069. Trang [0748-0759] - @Lazer (done)

14/11/15
069. Trang [0748-0759] - @Lazer (done)
  • Đến nay sai để hết ở hạng tiểu nhiêu và chuẩn định từ nay về sau hễ người dân thân hình từ 3 thước trở xuống thì cho làm tiểu nhiêu. Nhân đó dụ cho bọn Phước Đặng rằng: “Phép tuyển duyệt của nhà nước vốn để biết rõ số dân mà chia đều phú dịch, chứ không phải lấy người già yếu để hư trương con số làm gì. Bọn ngươi nên cẩn thận đấy”.

    Quan Bắc Thành tâu rằng: “Văn Miếu ở thành từ triều Lê về trước đem Sĩ Vương và Chu An tòng tự. Xét trong Sử ký thì Sĩ Vương dùng thi thư để hóa tục nước, đem lễ nhạc để hóa lòng người, văn hiến của nước ta bắt đầu từ đấy, Chu An thì thanh bạch giữ tiết, lý học tinh thông, là vị đại nho ở đời, cho nên các đời đều nêu rạng mà đặt vào hàng tòng tự ở Văn Miếu. Nay xin tùy bệ hạ quyết định”.

    Vua giao xuống cho bầy tôi bàn, mọi người đều cho rằng Văn Miếu ở Kinh sư, Sĩ vương và Chu An chưa liệt vào hạng tòng tự. Ở thành nên lấy Kinh sư làm chuẩn. Vua theo lời. Lại sai Lễ bộ xét lại điển thờ, thấy Sĩ vương và Chu An đều đã có đền thờ, cho dân sở tại giữ việc thờ cúng, tha dao dịch cho 61 người. (Đền thờ Sĩ vương ở hai xã Lũng Khê, Tam Á trấn Kinh Bắc, cho 50 người dân tạo lệ; đền thờ Chu An ở xã Huỳnh Cung trấn Sơn Nam, cho 11 người dân tạo lệ).

    Sai Tống Phước Lương và Nguyễn Đức Huyên đốc suất binh và thợ đóng thêm 30 chiếc thuyền ô.

    Dựng miếu Đô thành hoàng ở bên hữu Kinh thành. (Chính vị là thần Đô thành hoàng, ở tả vu là các thần thành hoàng ở Gia Định, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên, ở hữu vu là các thần thành hoàng ở Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Yên Quảng, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang). Đặt miếu phu 15 người, lấy dân Phú Xuân sung vào, mỗi năm hai mùa xuân thu lấy ngày canh sai quan đến tế.

    Sửa đắp thành trấn Sơn Nam thượng.

    Ban mũ áo cho các huyện lệnh ở bốn dinh trực lệ. Vua cho rằng huyện lệnh là chức gần dân, muốn lựa chọn cẩn thận; bốn dinh ở gần kinh kỳ, vua muốn xem xét được để phân biệt người hay người dở, bèn vời bọn Ngô Công Nghi, Nguyễn Đức Tế 28 người, sai hai bộ Lại Lễ khảo xét. Bọn Nghi lời lẽ đều có thể dùng được, đặc biệt ban cho mũ áo rồi cho về.

    Tháng 2, tha tô thuế năm nay cho huyện Tống Sơn.

    Ban phẩm phục cho các thiêm sự sáu bộ.

    Hạ lệnh cho Bình Định mỗi năm phải nộp ống tre phun lửa 3.000 chiếc.

    Trấn thủ Hải Dương là Trần Công Hiến và Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Văn Đạo vì có cha mẹ già xin về thăm. Vua y cho. Sai Chánh quản thập cơ Hậu quân là Ngô Văn Ngũ quyền lãnh việc trấn Hải Dương, Vệ úy Cường võ là Lê Văn Thái quyền lãnh việc trấn Cao Bằng. Rồi Công Hiến về đinh ưu(1. Đinh ưu: Về nhà chịu tang cha mẹ. 1), cho tiền 100 quan.

    Tướng giặc ở Kinh Bắc là tên Tri ngụy xưng thống lãnh Tiền dinh, tướng giặc ở Hải Dương là Nguyễn Đình Thanh ngụy xưng là Trung quân, tướng giặc ở Sơn Nam là tên Nam ngụy xưng là Tham mưu, họp đảng ở hai huyện Gia Định, Lang Tài, thủ hợp Tả đồn quân Thần võ là Nguyễn Đức Trạch sai người thuộc hạ là Nguyễn Văn Đát, Nguyễn Văn Yển, Nguyễn Văn Thế nhập vào bọn giặc để báo quan quân vây bắt, bắt được tên Tri tên Nam và đồ đảng hơn mười người. Việc tâu lên. Vua cho Đức Trạch làm Tri huyện, bọn Văn Đát làm Đội trưởng. Đình Thanh sau ra thú. Vua cho rằng năm ngoái có chiếu cho kẻ phạm tội ra thú thì được miễn nên đặc biệt tha cho.

