0014.01.07 Trang [73]-[85] hnnt99 (đánh máy xong) - (soát lỗi xong)

15/8/15
0014.01.07 Trang [73]-[85] hnnt99 (đánh máy xong) - (soát lỗi xong)
  • http://www.mediafire.com/view/bgjizo7q0mho2ov/0059._Nghien_Cuu_Ngon_Ngu_Hoc00007.pdf


    Ngoài ra còn có hiện tượng bỏ danh từ chính và tính từ chính. Ví dụ:

    - xí nghiệp quốc doanh > quốc doanh (Ví dụ: quốc doanh văn phòng phẩm Hồng-hà)

    - nhà máy (hay: xí nghiệp) cơ khí > cơ khí (Ví dụ: cơ khí Nam-thái)

    - cá nhân chủ nghĩa > cá nhân

    - tương đối tốt (hoặc: tương đối giàu. v.v...) > tương đối; v.v...

    2. Đối với các từ nói tắt đã nêu lên làm ví dụ ở những điểm 1.1 -1.4, xưa nay, không có ai phản đối cả. Nhưng việc nói tắt từ và những từ nói tắt như:

    - phê (phê hình), phát (phát biểu), hợp (hợp tác xã).

    - khoa phổ, khoa kĩ, phát sáng,

    - y bác sĩ, bộ thứ trưởng, chiến kĩ thuật,...

    - cao xà lá,... thì bị nhiều người lên án.

    3. Tại sao vậy? Đó là điều mà người lính công tác ngôn ngữ học cần phải nghiên cứu.

    3.1. Phải nhận rằng hiện tượng từ nói tắt, nhất là những hiện tượng 1.3 và 1.4, là những cái mới, cái phát triển trong tiếng Việt. Tất nhiên không thể nói được rằng trước đây không có hiện tượng từ nói tắt. Khi Nguyễn Du viết:

    Lạ thay thanh khí tương truyền[1] thì Nguyễn Du đã nói tắt rồi.

    Nhưng dù sao thì những từ nói tắt như vậy vẫn chưa nhiều, và một điều quan trọng hơn là chúng chưa đi vào ngôn ngữ toàn dân, chưa xuất hiện nhiều trong lời nói hằng ngày. Trái lại, hiện nay, những từ nói tắt đã trở nên rất phổ biến.

    3. 2. Có người cho rằng những từ nói tắt như rập khuôn những từ nói tắt của tiếng nước ngoài. Không ai phủ nhận được ảnh hưởng qua lại của một thứ tiếng với các tiếng nước ngoài. Nhưng ở ngôn ngữ nào đó có một hiện tượng mới trong ngôn ngữ thì trước hết ta phải giải thích sự ra đời của nó bằng những điều kiện của bản thân ngôn ngữ ấy và của xã hội dùng ngôn ngữ ấy. Trước đây ta đã có những cách nói tắt riêng (đã trình bày ở điều 1.1. và 1.2.). Những điều đó là cơ sở cho chúng ta tiếp thu những cách nói tắt mới (3.4). Hơn nữa, trong khi làm công cụ thông báo giữa người và người trong xã hội Việt-nam, tiếng Việt còn thu hút thêm một số cách nói tắt mới để làm phong phú cho phép tạo từ của mình. Vì thế, không nhữ ta tiếp nhận những từ nói tắt như:

    văn hóa, giáo dục > văn giáo;

    văn học, nghệ thuật > văn nghệ; v.v...

    mà còn làm cho kiểu tạo từ nói tắt này sinh sôi nảy nở.

    Những từ nói tắt do chúng ta sáng tạo ra sau đây đã chứng minh điều đó:

    tuyên truyền, huấn luyện > tuyên huấn;

    chỉnh đốn, huấn luyện > chỉnh huấn;

    thiếu niên, nhi đồng > thiếu nhi;

    giao thông, liên lạc > giao liên[2];

    tiếp tế, vận tải > tiếp vận;

    dân vận, chính quyền, đảng > dân chính đảng;

    công nhân, nông dân > công nông;

    thanh niên, phụ nữ, > thanh phụ, v.v...

    4. Song ý kiến cho rằng “đã công nhận sự phát triển thì phải thừa nhận những từ nói tắt phê, phát, y bác sĩ, v.v...” là không đúng.

