê dân làm, chi tiêu 37.900 quan.

    Thổ phỉ Hải Dương cướp ở tổng Yên Lãng (thuộc huyện Đông Triều), thổ hào là Nguyễn Đức Hậu đem dân chống đánh, chém được 9 đầu giặc, bắt được tướng giặc tên là Sĩ. Tổng Minh Nông (thuộc huyện Phù Ninh) trấn Sơn Tây cũng có thổ phỉ đi cướp bóc, thổ hào là Đinh Đăng Bạch và Đinh Văn Chiêu đem dân đuổi bắt được tướng giặc tên là Đinh chém đi. Dư đảng chạy tan hết. Thành thần đem việc tâu lên. Cho Đức Hậu và Đăng Bạch làm Phó tổng, Văn Chiêu làm Cai tổng và thưởng cho dân phu 500 quan tiền.

    Trấn thủ Sơn Nam hạ là Ngô Văn Tham ốm được nghỉ việc; lấy Chánh quản thập cơ Tả quân là Nguyễn Văn Xuân làm trấn thủ Sơn Nam hạ:

    Đặt Đê chính ở Bắc Thành, sai Binh bộ Đặng Trần Thường làm Tổng lý, Tham tri Công bộ là Nguyễn Khắc Thiệu làm Tham lý. Trước nay công việc đê điều thuộc về Hộ tào, thành thần cho rằng công việc hộ rất bề bộn, sợ khó kiêm coi được, tâu xin đặt quan để giữ việc ấy. Vua bèn cho Thường và Thiệu lãnh làm. Dụ rằng: “Sông có đê, đời sống của dân quan hệ ở đó, bọn ngươi phải kính cẩn nhé!”.

    Chuẩn định đê điều các trấn thuộc Bắc Thành cứ tháng 10 hằng năm các quan phủ huyện trấn phải lần lượt đến khám, quan Đê chánh khám lại. Đê nào nên sửa đắp thì xét định công trình lớn hay nhỏ, thành thần xét công trình nhỏ thì giao cho phủ huyện lấy dân ở những nơi thế nước đến được mà làm, công trình lớn thì sai người hiệp cùng trấn thần thuê dân làm; đều khởi công vào khoảng hai tháng giêng và hai, hạn tới tháng tư thì xong. Quan Đê chánh khám đúng thực, do thành thần làm sổ vẽ đồ tâu lên.

    Quan Bắc Thành tâu rằng: “Năm ngoái ở Sơn Nam hạ và Thái Nguyên giặc nổi, nhân dân sở tại có người dò báo đúng thực, có người ra sức chặn bắt, xin khen thưởng cho”. Vua sai chép danh sách, cho bọn Trịnh Công Tuần, Dương Đình Trượng, Nguyễn Phú Thuật, Nguyễn Đức Huy hơn mười người làm cai đội, đội trưởng, cai tổng, phó tổng, theo thứ bực khác nhau, và thưởng tiền 800 quan.

    Đặt kho Hưng Phúc ở Biên Hòa. Vua thấy Hưng Phúc là nơi quan quân đi lại phải qua, nên chứa sẵn để phòng chi cấp. Bèn sai xây kho Khu My (tên đất), rồi thu thóc tô ở huyện Phúc Yên chứa trữ vào đó.

    Quảng Bình đói, sai phát thóc kho cho dân nghèo vay.

    Đổi dựng miếu Lê Thánh Tông. Vua cùng bầy tôi bàn rằng: “Nước ta từ triều Lê về trước, tự châu Ô châu Lý vào Nam còn là đất Chiêm Thành. Lê Thánh Tông bình được Chiêm Thành, mở đất tới Phú Yên, dời dân đến ở, công mở mang đất đai thực bắt đầu từ đấy. Trước kia dựng miếu thờ là để nhớ công, nay nên nhân cũ mà sửa mới để làm nơi sùng tự”. Bèn sai họp thợ xây dựng, hơn một tháng thì miếu làm xong. Đặt 10 người miếu phu, lấy dân Phú Xuân sung vào, mỗi năm hai mùa xuân thu lấy ngày nhâm sai quan đến tế.

    Làm duyệt tuyển ở ba dinh Quảng Đức, Quảng Trị và Quảng Bình.

    Sai Vệ úy Thị trung là Trương Phúc Đặng, Tham tri Hộ bộ là Lê Viết Nghĩa, Phó đô thống chế quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí, Tham tri Binh bộ là Nguyễn Quang Diệu, Vệ úy Hùng cự là Trần Văn Trí, Tham tri Hình bộ là Lê Bá Phẩm, chia nhau đi làm. Trước kia theo phép duyệt tuyển năm Gia Long thứ 2, người dân thân hình lùn bé không đầy 3 thước 5 tấc thì làm hạng tiểu nhiêu; năm thứ 7 lại định không đầy 3 thước mới cho là tiểu nhiêu, quan tuyển trường bèn đưa hạng tiểu nhiêu lần trước trở về tráng hạng.