    Tướng giặc ở huyện Tiên Hưng trấn Sơn Nam hạ ngụy xưng Tiên phong là tên Ngạnh, ngụy xưng Tả dũng là tên Xuân, bị quan quân đánh dẹp, lẻn trốn ở xã Tĩnh Xuyên (thuộc huyện Thư Trì). Phủ lại là Lê Quý Tín, thổ hào là bọn Nguyễn Duy Lân, Đào Bùi Kha, báo dẫn lính phủ đến bắt được tên Xuân và đồ đảng 4 người. Việc tâu lên. Cho Quý Tín làm Đề lại và bọn Duy Lân làm Xã trưởng, đều cấp cho bằng son.

    Tướng giặc ở huyện Bảo Lộc trấn Kinh Bắc tên là Thân Vạn Đồng và Lê Đắc Lộc họp đảng ở trại Cửu Đẩu. Thành thần sai Quản cơ cơ Tiền tiệp Trung quân là Võ Văn Ngữ, Phó quản cơ cơ Hậu kính là Lê Huy Tích đóng ở bảo Tam Dị (tên xã) để phòng bị. Lính bảo là Thân Bá Huy dò được chỗ ở của giặc, báo cho bọn Huy Tích vây bắt, bắt được Đắc Lộc và đồ đảng 6 người. Việc tâu lên. Cho Bá Huy làm Thứ đội trưởng.

    Bỏ thuế tốc hương cho thôn Chi Quan (thuộc huyện Kỳ Anh) trấn Nghệ An. Thôn Chi Quan mỗi năm phải nộp 140 cân tốc hương. Đến nay nhân dân đi lấy không được, hạ lệnh miễn trừ cho.

    Bói lại ngày tế Giao. Trước bói được ngày Đinh mùi, vì vua khó ở nên mới bói lại.

    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng: “Kho ở trấn và kho ở đạo Thanh Bình, lương chứa đầy dẫy, xin đều dựng kho lợp tranh để chứa thóc tô mùa hạ năm nay”. Vua y cho.

    Đặt 25 lò gạch ngói, lấy dân Quảng Đức hơn 700 người để ứng dịch, mỗi tháng cấp cho tiền gạo.

    Sai Phó đô thống chế Thủy quân là Đào Văn Lương quản 30 chiếc thuyền để chuyển vận sản vật ở Bắc Thành, Vệ úy vệ Dương võ là Trần Phước Trung và Quản cơ cơ Hậu thủy là Cao Công Giang quản hơn 40 chiếc thuyền để chuyển vận cây gỗ ở Nghệ An, nộp về Kinh.

    Quản cơ cơ Trung trấn Bắc Thành là Thái Bá Hùng cùng với Đội trưởng Nguyễn Đắc Tài báo dẫn quan quân đi bắt được thái bảo ngụy tên là Địch và đồ đảng hơn hai chục người. Việc tâu lên. Vua ban mũ áo cho Bá Hùng và thăng Đắc Tài làm cai đội, thưởng tiền 600 quan.

    Người Man ở bảy sách Cam Lộ vào cống.

    Nước Vạn Tượng sai sứ dâng thư nói: “Dân ở Trấn Ninh trước theo Chiêu Nội lánh nạn ở đất Trà Lân, nay xin chiêu tập trở về”. Khi sứ đến Nghệ An, trấn thần không nhận thư mà đem việc tâu lên. Vua dụ bầy tôi rằng: “Dân Trấn Ninh xiêu dạt ở đất Trà Lân đã lâu, dần đã có cách sinh sống, thích yên ở, ngại dời đi là thường tình của người ta, sao lại còn bắt dời đi? Trấn thần khước đi là phải. Nước Vạn Tượng là nước thần thuộc của ta, theo lệ năm nay phải cống, cống thì không đến mà lại muốn trả lại dân xiêu dạt, thế là ý gì?. Bèn sai trấn thần gửi thư hỏi. Vạn Tượng sợ hãi, lại sai sứ đến tạ. Sứ đến. Vua triệu vào yết kiến, hỏi về phong tục chính sự nước ấy. Sứ giả đem tình trạng đáp. Vua lại hỏi: “Quốc vương người thích cái gì?”. Sứ giả nói: “Thích trống trận”. Khi trở về, đãi yến rất hậu, lấy hai chiếc trống trận ban cho.