    4.1. Ngôn ngữ phát triển theo những qui luật đặc biệt - những qui luật luật nội bộ - của nó, qui luật có thể gay nên nên sự biến đổi toàn bộ, đồng loạt, Nhưng cũng có qui luật cũng chỉ gây nên một sự biến đổi cục bộ, không đồng thời. Nhân dân - người sáng tạo ra ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ - là người phân xử phạm vi tác động của những qui luật đó. Ta không thể lấy nê “qui luật” này “qui luật” nọ để bỏ qua điều đó. Lấy một vài ví dụ trong tiếng Việt thì đủ rõ. Qui luật chi phối những từ nói tắt trình bày ở điều 1.1. không có tác dụng đốt với mọi từ thuộc loại này, có trường hợp qui luật này và qui luật nọ “giữ nguyên trạng thái cũ”, không phân thắng bại. Vì thế ta có thể nói bươm bướm hay bướm, chuồn chuồn hay chuồn, châu chấu hay chấu, đòng đòng hay đòng. Có trường hợp qui luật này thất bại. Những từ như đòng đong, cân cấn, săn sắt, kim kim, chiền chiện v.v.. vẫn còn nguyên là vì thế. Về những từ ghép cũng vậy, ta nói X nhưng không nói “tiến X” (tiến sĩ X), nói Quận He nhưng không nói “Hầu Y”, “Nam Z”, (nói Hầu tước Y, Nam tước Z), v.v... Ta có thể nói Việt - Xô, Việt - Tiệp nhưng không nói “Việt - An”, “Việt – Ru”, “Việt – Bun” (nói Việt-nam - An-ba-ni, Việt-nam – Ru-ma-ni, Việt-nam - Bun-ga-ri).

    Giữa một số ngôn ngữ, có thể có một cách ghép từ nào đó hoàn toàn giống nhau. Nhưng không phải là trong mọi trường hợp cụ thể của từng ngôn ngữ, cách ghép ấy đều có tác dụng như nhau. Ví dụ: tiếng ta và tiếng Hán đều có thể nói phản X (chống X), nhưng ta chỉ nói phản đế, phản phong, chứ không nói phản tu (chống chủ nghĩa xét lại), phản hữu (chống phe hữu), v.v... hơn nữa nếu cho rằng đã có thể nói phản đế, phản phong ắt có thể nói “chống đế, chống phong”, thì sẽ sai lầm. Vì thế ta không tiếp nhận những từ khoa phổ (phổ biến khoa học), khoa kĩ (khoa học kĩ thuật), thổ cải (cải cách ruộng đất), trấn phản (trấn áp phản cách mạng), Mĩ đế (đế quốc Mĩ), v.v... Và chính cũng vì thế nên có những trường hợp ta có thể nói tắt mà tiếng Hán lại không nói tắt được.

    Hán ------------------------------------------------- Việt

    vô sản giai cấp chuyên chính------------chuyên chính vô sản

    tư sản giai cấp tư tưởng thế hệ -------- hệ tư tưởng tư sản

    phong kiến chủ nghĩa đầu não. --------- đầu óc phong kiến

    4.3. Không phải hiện tượng mới nào trong lời nói cũng cần được tiếp nhận ngay vào ngôn ngữ. Trong lời nói, có nhiều hiện tượng tạm thời, hay thay đổi, mang dấu vết của cá nhân hay một tập thể nhỏ bé. Dù những hiện tượng ấy có “mới” chăng nữa, chúng ta cũng phải cân nhắc, phải nghe ngóng ý kiến của số đông người và phải phân tích được bản chất của những hiện tượng ấy. Ví dụ như những từ hợp (hợp tác xã), mậu (mậu dịch), khu cao xà lá (khu cao su, xà phòng, thuốc lá), Bộ tổng (Bộ tổng tư lệnh), ông Liên (Liên-xô), ông An (An-ba-ni), v.v… Chỉ có tính chất khẩu ngữ, hay biến đổi không gây nên một mĩ cảm gì cho người nghe. Vì thế cần phải phê phán hiện tượng này.