    Lấy Phó trưởng chi chi Hùng kiến trấn Thái Nguyên là Dương Như Đình làm Chánh trưởng chi, Trưởng hiệu hiệu Hữu hùng là Đinh Quang Châu và Cai đội là Ngô Đình Chấn làm Phó trưởng chi, theo trấn sai phái.

    Dời dinh lỵ Quảng Trị đến xã Thạch Hãn, mở vào ruộng công rất nhiều, sai lấy ruộng công ở ấp bên cạnh là xã Câu Kinh cấp cho. (Dinh lỵ cũ ở phường Tiền Kiên huyện Đăng Xương. Thạch Hãn, Câu Kinh đều là tên xã, thuộc huyện Hải Lăng).

    Tháng 3, đặt ba trường diễn bắn súng, họp các quân Thị trung và Thần sách diễn thi. Mười vệ quân Thị trung chia làm tả hữu hai trường, tả trường sai Đô thống chế quân Thần sách là Lê Văn Phong, Tham tri Binh bộ là Nguyễn Quang Diệu, Thiêm sự là Nguyễn Đình Chất làm Giám khảo, hữu trường sai Phó tướng quân Thần võ là Trần Quang Thái, Tham tri Binh bộ là Ngô Nhân Tĩnh, Thiêm sự là Bùi Công Kim làm Giám khảo. Quân Thần sách thì một trường, sai Vệ úy Thị trung là Trương Phước Đặng, Tham tri Binh bộ là Võ Danh Trung, Thiêm sự là Hoàng Trọng Mộ làm Giám khảo. Đều duyệt xem ai trúng ai không để định thưởng phạt.

    Tướng giặc ở huyện Từ Liêm trấn Sơn Tây ngụy xưng là Giám quân, sách nhiễu tiền gạo của dân. Thổ hào xã Minh Tảo là Nguyễn Hữu Châu đem dân bắt giải nộp. Thành thần đem việc tâu lên. Cho Hữu Châu làm cai tổng, thưởng tiền 300 quan.

    Ở Thái Nguyên giặc nổi. Vệ úy vệ Trương võ là Đỗ Thiên Thẩm, Phó trưởng chi chi Hùng kiên là Đinh Quang Châu đánh giặc ở phố Bắc Linh, chém được 20 đầu, đóng ở Chợ Chu. Bọn giặc xông ra bao vây. Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển đem quân đến cứu. Bọn Thiên Thẩm nghe quân viện đến, mở bảo giáp đánh, chém được Tả tướng giặc là Triệu Văn Thanh (người Thanh), Hữu tướng giặc là Nông Á Bính (người Nùng) cùng 82 đầu đồ đảng, bắt sống được 18 người, thu được khí giới rất nhiều. Việc tâu lên. Thưởng cho biền binh 2.000 quan tiền.

    Hạ lệnh thuộc binh do các quản quan ở Gia Định đã lập đều lưu ở ngạch cũ, thu lấy thuế thân, từ nay về sau không được mộ thêm nữa.

    Vua nhớ Tả chi Trần Xuân Trạch và Hữu chi Nguyễn Kim Phẩm ứng nghĩa có công, cho các cháu gọi bằng chú bác là bọn Trần Xuân Thành, Trần Thế Quyền, Nguyễn Kim Diệu, Nguyễn Kim Huy được miễn phú dịch. Lại thấy thuộc tướng là Trần Xuân Cách và Hà Văn Đản đều chết trận, miễn phú dịch cho con hay cháu gọi bằng chú bác đều một người. Anh của Trạch là Trần Xuân Hiệp đem hài cốt Trạch về chôn, sai thành thần Gia Định cho tiền kho 100 quan và một cây gấm Tống, cho thuyền đưa về.

    Sai Chánh thống Hậu đồn quân Thần võ quản thập cơ Hùng dũng là Nguyễn Văn Hưng kiêm Chánh quản cơ Hậu hùng. Vua thấy Chánh phó thống đồn ngũ quân, từ trước chưa có binh bản quản, tới lúc có việc sai khiến chưa được đắc lực, nên sai Hưng quản suất cơ Hậu hùng để làm binh bản quản. Hạ lệnh cho quan Bắc Thành từ nay về sau Chánh phó quản thập cơ, hoặc Chánh phó quản cơ ở các quân có khuyết, đều làm biểu tâu lên, đợi chỉ chọn bổ.