    4.4. Rõ ràng là sự ra đời của những từ nói tắt trong tiếng Việt phần lớn thể hiện “nguyên lí tiết kiệm” trong lời nói. Ngôn ngữ là công cụ thông báo quan trọng nhất của loài người. Khi ta thông báo cho người khác biết một ý nghĩ, một sự mong muốn, một cảm xúc thì bình thưởng, ta muốn cho người khác có sự phản ứng (như sự đồng tình, hành động, v.v…) kịp thời, nhanh chóng đối với điều ta thông báo. Vì thế, nói chung, ta muốn cho lời nói tác động nhanh chóng đến cơ quan cảm thụ của người nghe. Số lượng tín hiệu thông báo phát ra vì vậy cần phải ngắn gọn, đủ để thông báo một nội dung nào đó là được. Lời nói thường được hoàn cảnh nói “che chở”. Vì những lí do đó, trong phong cách khẩu ngữ, thường hay có hiện tượng nói tắt. Một điều đáng để ý là những đơn vị mà tần số sử dụng cao (như những tiếng chào hỏi, những câu nói quen thuộc), những từ được khái quát hóa một lần nữa trong ngôn ngữ (như: ăn, đọc, học, viết...), những từ bị hạn chế về mặt kết hợp với từ khác, phát âm ra là người ta đoán được từ đi sau - tức là những từ mà lượng thông tin ít - (như những từ tăng gia, tranh thủ, v.v...), thì thường hay bị nói tắt. “Nguyên lí tiết kiệm” vì thế có túc dụng trong mọi ngôn ngữ. Hãy lấy tiếng Pháp làm ví dụ; người Pháp có những cách nói tắt như sau;

    a) Bỏ một vài âm tiết của từ:

    cinéma > ciné (chiếu bóng);

    automobile > auto (ô tô) v.v...

    b) Bỏ từ tố phụ, giữ từ tố chính;

    Chambre dés deputes > Chambre (Viện dân biểu);

    bas-de-chausses > bas (bít tất ngắn);

    maréchal ferrant >maréchal (người bịt móng ngựa),

    c) Bỏ từ tố chính, giữ từ tố phụ:

    capitaile général > général (tướng);

    ville capitale > capitale (thủ đô),

    d) Vừa bỏ từ tố chính, vừa bỏ một số âm tiết của từ tố phụ:

    chemin de fer métropolitain > métro (xe điện ngầm)

    e) Bỏ phụ ngữ của động từ:

    rapporter (sinh lợi; nguyên văn: mang lại), déposer (lắng cặn; nguyên văn: đặt xuống).

    Ví dụ: cette affaire rapporte (việc này có lợi);

    le vin dépose (rượu vang lắng cặn)[3].

    Tất cả những từ nói tắt và lối nói tắt từ này đã có tính vững chắc và đã vào kho từ vựng ngôn ngữ văn học. Trong lời nói hằng ngày, từ nói tắt lại càng nhiều:

    l’Huma < l’Humanité (báo Nhân đạo);

    mathélem < mathématiques élémentaires (toán học sơ cấp);

    prof < professeur (giáo sư), v.v...

    Cho nên phải giải thích những hiện tượng nói tắt bằng “nguyên lí tiết kiệm” là điều thỏa đáng.

    Song vạn năng hóa “nguyên lí tiết kiệm”, không thấy mặt đối lập của “nguyên lí” này, không thấy tính chất đặc thù của các “qui luật”, các “nguyên lí” thì sẽ đi đến chỗ cực đoan. Quả là “nguyên lí tiết kiệm” có tác dụng trong việc rút gọn lời nói, trong việc rút gọn cấu tạo của từ, trong việc cấu thành hệ thống âm vị. Trong việc đặt từ mới trong ngôn ngữ, v.v... Nhưng người ta còn thấy một khuynh hướng ngược lại, đó là “nguyên lí tăng thêm”. Chẳng hạn như có khi lời nói phải tăng thêm đơn vị cấu trúc lên, có từ tăng thêm âm tiết, có hệ thống âm vị phát triển thêm về mặt số lượng, có những từ hoàn toàn mới, không dựa vào những từ tố sẵn có, được bổ sung vào vốn từ vựng, v.v... Ví dụ: trong tiếng Việt văn học học hiện đại, số lượng sáu thanh điệu là kết quả một sự tăng thêm (so sánh với tiếng Mường và các phương ngôn thổ ngữ mới thấy được điều này). Có những từ tăng thêm âm tiết mà không mang thêm sắc thái ngữ nghĩa hay tu từ gì cả: cướpăn cướp, quịtăn quịt, thình lìnhbất thình lình, đúngđúng đắn, v.v... Ngoài ra, trong lời nói, còn biết bao nhiêu cách nói hay và đẹp (như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, v.v…) cần phải thêm số lượng tín hiệu thông báo. Hơn nữa, ngay trong lời nói, việc nói tắt cũng bị hạn chế, có thể nói “tôi học y” nhưng không thể nói “thạc sĩ y”, “nền y Việt-nam” có thể nói li A, nhưng không thể nói “li Nguyễn Văn A”, v.v... Những từ nói tắt - như ATK, SKZ, v.v... lại không “tiết kiệm” được một âm tiết nào. Xem thế thì đủ biết chỉ thấy một chiều tác dụng của “nguyên lí tiết kiệm” là không đúng.