    Sai Tham tri Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận sung Chánh sứ tuế cống (hai lần cống năm Đinh mão, năm Kỷ tỵ) sang nước Thanh, Cai bạ Quảng Bình là Lê Đắc Tần, Thiêm sự Lại bộ là Ngô Vị sung Giáp ất phó sứ. (Hành nhân 9 người, lục sự 2 người, thư ký 4 người, điều hộ 1 người, thông sự 2 người, đi theo hầu 15 người). Dụ rằng: “Bọn người vâng mệnh đi sứ, từ lệnh phải cẩn thận cho trọng quốc thể”.

    Lưu thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Toản ốm được nghỉ việc. Lấy Đô thống chế quân Thần sách kiêm phó tướng Tả quân là Phan Tiến Hoàng hành chức Lưu thủ Quảng Ngãi.

    Lấy Cai cơ Nguyễn Văn Hương làm Vệ úy vệ Võ bảo nhất quân Thần võ, Bùi Văn Trung làm Quản cơ cơ Hữu kiên Quảng Ngãi.

    Nguyễn Hữu Nghiễm tâu xin mộ thuộc binh, theo trấn Thanh Hoa sai phái. Nguyễn Hữu Toản và Nguyễn Hữu Thanh cũng xin mộ thuộc binh theo trấn Cao Bằng sai phái. Vua đều y cho.

    Quan Bắc Thành tâu rằng: “Xưa nay việc mộ lính, ai mộ được 50 người thì cho làm quyền sai cai đội, nay các đội mới lập phần nhiều mộ không đủ số, vậy mộ được 10 người trở lên thì xin cho quyền Cai đội trưởng. Kẻ phạm tội ra thú cũng cho ứng mộ”. Vua không chuẩn. Dụ rằng: “Việc mộ lính lấy một đội làm suất, nếu không thành đội thì sao lại cho bừa. Kẻ phạm tội ra thú thì cho về làng mạc làm ăn là được rồi”.

    Ngày Tân mùi, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.

    Ngày Giáp tuất, xa giá đi tuần Quảng Trị, sai Nguyễn Văn Khiêm coi giữ Kinh thành.

    Ngày ất hợi, xa giá đến Quảng Trị, xem quân dân xây đắp lỵ sở, nhân đó, bàn về hình thế hồi lâu. Ngày Canh thìn, hồi loan.

    Dựng hai kho Quảng Thịnh, Quảng Chừ, thưởng cho các quân 2.000 quan tiền.

    Đắp đê ở Bắc Thành. Đặng Trần Thường và Nguyễn Khắc Thiệu tâu rằng: “Đê điều các trấn Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng đều bị sụt lở, nên đắp ba đoạn đê mới khác và đắp thêm hai đoạn đê cũ, xin thuê dân làm. Còn các đoạn khác thế nước chảy không xói lắm có thể chống đỡ được thì bắt dân sở tại ra sức sửa đắp”. Vua y lời tâu. (Trấn Sơn Tây một đoạn đê mới, từ xã An Lão Thị huyện Yên Lạc đến xã Kim Đà huyện Yên Lãng, dài 1.282 trượng 8 thước 4 tấc; trấn Kinh Bắc, một đoạn từ xã Đông Dư huyện Gia Lâm đến xã Kim Quan dài 637 trượng 8 thước 7 tấc; trấn Sơn Nam thượng, một đoạn từ xã Đội Xuyên huyện Nam Xang đến xã Như Trác dài 508 trượng 1 thước. Đê cũ ở Sơn Nam thượng, một đoạn ở xã Nho Lâm huyện Kim Động dài 125 trượng, một đoạn xã Quỳnh Trân huyện Duy Tiên dài 18 trượng. Tính giá tiền là 87.000 quan).

    Vua thấy Gia Định thành và Bắc Thành mỗi năm quan lịch từ Kinh ban ra, phu trạm chuyển đệ khó nhọc, chuẩn định cho hai thành mỗi năm cứ đến thượng tuần tháng 4 đều ủy cho ty Chiêm hậu về Kinh lãnh bản thảo lịch sang năm, đem về viết rõ rồi khắc in. Đến thượng tuần tháng 10 lại ủy người đem bìa lịch vào cho Khâm thiên giám đóng ấn. Lại thấy từ Bình Hòa trở ra, từ Thanh Hoa trở vào, theo lệ cũ thì cứ đến ngày mồng 1 tháng 12 ban lịch, rồi sau đó các bộ thần mới gửi đi, bèn hạ lệnh cho các dinh trấn từ nay ủy người đến lĩnh, đến ngày ấy ban cấp một loạt.

    Chia đội Tiểu sai ra làm tám đội.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXVIII
    THỰC LỤC VỀ THẾ CAO TỔ HOÀNG ĐẾ

    Kỷ tỵ, Gia Long thứ 8 [1809], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

    Sắp đắp đường quan ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Bình Hòa. Vua cho rằng đường cũ quanh co xa xôi không tiện, bèn sai Nguyễn Hoàng Đức và Lê Chất đi trông coi công việc, lấy dây đóng nắn thẳng lại, phát dân sửa đắp, hoãn bắt lính, đình kiện vặt, hễ chỗ nào mở vào nhà dân và phần mộ thì chi tiền cấp cho. Ven đường thì trồng cây thích hợp.

    Phạm Như Đăng vào chầu, dâng sớ nói: “Vài năm nay vì thiếu người, hạ thần được vâng làm Hình tào ở Bắc Thành. Cúi nhận thấy một phương Bắc Thành tài lực bằng nửa thiên hạ. Gần đây kiện tụng ngày nhiều, tài lực ngày hao, trăm họ nhôn nhao, không được yên nghiệp. Đấy vẫn là lỗi ở bọn thần không làm trọn chức, nhưng cũng bởi dân mới phụ về, chưa thấm đức hóa, quan dựa đó mà thêm nhiễu, lại theo đó mà làm gian, tệ hại trăm mối, dân không chịu nổi, kẻ giàu không giữ được của, kẻ nghèo phần nhiều lưu vong, bèn khiến những lũ bất bình nhân đó phiến hoặc. Năm ngoái giặc cướp nổi khắp, phải nhọc sức quân mới dập tắt được, nhân dân dần dần trở lại làm ăn. Nay lòng dân mong yên như đói mong ăn, khát mong uống. Nên đương lúc này rộng suy nhân chính để cho thiên hạ được nhờ ân trạch. Vả Bắc Thành cách Kinh sư hơi xa, tình dưới không thông được đến trên, nỗi đau khổ chưa có thể đạt lên hết được. Cúi mong bệ hạ bắt chước phép tuần thú đời xưa, nhân thăm địa phương xem phong hóa, làm lợi, bỏ hại, mở mới cho tai mắt, định yên cho tâm trí, để ai ai đều biết thánh triều coi dân như một, không phân trong ngoài. Tự nhiên dân nâng đội như mặt trời mặt trăng, thân yêu như với cha như với mẹ, vui vẻ hướng theo, không sinh lòng khác, cốt để bồi thêm nguyên khí, mở mang thái bình; để lại Phước tốt cho ức muôn năm không cùng hẳn là ở dấy”. Nhân điều trần 12 việc như sau:

    1. Mở kinh diên để tiến giảng. (Đạo trị nước của đế vương đời xưa đều chép trong sách, cúi xin sau khi muôn việc đã rảnh, sáu ngày ngự tới kinh diên một lần, sai nho thần thay đổi tiến giảng, tìm lấy gốc thịnh trị).

    2. Đặt khoa mục để kén học trò. (Tìm nhân tài thì lấy khoa mục làm đầu, là để ngăn sự cầu may mà tiến và chọn được chân tài. Xin định phép khoa cử, cứ tý ngọ mão dậu thì thi Hương, thìn tuất sửu mùi thì thi Hội, làm thường thức lâu dài).

    3. Bàn xét hình ngục. (Nay ở Bắc Thành việc hình ngục ứ đọng rất nhiều, xin ban điều luật định trình hạn cho quan biết mà giữ, dân biết mà theo).

    4. Xử án nặng. (Những vụ án về nhân mạng, trộm cướp có tang chứng rõ ràng, thì xét trị ngay; nếu việc còn mờ tối, nên để đợi xét ra, không được cho là trọng án mà tự bắt tra, làm lụy cho kẻ bình dân).