    Đáng để ý là một trong những người đề xướng ra thuật ngữ “nguyên lí tiết kiệm” trong ngôn ngữ - A.Ma-ti-nê - cũng phải thừa nhận rằng: nguyên lí “économie”[4] (nhiều người vẫn dịch là “tiết kiệm” không phải chỉ là “tiết kiệm”. Ông ta viết: “Économie” bao gồm tất cả: giảm bớt những sự phân biệt vô ích, xuất hiện những sự phân biệt mới, giữ nguyên trạng thái cũ, “Économie” ngôn ngữ học là sự tổng hợp của các “lực lượng tồn tại”[5].

    Như vậy rõ ràng “économie” theo ý của người đề xướng ra thuật ngữ này là “sự tổ chức”, “sự điều tiết” chứ không phải chỉ là “tiết kiệm”. Sự thực trong các ngôn ngữ chứng minh rằng ý kiến của A. Mác-ti-nê là xác đáng.

    4.5. Trong khi giải quyết vấn đề nói tắt, không nên quên rằng ngôn ngữ còn là công cụ của tư duy, rằng ngôn ngữ và tư duy gắn bó khăng khít với nhau. Tư duy càng phát triển, ngôn ngữ càng dồi dào, tinh tế và ngược lại. Một trong những đòi hỏi của tư duy chính xác là phải dứt khoát, tránh mập mờ. Lời nói chính xác cũng đòi hỏi tránh những lối nói nước đôi, không rành rọt có thể hiểu làm nhiều cách. Lối nói tắt từ trình bày ở trên rõ ràng là không thế thỏa mãn được đòi hỏi này. Khi từ thoát li mới mượn vào tiếng Việt thì lượng thông tin của nó rất ít; nó chỉ dùng trong thoát li sản xuất hoặc thoát li gia đình. Nhưng ngay nay nói là “thoát li” thì biết là “thoát li” cái gì? Thoát li quần chúng, thoát li quan hệ, hay thoát li cái gì khác? Tranh thủ đâu chỉ có là “tranh thủ thời gian”? Còn có thể tranh thủ sự đồng tình, tranh thủ sự giúp đỡ, tranh thủ độc lập, tranh thủ hòa bình, v.v,.. Vì thế, nói trống không như vậy là làm cho lời nói kém rõ ràng và phản ánh một lối suy nghĩ không chu đáo, một lối nói cẩu thả.

    Không những phải tránh sự mập mờ mà còn phải tránh sự hiểu nhầm khi có khả năng tránh được. Nếu lấy nê tà “tiết kiệm” mà xóa bỏ sự phân biệt giữa cá nhân / cá nhân chủ nghĩa; khách quan / khách quan chủ nghĩa; xã hội / xã hội chủ nghĩa; bảo tàng / Viện bảo tàng, v.v… thì sẽ có sự hiểu nhầm tai hại. Cũng vì thế phê bình mà nói tắt thành phê thì có thể lẫn với phêphê chuẩn; phát biểu mà nói tắt thành phát thì có thể lẫn với phát trong phát giấy, phát tiền, v.v...

    Nhiều người không tán thành những từ nói tắt loại y bác sĩ, bộ thứ trưởng, v.v... Người nghiên cứu ngôn ngữ không thể vội vàng cho là “bảo thủ”, là “cảm tính”, v.v... Nghiên cứu kĩ thì ta sẽ thấy việc phản đối những từ nói tắt ấy có lí do xác đáng. Đồng chí Quang Đạm có nêu ra rằng theo qui tắc tiếng Việt, hai từ tố đầu phải tạo thành một từ độc lập, như công thương[6], y bác, bộ thứ, chiến kĩ… rõ ràng không có khả năng ấy. Nhưng theo ý chúng tôi điều đó chưa hoàn toàn đúng vì ta vẫn có thể nói hải lục không quân mà hải lục không phải là một từ độc lập. Theo ý chúng tôi, điều quan trọng hơn là những từ tố đầu đó phải “đối lập” với nhau, nghĩa là phải có tác dụng phân biệt sự vật này với sự vật khác. Côngthương có tác dụng phân biệt hai ngành kinh tế; trái lại ybác, bộthứ, chiếnv.v… không có khả năng ấy. Vì vậy có thể kết luận rằng những từ đó không phù hợp với qui tắc tạo từ tiếng Việt, và chính điều đó làm cho những người nhạy cảm về những cái đặc sắc của tiếng Việt thấy ngay sự không thỏa đáng của chúng.

    Ở đây chúng tôi muốn nói thêm từ tâm sinh lí. Ta không nên vội qui từ này vào cùng một loại với y bác sĩ. Tâm sinh lí, nếu tương tương với từ psycho- physiologique, nghĩa là dùng để chỉ một hiện tượng trung gian, thì ta nên để. Nếu dùng để chỉ chung hai ngành khoa học hoặc hai khía cạnh có liên quan với nhau thì không nên. Trong trường hợp này nên dùng cả hai từ đầy đủ tâm lí (và) sinh lí.

    4.6. Trong ngôn ngữ, nguyên lí suy phỏng đóng một vai trò rất quan trọng. Nhưng không thể vì thế mà quên rằng trong khi dùng ngôn ngữ vào lời nói, người ta rất chú ý đến cái đẹp. Nếu một từ nào đó làm cho người ta liên tưởng đến một từ khác chỉ một sự vật hay một tính chất không tốt, hoặc có thể gây cười thì dù có cần nói tắt, dù là phong cách khẩu ngữ, người ta cũng không thích nói tắt. Chính điều này cắt nghĩa được tại sao nghe đến ba tiếng cao xà lá là người ta có phản ứng



    BÙI KHẮC VIỆT

    VÀI SUY NGHĨ VỀ VIỆC DÙNG TỪ ĐÚNG NGHĨA

    Các từ kết hợp với nhau, trước hết căn cứ vào nghĩa, cho nên dùng từ đúng nghĩa là yếu lố đầu tiên đảm bảo cho lời nói diễn đạt được đầy đủ chính xác tư tưởng. Tình cảm của người nói người viết. Nhưng thế nào là dùng từ đúng nghĩa, sai nghĩa? Cần thống nhất tiêu chuẩn đánh giá cái đúng, cái sai để việc chọn từ, việc phê bình cách dùng từ có căn cứ khách quan hơn. Trong bài này, chưa có điều kiện bàn đến vấn đề dùng từ hựợp với phong cách, chúng tôi chỉ nêu lên một số suy nghĩ bước đầu, nhắm trao đổi ý kiến về hai vấn đề:

    1. Lấy tiêu chuẩn nào để đánh giá từ được dùng đúng nghĩa hay sai nghĩa? Đặc biệt, đối với các từ vay mượn của tiếng Hán thì lấy nghĩa trong tiếng Hán hay lấy nghĩa trong tiếng Việt làm căn cứ để đánh giá?

    2. Nếu dùng từ không theo nghĩa thông thường của xã hội thì trường hợp nào là dùng từ sai, trường hợp nào là dùng từ có sáng tạo?

    *

    * *​

    Muốn trao đổi tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ, người ta phải phát ra các âm thanh, và từ khi có chữ viết thì có thể dùng chữ viết để ghi lại các âm thanh đó. Người nghe hiểu được điều người khác nói, vì xã hội đã qui định thống nhất để mỗi âm thanh hoặc tổ hợp âm thanh có một nghĩa hoặc một số nghĩa nhất định. Âm thanh là cái vật chất, là hình thức tồn tại của từ, nhờ nó mà ngôn ngữ phát triển và truyền từ người này đến người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nghĩa của từ là nội dung, là phần tư tưởng tình cảm hay thực tế cuộc sống do âm thanh biểu thị. Tuy trong nhiều trường hợp, không tìm được lí do để giải thích lại sao âm thanh này lại có nghĩa này, nhưng vì từ là sản phẩm của toàn xã hội và được dùng theo truyền thống, nên người ta cứ dùng từ với nghĩa đã có sẵn. Từ được coi là dùng đúng, khi âm thanh của nó tương ứng với nghĩa mà xã hội thường dùng trong một thời kì lịch sử nhất định. Nếu không có căn cứ chính đáng mà tự ý mình gán cho âm thanh những nghĩa không hợp với qui định của xã hội, không hợp với qui luật phát triển của nghĩa từ, làm cho người nghe không hiểu, thì đó là dùng từ sai,

    Nghĩa của từ có thay đổi trong lịch sử, vậy phải lấy nghĩa từng thời kì nào làm tiêu chuẩn? Lấy nghĩa từ nguyên, nghĩa hiện đại, hay nghĩa trong thời gian người ta dùng từ, làm căn cứ?

    Nghĩa của từ phải tương đối có tính chất ổn định, để những người thuộc các thế hệ khác nhau (như ông, cha, con, cháu,..) có thề hiểu được nhau. Nhưng, mặt khác, từ lại là một yếu tố có liên hệ với thực tế xã hội, nên những thay đổi trong thực tế, trong đời sống thực tế, trong tình cảm, ý thức, trong yêu cầu diễn đạt tư tưởng trong tình cảm, ý thức, trong yêu cầu diễn đạt tư tưởng của người ta, ít hay nhiều, sớm hay muộn có ảnh hưởng đến nghĩa của từ. Các từ có thể thu hẹp nghĩa, mở rộng nghĩa, thay dổi nghĩa đến mức khác rất xa với nghĩa từ nguyên (nghĩa ban đầu của từ). Lẩy nghĩa từ nguyên để phê phán cách dùng từ ngày nay, hoặc lấy nghĩa hiện đại của từ làm căn cứ để khen chê cách dùng từ trong thời gian trước đều là trái với thời điểm lịch sử. Ví dụ, ta không thể căn cứ vào nghĩa hiện đại của từ phản động để phê phán cách dùng từ đó cách đây hai mươi năm. Sau Cách mạng tháng Tám, từ phản động còn nghĩa như “phản ứng”, ngày nay (có lẽ vì chịu ảnh hưởng nghĩa từ réaction trong tiếng Pháp, reaction vừa có nghĩa là “phản ứng”, vừa có nghĩa là “phản động”)[7]. Mãi đến năm 1945 - 1946, rải rác còn có thế thấy trên báo Sự thật từ tổ “sự phản động của nhân dân”, với nghĩa như “sự phản ứng của nhân dân”. Ngày nay ta có hai từ để diễn đạt hai khái niệm khác nhau (phản ứngphản động), điều đó chứng tỏ ngôn ngữ ngày càng phát triển đến hoàn thiện hơn, nhưng không vì thế mà căn cứ vào nghĩa hiện đại để kết luận cách dùng từ phản động năm 1945 là sai. Nghĩa của từ là một hiện tượng thay đổi trong lịch sử, cho nên phải lấy nghĩa thông dụng trong giai đoạn lịch sử mà người ta dùng từ để đánh giá dùng sai.

    Vấn đề đánh giá cái đúng, cái sai trong việc dùng từ vay mượn cũng là một vấn đề cần thảo luận. Hiện nay chúng ta dùng từ gốc Hán còn sai nhiều, tình trạng khá phổ biến là dùng nhầm lẫn những từ có âm thanh na ná giống nhau, như bá cáo với báo cáo, v.v... Việc chỉ ra những thiếu sót đó là rất cần thiết và bổ ích để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Nhưng có điều cần thảo luận là có nên căn cứ vào nghĩa trong tiếng Hán




    [1]Thanh khí < đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu.

    [2]Dùng trong phương ngôn miền Nam.

    [3]Tham khảo S.Ullmann, Précis de sémantique française Berne, 1952. tr, 289 - 291.

    [4] Chúng tôi cố ý giữ nguyên thuật ngữ này vã sẽ dịch ở dưới.

    [5] Martinet, Économie des changements phonétiques, Berne. 1955 tr. 97.

    [6] Xem bài đã dẫn ở chú thích (1).

    [7] Các từ điển xuất bản trước Cách mạng tháng Tám như Việt-nam từ điển của Hội Khai trí tiến đức và Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh đều không có từ phản ứng. Việt-nam từ điển giải thích từ phản động là: hành động trái lại với việc khác: có sức phản động rất mạnh; Hán-Việt-từ điển cũng định nghĩa tương tự như vậy: hành động hoặc vận động trái lai.


    Lưu ý:
    - Chú thích [6] giống với một chú thích ở gói trước
    Không có 4.2. (4.1. đến luôn 4.3. , 4.4.)
  • Đang tải...
tducchau and teacher.anh like this.