    5. Đặt Đô sát viên ngự sứ ở Bắc Thành. (Phàm quan lại không theo pháp luật, kẻ quyền thế ức hiếp người dưới, việc nhỏ thì xét xử ngay, việc lớn thì đàn hặc tâu lên, cho nghiêm phép làm quan; cuối năm kiểm duyệt các án do thành trấn đã xét, nếu có việc oan thì xét lại).

    6. Cấp ruộng lương điền cho lính giản ở Bắc Thành. (Năm Gia Long thứ 1, lệ định cấp tiền phụ dưỡng cho lính giản mỗi tháng một quan, nay xin lấy công điền công thổ của dân cấp cho 5 mẫu, không đủ thì lấy công điền thổ ở ấp láng giềng mà cấp, lại không đủ thì lấy công điền công thổ ở huyện bên mà cấp, và bỏ tiền phụ dưỡng đi. Các quản quan gần đây phần nhiều nhân việc bắt đóng góp, xin nghiêm cấm để trừ thói tệ lâu ngày).

    7. Kén nghĩa binh. (Phàm các nhà chiêu mộ nghĩa binh đều phải chọn những người tinh nhanh khỏe mạnh để phòng dùng đến, không được lấy người già yếu sung bổ mà mạo chi tiền lương).

    8. Coi trọng sức dân. (Nay phủ lỵ các trấn sửa xây gần xong, sau này có nơi nào nên sửa chữa việc nhỏ thì báo ở thành, việc lớn thì tâu lên, không được khinh dùng sức dân).

    9. Thu tô thuế. (Cai trưng cai lại ở trường thuế, ở thành thì ủy sai liêu thuộc Hộ tào, các trấn thì ủy sai thuộc ty, không được khinh thường mà ủy tư nhân; đòi hỏi ngoại ngạch và mưu đồ lợi riêng, đều cấm).

    10. Xét dân xiêu dạt. (Phàm dân các xã xiêu tán, phủ huyện phải đem việc báo lên trấn, trấn sai người hội khám, thành thần làm sổ tâu lên, đều lấy mười ngày làm hạn, không được chậm trễ; nếu phủ huyện báo cáo không thực và lại thuộc dìm đi để sách nhiễu thì có tội).

    11. Chiêu tập dân xiêu dạt. (Phàm dân các xã xiêu tán, xin hạ lệnh cho quan trấn phủ huyện để ý yên ủi khiến trở về; nơi nào hộ khẩu hằng năm tăng lên thì hậu thưởng để khuyến khích).

    12. Răn cấm nơi cửa ải bến đò. (Từ trước tới nay đánh thuế cửa ải và bến đò, cứ 40 phần thì lấy 1, đã thành phép không nặng không nhẹ. Gần đây những kẻ vụ lợi tranh nhau trưng thầu, vật rẻ mà định giá đắt, hàng nhẹ mà đòi thuế nặng, dân buôn thường thường than vãn, xin nghiêm răn cấm).

    Sớ dâng lên. Vua rất khen ngợi. Đến khi bệ từ, lại dâng biểu xin cử Hồ Công Thuận là Tri phủ Tĩnh Gia, Trương Công Vi là Tri phủ Kiến Xương làm Thiêm sự Hình bộ sung làm việc tào. Vua y cho.

    Đưa quốc trưởng nước Nam Chưởng là Chiêu Ôn Mãnh sang nước Thanh. Trước đây Ôn Mãnh mất nước, chạy sang đầu ngụ ở châu Chiêu Tấn. Khi vua lấy được Bắc Hà; Ôn Mãnh đến hành tại bái yết. Vua cho rằng nhà nước mới định, chưa rỗi tính việc xa xôi, khiến trở về châu Chiêu Tấn, và dụ bảo trấn thần để cho được tự do đi lại. Sau Ôn Mãnh cùng với người trong châu là Đèo Quốc Uy có hiềm khích, nhân đêm trốn đi. Châu trưởng sai thuộc hạ là Phìa Trại đi tìm không được, nói dối là Ôn Mãnh đã chết đường rồi. Năm ngoái Ôn Mãnh tới trấn bày kêu. Thành thần làm biểu đưa Ôn Mãnh về Kinh. Vua bàn với bày tôi rằng: “Ôn Mãnh theo về ta là muốn mượn thanh thế để lấy lại nước thôi. Làm cho nước mất dấy lên mối đứt nối lại vẫn là lòng nhân của vương giả, nhưng đem quân đi xa, chỗ được không bù chỗ mất. Ôn Mãnh đã từng nhận sắc ấn của nhà Thanh chi bằng ta đưa về nhà Thanh, để cho nhà Thanh mưu tính. Nếu người Thanh nhận thì Ôn Mãnh có chỗ trở về, bằng không nhận thì ta cũng có chỗ nói được. Bèn sai gửi thư cho nhà Thanh, và đưa Ôn Mãnh đến cửa ải Lạng Sơn để chờ. Người Thanh cho rằng Ôn Mãnh không hay tự lập bèn khước từ mà thu lại sắc ấn.

    Vua lại sai thành thần cho Ôn Mãnh ở châu Chiêu Tấn và cho 100 lạng bạc, 200 quan tiền. Rồi Ôn Mãnh bị bệnh chết.

    Cấp lương ăn cho tù tội, từ tội đồ tội lưu đến trảm giảo giam hậu, mỗi tháng cấp cho mỗi người 10 thăng gạo, sở tại hằng năm làm sổ tâu lên; người bị giam xét chưa kết tội thì không ở lệ này.

    Gọi 3.000 người ở ngũ quân Bắc Thành về Kinh.

    Triệu Nguyễn Duy Hòa và Trần Văn Tuân về Kinh chờ chỉ. Hòa trước làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng, Tuân làm Ký lục Bình Định, đều bị tội phải miễn chức. Nguyễn Văn Thành dâng sớ nói hai người này có tài khí kiến thức, xin cho lục dụng. Vua theo lời xin nên triệu đến.

    Chánh thống lãnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái tâu rằng Quách Tất Thúc và Trịnh Vân trốn xa vào rừng núi, tự xin ủy người đi dò các nơi tìm bắt. Vua dụ rằng: “Xem tờ tâu của người đủ thấy tấm lòng thành khẩn. Duy bọn Quách Tất Thúc đương cùng nên phải trốn lánh, không có nơi nhất định, trẫm đã cho các quan địa phương để ý đề phòng. Ngươi nên đóng giữ địa hạt mình, đề phòng nghiêm nhặt, không cần ra ngoài địa phận để tìm bắt”. Hơn một tháng, Tất Thúc sai con là Tất Toại lẻn tới Thanh Hoa thú tội, trấn thần gửi thư gọi về, nhưng Tất Thúc dùng dằng, cuối cùng không chịu ra.

    Lưu thủ Quảng Nam là Tôn Thất Huyên tự tiện thả tù ăn cướp và dung túng cho quân đánh bạc, việc phát, giáng làm Cai cơ. Cai bạ Nguyễn Tường Vân và Ký lục Lê Văn Hậu vì thất sát bị giáng làm Thiêm sự.

    Lấy Vệ úy Ban trực là Nguyễn Cửu Khoáng làm Lưu thủ Quảng Nam, Thiêm sự Lại bộ là Nguyễn Xuân Tình làm Ký lục.

    Phục chức cho Trần Văn Tuân làm Cai bạ.

    Đặt thêm kho thuốc súng và kho Nội đồ gia.

    Sai Quản cơ cơ Tiền thủy là Nguyễn Văn Hạnh, Quản cơ cơ Hậu thủy là Cao Công Giang chở gỗ đá ở Thanh Hoa về Kinh.

    Cấm quan dân không được mua bán dân Man làm nô. Dân nguồn Chiên Đàn ở Quảng Nam có người đi cướp người Man ở nguồn Đà Bồng thuộc Quảng Ngãi đem bán cho bình nhung Trần Đắc Xiêm. Vua nghe tin, cho rằng Đắc Xiêm không biết pháp luật, đánh 50 roi, thả người Man về. Lại ra lệnh cấm, trái lệnh thì tội đồ.

    Lấy Đông các học sĩ Nguyễn Du làm Cai bạ Quảng Bình, Hàn lâm thị thư Nguyễn Khoa Minh làm Thiêm sự Hộ bộ sung việc Hộ tào Bắc Thành.

    Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Trần Quang Tĩnh ốm phải nghỉ việc. Phục chức cho Nguyễn Duy Hòa làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ. Dụ rằng: “Điều cốt yếu của người làm quan là phải trong sạch siêng năng, ngươi nên cố gắng”.

    Quan tài Duệ tông Hiếu định hoàng đế từ Gia Định đưa về, thành thần đem việc tâu trước. Vua bàn đến Quảng Nam rước, sai bọn Phạm Văn Nhân, Trần Văn Trạc, Lê Quang Định đi trước. Xuống chiếu dụ lại dân ở Quảng Nam rằng: “Quảng Nam sát gần Kinh sư triều đình lấy làm quận chân tay. Từ khi lấy lại đến nay, lễ thăm địa phương còn thiếu, sự tình u ẩn hà dễ nhất nhất rõ hết! Nay Tử cung Duệ tông Hiếu định hoàng đế chở từ Gia Định về, trẫm thân hành đem bầy tôi đi đón. Đặc sai các đại thần đi trước, nhân dân địa phương ai có sự gì oan khuất, làm đơn kêu sẽ do đại thần duyệt tâu để rõ ẩn tình của dân. Ngày xa giá đến, quan quân dân chúng không được tiến dâng gì cả”.

    Sai Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm, Đặng Đức Siêu, Phạm Đăng Hưng, Lê Viết Nghĩa lưu giữ Kinh thành.

    Ngày Canh tuất, xa giá bắt đầu từ Kinh sư ra. Ngày Giáp dần đến Quảng Nam. Vua đem bầy tôi đón quan tài Hiếu định hoàng đế ở cửa biển Đại Áp, buổi sớm buổi hôm vua thân làm lễ điện.

    Tháng 5, ngày Nhâm tuất, quan tài đến Kinh. Dựng trước điện lợp tranh ở bến sông Hương, đặt quan tài ở đó, sai Tôn Thất Bính sớm hôm làm lễ điện. Thưởng cho thủy quân hơn 2.000 quan tiền, sai Tống Phước Lương theo thứ bậc chia cấp. Phát các quân xây đắp sơn lăng và các sơn phần. Thưởng hơn 4.000 quan tiền. Sai thành thần Gia Định triệt hết vật liệu ở miếu cũ, đốt sạch đi.

    Tháng 6, ngày Quý mão, an táng ở lăng Trường Thiệu (ở núi La Khê). Trước ngày an táng vua nghỉ chầu bảy ngày, bố cáo trong ngoài, cấm xử xét việc hình án và cấm âm nhạc, hát xướng, mặc áo màu đỏ màu tía, và cưới xin trong bảy ngày.

    Ngày Canh tý, kính cáo Thái miếu. Ngày Nhâm dần, tế tổ điện và tế khiển điện, đều sai Tôn Thất Thăng làm lễ. Hôm ấy an táng (phụ để mộ thái sư Tôn Thất Đồng ở phía bên hữu). Tế ngu, vua thân làm lễ.

    Để mộ Mục Vương ở Long Hồ, mộ Anh duệ hoàng thái tử ở Dương Xuân. Ngày an táng, vua thân hành đi đưa.

    Các quan tài của hoàng hai là Thiếu úy Hy, hoàng ba là Tuấn, Thiếu phó Tôn Thất Chi, Tôn Thất Xuân, Thái phó Tôn Thất Huy, Tiền quân Tôn Thất Hội, đều sai Lễ bộ trị việc tang. Ngày an táng sai hoàng tử hoàng tôn đến đưa. Cho mộ phu theo thứ bậc.

    Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành dâng biểu tiến sách Đại học diễn nghĩa, đại lược nói: “Sách Đại học là phép người xưa dạy người ở bực đại học và là nguồn vực truyền dạy của thánh môn đại cương của sách là: “Minh đức tân dân chỉ chí thiện” [Sáng đức mình, mới đức dân, đều đến chỗ chí thiện], mục của nó là: “Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” [Xét cùng lễ vật, biết đến nơi, thực ý, ngay lòng, sửa mình, tề nhà, trị nước, bình thiên hạ]. Cái đạo cùng lẽ ngay lòng, sửa mình trị người, thực đủ ở đấy. Nhà Nho đời Tống là Chân Đức Tú làm sách Diễn nghĩa, nhà Nho đời Minh là Khâu Tuấn bổ thêm, đều để sáng rõ những điều cốt yếu, sách trước đã suy từ điều cốt yếu về sáng đức mình để làm gốc cho việc mới đức dân, sách sau thì nêu những điều cốt yếu về mới đức dân để thu thành công về sáng đức mình. Trong đó đầu tiên là lấy lời dạy rõ ràng của thánh hiền, tham hợp với sự tích xưa nay, lại phụ thêm những lời phát minh của các tiên nho, chia từng điều, tách từng sợi, thể dụng đều đủ, không những có thể để giảng ở chốn kinh diễn mà những người học giả đều cần phải biết. Nhưng vì sách ấy nhiều quyển nhiều pho mà người buôn nước Thanh ít đem sang, nên từ trước đến nay người học giả ít được thấy.:rose: