070. Trang [0759-0769] - @Lazer (done) [team02]

23/1/16
070. Trang [0759-0769] - @Lazer (done) [team02]
  • Nay thánh thượng dùng võ công dẹp yên thiên hạ, đem văn giáo mở mang thái bình, muốn đưa người đời đến chỗ không đâu hơn nữa, hạ thần nhân thấy đức ý bèn đem sách ấy để khắc, khắc xong, in thành một bản để tiến lãm. Cúi xin ban cho in ra phát hành, khiến người trong nước đều biết ý thánh thượng muốn nêu ra, để cho nhà nhà cùng truyền, người người cùng đọc, đối với phép dạy dân hóa tục, tin chắc rằng bổ ích không nhỏ vậy”.

    Lấy Vệ úy vệ Uy võ là Bùi Công Điền đóng giữ bảo Hà Trung.

    Sai Phó quản cơ cơ Hữu thủy là Lê Văn Duyên chở gỗ đá ở Quảng Nam về Kinh, để dựng các cửa Kinh thành: thưởng cho các quân 4.800 quan tiền.

    Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng: “ở trấn sửa sang thành trì kho tàng lấy 6.000 dân làm việc, nay đến mùa làm ruộng, xin hãy cho về, khi làm ruộng xong sẽ lại đến làm”. Vua theo lời tâu.

    Định trình hạn thuế sản vật biệt nạp ở Bắc Thành. Lệ cũ mỗi năm thu thuế thổ sản, cứ tháng 7 năm nay bắt đầu đến tháng 7 sang năm thì xong. Đến nay thành thần xin chia mỗi năm làm hai hạn, từ tháng 7 đến tháng 12 làm một hạn, trưng thu đúng ngạch, cuối năm làm sổ. Lại xin chế triện gỗ cấp cho các Tổng trưởng và các Xã trưởng mỗi người một cái, phàm thừa hành việc công thì dùng làm tin. Vua đều y cho.

    Thả quân Thần sách ở Thanh Nghệ về, sai trấn thần thưởng cho mỗi người 3 quan tiền.

    Sửa hành cung Sơn Nam thượng.

    Định lại lệ cấp lương điền cho quân lính. Năm Gia Long thứ 5 [1806] chuẩn cấp lương điền cho các vệ đội thuyền Thị trung, Trung hầu, Chấn uy, Nội trực, Tiểu sai, Thị trà, Loan nghi, Tả vệ, Hữu vệ, Nội hoàng kiếm, Nội thủy, Phấn dực, mỗi người 1 mẫu, ngoài ra đều không được dự. Đến nay sai đình thần đem hết dinh vệ cơ đội các quân trong ngoài chia làm ba hạng, đều lấy công điền sở tại cấp cho. (Mười vệ Thị trung, tám đội thuyền Trung hầu nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, ba đội Chấn uy nhất, nhị, tam, các đội của vệ Nội trực, các đội của đội Tiểu sai, đội Thị trà, đội Loan nghi, ba đội Tả vệ, Hữu vệ, Nội hoàng kiếm, mười đội của vệ Chấn dực Nội thủy, ba vệ Thị tượng, các đội Nội mã, Tả mã, Hữu mã, Tư thiện, Thị hành, Thị nội, Trung cần thị nội, Nội cần thị nội, Nội sai, Ngoại trù. Tân nhị, lương điền mỗi người 1 mẫu, quân Thần sách, Trung dinh vệ Long võ; Tiền dinh vệ Ban trực tiền, Tả dinh vệ Ban trực tả, Hữu dinh vệ Ban trực hữu, Hậu dinh vệ Ban trực hậu, năm cơ thủy quân, năm đội Kiên thủy, lương điền mỗi người 9 sào; Trung quân hai vệ Trung bảo nhất, nhị, Tiền quân hai vệ Tiền bảo nhất nhị, Tả quân hai vệ Tả bảo nhất, nhị, Hữu quân hai vệ Hữu bảo nhất, nhị, Hậu quân hai vệ Hậu bảo nhất, nhị; quân Thần võ, hai vệ Võ bảo nhất, nhị; quân Chấn võ, hai vệ Chấn bảo nhất, nhị, Tượng quân, hai vệ Hùng cự, nhất, nhị, các cơ của Tượng quân; Trường thọ cùng, hai đội Thị trà, đội Thủ kiệu nhất, đội Phiên nhự nội; cơ Kiên thuận, các đội Cửu dực; Trung quân, năm đội Trung sai; Tiền quân, năm đội Tiền sai; Tả quân, năm đội Tả sai; Hữu quân, năm đội Hữu sai; Hậu quân, năm đội Hậu sai, ba đội Kiên dũng; Tượng quân, năm đội Hùng sai; sáu bộ các đội thuộc Kiên, lương điền mỗi người 8 sào).

    Bọn Tống Phước Ngoạn, Phạm Nhữ Phong, Mạc Tử Thiêm tự nước Xiêm về. Người Xiêm nhận đưa thư nói rằng nước ấy cùng Diến Điện đánh nhau, xin giúp cho 3 vạn quân thủy và quân bộ, quân bộ tiến từ Ai Lao, quân thủy do Hải Tây đến hội. Vua triệu bầy tôi bàn, dụ rằng: “Nước Xiêm cùng nước ta giao hiếu với nhau, nghĩa không thể không cứu được. Nhưng quân bộ đi theo thượng đạo, nghìn khe muôn núi, lặn trèo khó nhọc, ta không nỡ xua quân trong nước để phục dịch cho người phương xa. Thủy quân ta vốn đã tập quen, nếu dùng đường biển thì tiện. Đường biển có hai lối: một lối đi từ Lục Khôn Xa Gia Lục để hội với quân Xiêm thì chứa lương đóng quân nên ở chỗ nào? Một lối qua hải đảo các nước Chà Và Hồng Mao thẳng tới nước Diến Điện thì phải mượn đường ở người, nên nói thế nào? Phàm muôn dặm dấy quân là việc lớn của nước, phải nên xem xét kỹ càng, rồi sau mới có thể hành động được. Nay thư của người Xiêm nhiều chỗ phân rõ ràng. Vậy hạ lệnh cho Lại bộ làm thư hỏi xem. Mà trước hãy đem quân Kinh đến đóng ở Gia Định cho đông để chờ”. Thư người Xiêm lại nói nếu nước ấy có sự khẩn cấp thì xin cho sứ đi theo đường Ai Lao. Vua nói: “Ai Lao không phải là đường sứ đi. Không cho”.

    Sai Đô thống chế quân Thần sách là Trần Văn Năng quản 1.000 binh năm dinh, Đô thống chế lãnh phó tướng quân Chấn võ là Trần Văn Tín quản 400 lính vệ Chấn bảo, đi thú ở Gia Định, theo thành thần điều độ. Bọn Văn Năng đến nơi, Xiêm La lại phục thư nói rằng quân Diến Điện đã bãi rồi. Quân ta không phát nữa. Rồi hạ lệnh lưu Văn Tín ở lại thành, triệu Văn Năng về. Thưởng cho quân lính 3.000 quan tiền, từ Phó đội trở lên đều thưởng 1 tháng lương.

    Lấy Phó vệ úy vệ Tuyên uy Hậu quân là Tống Văn Tri làm Phó vệ úy vệ Hổ uy, đi thú Cao Bằng.

    Dinh thần Quảng Bình tâu xin rỡ bỏ gỗ kho cũ ở Thanh Hà và Động Hải, tạm dựng kho tranh ở Trung Thị (tên xã) để chứa thóc tô năm nay. Vua y theo.

    Thả các cục tượng Quảng Nam và Nghệ An về, thưởng cho cai đội thợ đóng thuyền mỗi người 15 quan tiền, cai đội thợ đánh dây thuyền và thợ cưa mỗi người 10 quan, các cai quan thủ hợp mỗi người 7 quan, thợ mỗi người 6 quan. Cho mỗi người một chiếc áo hẹp tay.

    Cấp hạn ra thú cho phạm nhân trốn ở Bắc Thành. Thành thần tâu nói “đảng giặc ở các trấn trốn tránh còn nhiều, xin cho thêm hạn ra thú”.

    Chiếu báo rằng: “Năm ngoái giặc cướp nổi lên, đã bị quan quân đánh dẹp. Sợ tội trốn lánh, nhiều người đến nỗi mất làm ăn, trẫm rất thương tình, cho nên phàm tướng giặc đảng giặc nếu biết thực tình ra thú thì đều tha tội để chúng đổi dữ theo lành, cùng nhau ở yên làng mạc. Nay gia hạn cho 3 tháng nữa, để kẻ nhầm nhỡ đều được tự đổi mới. Duy kẻ nào phạm ăn cướp án mạng thì không được tha”.

    Phó vệ úy Ban trực là Mai Văn Thành tham nhũng, việc phát, giáng làm cai đội.

    Sai Thị trung học sĩ Võ Trinh làm Chánh sứ sang nước Thanh chúc mừng (Khánh tiết ngũ tuần của vua Thanh), Thiêm sự Binh bộ là Nguyễn Đình Chất, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Văn Thịnh sung Giáp ất phó sứ. (Phẩm vật: ngà voi 2 đôi, sừng tê 4 tòa, trừu, the, lụa, vải đều 100 tấm).

    Ban mũ áo cho bọn Cai cơ Nguyễn Viết Bảo, Vệ úy Trần Đăng Long, Tôn Thất Bính, Nguyễn Văn Phân, Nguyễn Văn Soạn, Trương Văn Phượng, Hoàng Công Lý.

    Lấy Võ Quý Dĩnh sung Hàn lâm viện.

    Bọn giặc trốn ở Thái Nguyên lẩn trốn ở châu Định Hóa. Trấn thủ Nguyễn Đình Tuyển sai biền binh thuộc trấn cùng với dân huyện Phú Lương đón triệt các đường trọng yếu, chém được tướng giặc tên là Đoài và đồ đảng hơn ba chục thủ cấp, bắt sống hơn hai chục người. Thưởng cho quân và dân 400 quan tiền.

    CHÍNH BIÊN

    ĐỆ NHẤT KỶ - QUYỂN XXXIX
    THỰC LỤC VỀ THẾ TỔ CAO HOÀNG ĐẾ

    Kỷ tỵ, Gia Long năm thứ 8 [1809], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng.

    Dựng hành lang tả hữu, dực lang và trường lang. Một ngày, buổi chiều hôm, người làm việc đã ra rồi, vua tới xem công sở, thấy một người nằm ngủ ở trên xà nhà. Người tả hữu vội vàng gọi dậy. Vua e người ấy sợ mà ngã, ngăn không cho gọi. Bảo người ấy xuống. Nhìn ra thì là Nguyễn Đức Thu làm Vệ úy coi việc ở đấy. Vua cười rồi cho đi. Đầy tháng làm xong, thưởng cho lính và thợ 8.000 quan tiền. Lại thấy dân các đội Hùng diêm, Sinh thiết ở Bình Định làm việc đã lâu, thưởng cho 2.000 quan tiền.

    Triệu Cai bạ Bình Định là Trần Tiến Bảo về Kinh, lấy Thiêm sự Hộ bộ là Nguyễn Văn Diên làm Cai bạ Bình Định.

    Lấy Quản thủ đạo Đông Khẩu là Nguyễn Huy làm Trấn thủ Vĩnh Thanh, Ký lục Biên Hòa là Nguyễn Xuân làm Cai bạ, Thiêm sự Binh bộ là Hoàng Trọng Mộ làm Ký lục Biên Hòa, Quản cơ Nguyễn Văn Lân làm Quản thủ đạo Đông Khẩu.

    Lấy Trần Ngọc Quản sung Hàn lâm viện.

    Lại sai Nguyễn Văn Hanh chở gỗ ở Nghệ An về Kinh. Dụ rằng: “Hiện nay cuối mùa gió nước, thuyền ghe vượt biển, phải nên theo thuận tiện, không nệ chậm chóng”.

    Miễn thuế thân cho dân sở Phú Quốc.

    Hạ lệnh rằng các hiệu đội Mộc đĩnh ở Gia Định lấy nhiều gỗ cây ở Quang Hóa chở về Kinh, cấp cho tiền 4.500 quan, gạo 3.000 phương, miễn thuế ván thuyền hai năm Canh ngọ và Tân mùi; số thuế năm trước còn thiếu tha hết.

    Vua lại nghĩ Quang Hóa đường xa, vận chở khó nhọc, phát 300 người lính ở thành và 30 chiếc thuyền để giúp đỡ, thưởng tiền 300 quan, gạo 300 phương và vải 100 tấm.

    Ba huyện Quảng Trị thường có nạn cọp. Lấy hơn 200 người dân các xã Phù Bài và Thủy Ba đi bắt hổ, thưởng 100 quan tiền.

    Sai quan Bắc Thành kiểm duyệt sổ quân. Phàm binh lính các vệ đội đủ mà chánh phó viên có khuyết thì theo lệ mà cất bổ. Nếu số lính không đủ mà chánh viên khuyết đã có phó viên, phó viên khuyết đã có chánh viên, thì không được nhất khái xin bổ khuyết. Cai đội cai án quyền sai thì đợi có công trạng mới được thăng bổ.

    Nguyễn Văn Bình là Chưởng cơ Vọng Các vì tuổi già xin hưu trí, cho mũ áo và cho mộ thuộc binh 40 người.

    Thái trưởng công chúa Ngọc Huyên mất. Chúa là con gái cả Thế tông Hiếu võ hoàng đế(1. Thế tông Hiếu võ hoàng đế là Nguyễn Phước Khoát. 1), gả cho Chưởng dinh quận công Nguyễn Cửu Thống (con Ngoại tả chưởng dinh quận công Nguyễn Cửu Thông), cuộc biến năm Giáp ngọ, chúa ở lại Thuận Hóa, ở lẫn với nhà chùa, người ta quen gọi là ni cô Vân Dương, từng sai con rể là Nguyễn Đức Tuấn đi dò tin giặc, viết thư kín gởi đến Gia Định để báo. Khi vua đã lấy được Kinh thành, bèn làm nhà cho chúa ở Vân Dương, đến nay chúa mất; sai Tống Phước Lương, Ngô Nhân Tĩnh chi tiền kho để trị tang và dùng nhà ở ấy làm từ đường để thờ.

    Cho Tổng nhung cai cơ Nguyễn Văn Triệu làm Khâm sai chưởng cơ, Cai đội Nguyễn Văn Thảo làm Cai cơ.

    65 chiếc thuyền vận tải của Bắc Thành gặp gió ở ngoài phần biển Nghệ An, thủ ngự cửa Luật Hải [cửa Sót] lấy thuyền đánh cá của dân đưa dẫn vào cửa biển. Thưởng cho hơn 200 quan tiền.

    Đặt đồn Eo ủng ở Nghệ An. Trấn thần tâu nói: “Huyện Quỳnh Lưu tiếp giáp huyện Ngọc Sơn trấn Thanh Hoa, núi rừng rộng vắng, thường có giặc cướp trộm phát. Xin đặt bảo Eo ủng để cùng với bảo Hoàng Mai làm thanh ứng cho nhau”. Vua theo lời xin. Sai lấy một Phó vệ úy đem hơn 100 quân đóng giữ.

    Tháng 8, chuẩn định từ nay, tế Mậu ở đàn Xã Tắc, tế Đinh ở Văn Miếu, cứ ba năm một lần vua thân hành đến tế. (Tế đàn Xã Tắc dùng ngày mậu về mùa xuân và mùa thu trong những năm tý, mão, ngọ, dậu; tế Văn Miếu thì dùng ngày đinh về mùa xuân và mùa thu những năm sửu, thìn, mùi, tuất), còn các năm khác thì sai quan đại thần tế thay.

    Vua cùng Lê Chất bàn về đạo dùng người, dụ rằng: “Từ xưa bầy tôi có kẻ ngay thẳng đền ơn nước, cũng có kẻ gian nịnh làm hại nước, nên đạo dùng người thực phải cẩn thận”.

    Hạ lệnh cho Quảng Bình lấy dân in và nung gạch ngói, rồi vì nước to nên bãi.

    Thuyền buôn của Ngô Ngạnh là người Xiêm gặp gió bão dạt vào bến Đà Nẵng, cấp cho 200 phương gạo.

    Ẩm thụ cho cháu Chưởng dinh Tôn Thất Tráng là Tôn Thất Giảng làm Thứ đội trưởng để giữ việc thờ Tráng. Trước là Tôn Thất Hoán là ngành thứ mạo nhận tập ấm. Việc phát, lấy lại bằng, cho Giảng được tập ấm.

    Thả cho năm quân ở Bắc Thành về, sai thành thần thưởng cấp mỗi người 6 phương gạo.

    Hạ lệnh cho Bắc Thành lấy đất hạng nhì và đá đỏ đá đen ở Lãm Sơn (tên núi) huyện Đông Triều chở về Kinh.

    Làm ống thông hơi bằng tre cho kho ở Kinh. Vì kho chứa nhiều thóc bị mốc mục và mọc mộng, bèn sai làm ống tre đặt ở các kho cho lúa có lỗ thông khỏi hấp hơi mà mốc.

    Vệ úy Thị trung là Văn Nguyên sai riêng quân lên rừng lấy gỗ và dung túng cho người dưới quyền xuống các làng sách nhiễu. Việc phát, đánh 70 roi và bãi chức.

    Định điều lệ ngạch thuế cho thuyền buôn Hà Tiên, Xiêm La, Hạ Châu.

    1. Thuyền buôn Hà Tiên và Xiêm La, trung tâm bề ngang từ 6 thước đến 6 thước 9 tấc, đánh thuế cảng vào bực ba hạng ba, tiền 40 quan; từ 7 thước đến 7 thước 9 tấc, đánh thuế vào bực hai hạng ba, tiền 50 quan; từ 8 thước đến 8 thước 9 tấc, đánh thuế vào bực nhất hạng ba, tiền 60 quan; từ 9 thước đến 9 thước 9 tấc, đánh thuế bực ba hạng nhì, tiền 80 quan; từ 10 thước đến 10 thước 9 tấc, đánh thuế bực hai hạng nhì, tiền 100 quan; từ 11 thước đến 11 thước 9 tấc, đánh thuế bực nhất hạng nhì, tiền 120 quan; từ 12 thước đến 12 thước 9 tấc, đánh thuế bực ba hạng nhất, tiền 150 quan; từ 13 thước đến 13 thước 9 tấc, đánh thuế bực nhì hạng nhất tiền 180 quan; từ 14 thước đến 14 thước 9 tấc, đánh thuế bực nhất hạng nhất, tiền 210 quan.

    2. Thuyền buôn Hà Tiên và Xiêm La, bề ngang từ 6 thước đến 6 thước 9 tấc, chở bán thoi sắt Hà Sung 2.000 cân, hoặc phiến gang 4.000 cân; ngang từ 7 thước đến 7 thước 9 tấc, thoi sắt 2.500 cân hoặc phiến gang 5.000 cân; ngang từ 8 thước đến 8 thước 9 tấc, thoi sắt 3.000 cân hoặc phiến gang 6.000 cân, ngang từ 9 thước đến 9 thước 9 tấc, thoi sắt 4.000 cân hoặc phiến gang 8.000 cân; ngang từ 10 thước đến 10 thước 9 tấc, thoi sắt từ 5.000 cân hoặc phiến gang 10.000 cân; ngang từ 11 thước đến 11 thước 9 tấc, thoi sắt từ 6.000 cân hoặc phiến gang 12.000 cân; ngang từ 12 thước đến 12 thước 9 tấc, thoi sắt 7.500 cân hoặc phiến gang 15.000 cân; ngang từ 13 thước đến 13 thước 9 tấc, thoi sắt 9.000 cân hoặc phiến gang 18.000 cân; ngang từ 14 thước đến 14 thước 9 tấc, thoi sắt 10.500 cân hoặc phiến gang 21.000 cân, các hạng thuyền trên đây chở bán đúng như lệ thì cho được mua tơ, kén, lụa, vải, đường cát, đường phổi, đường phèn, lại trừ thuế cảng cho. Nếu chở bán không như lệ thì chỉ cho mua tạp hóa và lại đánh thuế.

    3. Sắt Hà Sung 100 cân trị giá 6 quan tiền, phiến gang 100 cân trị giá 3 quan tiền, lấy làm giá thường của nhà nước.

    4. Thuyền buôn Hà Tiên và Xiêm La, trung tâm ngang từ 15 thước trở lên thì chiếu theo lệ thuế cảng của thuyền buôn Hải Nam.

    5. Thuyền buôn của Hạ Châu đến buôn ở các trấn thì chiếu theo lệ thuyền buôn của Ma Lục Giáp và Chà Và mà đánh thuế.

    6. Vàng, bạc, muối, gạo, tiền đồng, kỳ nam, trầm hương đều cấm không được mua bán.

    7. Các hàng quý như ngà voi, sừng tê, đậu khấu, sa nhân, nhục quế, hồ tiêu, gỗ vang, gỗ mun, gỗ hồng, thuyền buôn Hà Tiên và Xiêm La có mua để chở về thì cứ chiếu giá mua, cứ mỗi 10 quan tiền phải nộp thuế hàng 5 tiền. Nếu chở đi các trấn để bán lại cho người bản địa thì miễn thuế.

    8. Thuyền buôn Hà Tiên và Xiêm La đã vào trước cửa biển trấn nào, đã chở bán thoi sắt phiến gang hoặc đã nộp thuế cảng rồi, mà lại đi sang trấn khác để buôn bán thì phải lãnh văn bằng của quan sở tại, để khỏi phải chịu thuế lần nữa. Đến ngày trở về chỉ cho mỗi người được mua 1 phương gạo.

    9. Khi thuyền buôn Hà Tiên và Xiêm La vào cửa, quan sở tại đều chiếu văn bằng mà kiểm xét số người trong thuyền, khi trở về lại kiểm đúng số, cấp văn bằng cho về. Nếu có chở kèm người bản quốc, không kể trai gái già trẻ, tức thì bắt giữ trị tội. Chủ thuyền chở kèm thì xử 100 trượng, đồ 3 năm; người trong thuyền đều bị 50 roi. Người trong thuyền mà chở kèm cũng bị tội trượng và tội đồ, chủ thuyền bị 60 trượng, những người khác đều bị 50 roi; tài vật đều sung công. Người ở trong thuyền ai phát giác thì được miễn tội mà hàng hóa cũng không mất. Nếu người ngoài phát giác thì lấy tiền tang vật của người phạm tội thưởng cho 100 quan.

    10. Các thuyền buôn Hà Tiên, Xiêm La và Hạ Châu chỉ được đi thông thương từ bốn trấn ở Gia Định cho đến Quảng Ngãi là thôi.

    11. Những dân buôn ở các thành dinh trấn cùng người Thanh ngụ ở nước ta không được tự tiện đi đến Xiêm La và Hạ Châu buôn bán.

    12. Phép đo thuyền dùng thước đồng của nhà nước làm chuẩn, đo từ mảnh ván chắn nước ở đầu thuyền đến mảnh ván chắn nước ở cuối thuyền, được bao nhiêu trượng thước là chiều dài; chia đôi lấy giữa làm trung tâm, ở chỗ trung tâm đo từ mặt ngoài ván che bên tả đến mặt ngoài ván che bên hữu được bao nhiêu thước tấc là ngang, phần lẻ không kể.

    13. Các trấn cứ chiếu số các thuyền buôn đến buôn chịu thuế trong một năm, đến cuối năm làm sổ hai bản giáp ất, do quan cai tàu chuyển tâu lên).

    Chia các biền binh ngạch cũ của hai đội Nội hầu làm hai đội nhị và tam. Lấy người huyện Tống Sơn cùng những người rút về ở đội Hữu hầu và đội An lão để bổ sung. (Đội nhị 61 người, đội tam 64 người, mỗi tháng cấp lương mỗi người 1 quan 5 tiền và 1 phương gạo).

    Vua thường lo đến đời sống của dân, khi có quan ở ngoài vào chầu thì vời hỏi về công việc làm ruộng, mưa nắng thế nào, giá gạo đắt rẻ. Đến nay lại hạ lệnh cho các trấn phủ huyện hỏi khắp dân gian về thời tiết cấy gặt vụ mùa vụ chiêm và về đất nên trồng những cây gì, làm sớ kê rõ tâu lên.

    Thành thần Gia Định tâu rằng: “Lỵ sở Định Tường ở tại Mỹ Tho, xuống cửa biển thì hơi gần, lên đầu nguồn thì hơi xa, xin chọn một nơi đường đi lên xuống đều nhau để dời đến”. Vua cho rằng nơi ấy liền với sông cái, trên nắm Đông Khẩu, dưới thông với các tấn, không đâu tốt hơn đấy”. Không y lời xin.

    Thành thần lại tâu rằng: “Thành trấn chật hẹp, xin cho dựng kho tàng ở trong thành, dựng hành cung và các sảnh thự ở ngoài thành”. Vua y cho.

    Tham luận Tả quân là Phan Văn Tải tố cáo Lê Văn Duyệt thiết lập bảo và kho, ngầm sai người đi ra Bắc Thành dụ người hào kiệt. Lại thường cùng Lê Chất đi lại nói kín với nhau, ngờ là có mưu phản. Văn Duyệt sợ hãi, xin cứu xét.

    Vua giao cho Hình bộ xét hỏi thì những lời tố cáo của Tải đều là vu cả, nghị nên xử tội chết. án ấy tâu lên. Vua nói: “Lời Tải đã nói dáng như có duyên cớ, nên xét cho cùng để dứt mối ngờ về sau”. Lại sai đình thần xét lại. Tải không nói được điều gì, bèn phải tội chết.

    Tháng 9, triệu Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Công Đàn về Kinh, lấy Thiêm sự Hình bộ là Trần Bá Bảo làm Ký lục Vĩnh Thanh.

    Lấy Tham tri Binh bộ là Vũ Danh Trung làm Tham tri Hình bộ.

    Lấy Phó đốc học Quốc Tử Giám là Nguyễn Viết Ưng làm Chánh đốc học Quốc Tử Giám, hương cống triều Lê cũ là Lê Lãng làm Phó đốc học, Hàn lâm viện là Trần Ngọc Quán, Vũ Quý Đĩnh và Tham luận Hậu quân là Nguyễn Văn Phong làm Thiêm sự Lại bộ, Hàn lâm viện là Phùng Huy Giảng, Thừa chỉ là Nguyễn Văn Quang, Tri phủ Thiệu Thiên là Đoàn Công Nghi làm Thiêm sự Hình bộ, Nguyễn Hữu Nghị sung Hàn lâm viện.

    Ban điều lệ Đê chính cho Bắc Thành.

    Vua lưu ý đến việc phòng nước sông, sai thành thần tham chước việc cũ tâu lên, lại sai đình thần bàn lại, định làm điều lệ ban hành:

    1. Làm sổ chung. (Phàm đê điều và cống nước sở tại, quan trấn biên đủ số để làm ngạch nhất định).

    2. Khám xét. (Mỗi năm đến tháng 10, các quan phủ huyện đi khám trước, xem chỗ nào nên đắp mới và nên sửa lại thì trình rõ quan trấn để khám lại. Quan trấn lại trình rõ quan Đê chính khám nghiệm, phân biệt công trình lớn nhỏ để quan tổng trấn xét duyệt).

    3. Công việc. (Phàm đắp đê mới và sửa đê cũ rộng từ 5 thước trở lên và làm cống mới, những việc ấy là công trình lớn, đều phải lượng nhân công vật liệu và số tiền công nên chi bao nhiêu, quan Đê chính chép đưa cho quan trấn rồi sai các phủ huyện mộ dân làm phu khoán. Việc sửa đắp đê cũ rộng từ 4 thước trở xuống và tu bổ cống cũ là công trình nhỏ, chỉ sai dân chỗ nào mà thế nước chảy đến ứng dịch. Công việc đều bắt đầu làm từ tháng giêng tháng 2. Công việc nhỏ hạn một tháng làm xong, thượng tuần tháng 3 thì quan Đê chính đến khám nghiệm. Công trình lớn thì hạn hai tháng làm xong, thượng tuần tháng 4 thì quan Đê chính đến khám nghiệm. Nếu có chỗ nào sơ lược, làm không đúng cách thức, tùy theo nặng nhẹ mà kết tội, bắt phu khoán làm đền. Quan Đê chính phải vẽ bản đồ và làm sổ, quan tổng trấn phải ghi những số tiền đã chi tiêu tâu hết lên).

    4. Tính giá. (ở thượng lưu trung lưu sông cái, mặt đê rộng 2 trượng, chân rộng 7 trượng, cao 1 trượng, 2 thước, mỗi trượng lấy đất chứa trên mặt bằng 54 đống làm hạn. ở hạ lưu thì mặt đê rộng 1 trượng 5 thước, chân rộng 5 trượng cao 1 trượng, mỗi trượng lấy đất chứa 32 đống 5 thước làm hạn. Những sông vừa, mặt đê rộng 1 trượng 2 thước, chân rộng 4 trượng cao 1 trượng, mỗi trượng lấy đất chứa 26 đống làm hạn. Những sông nhỏ, mặt đê rộng 9 thước, chân rộng 3 trượng cao 9 thước, mỗi trượng lấy đất chứa 17 đống 5 thước 5 tấc làm hạn. Chỗ bùn lầy, sâu từ 1 thước đến 4 thước, mỗi trượng dùng 46 cây gỗ, 6 cây tre tươi. Bùn lầy sâu 5, 6 thước trở lên, mỗi trượng phải dùng 73 cây gỗ, 6 cây tre tươi, đều chi tiền mua dùng để làm cọc cốt đê, cánh phên, cầu dài, cầu ngang, cùng cừ gỗ, sách gỗ hai bên. Lại sai dân đào hết bùn lầy đi, đến đất chắc mới cho đắp làm. Phàm đắp đê mới hay sửa đê cũ, về công trình lớn thì định đống đất bốn bề mỗi bề dài 1 trượng sâu 1 thước làm một đống. Xem lấy đất gần xa khó dễ để định tiền công thuê. Như ngoài chân đê 5 trượng hai bên có thể lấy được đất thì tiền công bớt đi. Nếu chỗ lấy đất được có một bên, hay bị hồ ao gián cách thì tiền công tăng lên. Đê ở sông cái tính để lại mỗi trượng 3 quan, đê ở sông nhỏ, tính để lại mỗi trượng 1, 2 quan, đợi sau có phải đắp đền hay không sẽ chiếu số trả lại. Làm cống nước, đào đất cũ đi và lấy đất lấp đầy lên, cứ mỗi đống đất cấp cho 6 tiền. Mua gỗ lim, cây dài 12 thước, ngang 1 thước, trị tiền 22 quan. Cứt sắt, đá trấy, mỗi 100 cân trị giá 3 tiền. Mây chão mỗi 100 cân trị giá 4 tiền. Lấy sắt cống rèn đanh, thiếu phải mua thêm mỗi 100 cân trị giá 12 quan. Than gỗ 100 cân trị giá 1 quan. Cây gỗ làm chày, hai đầu bọc sắt, mỗi cây dài 4 thước 3 tấc, ngang 3 tấc, trị giá 1 tiền 30 đồng, nện chày mỗi ngày 2 tiền).

    5. Giám đốc. (Quan Đê chính ủy cho thuộc viên cùng với thuộc viên của trấn chia nhau đi trông coi đốc suất).

    6. Bảo cố. (Đê và cống đã làm xong, đều sai phu khoán phòng giữ, đê hạn 3 năm, cống hạn 5 năm, trong hạn ấy, có chỗ nứt lở sụt đổ thì phải làm đền. Quan trấn và người trông coi đốc suất đều tùy theo nhẹ nặng mà luận tội. Quan Đê chính cũng bị phạt. Nếu đê vì nước lên mạnh quá sức người không thể chống giữ được thì miễn tội).

    7. Phòng và hộ đê. (Hằng năm cứ đến kỳ tháng 4 nước sông lên to, quan trấn chia nhau đi khám xét. Đoạn nào xung yếu, khiến phủ huyện bắt dân đắp phụ ngay. Chỗ nào nước chảy xói mạnh quá thì đốc quân và dân để sẵn nhiều sọt đất và cây gỗ để tùy thế chống giữ. Đoạn nào thế khó giữ được thì báo ngay cho thành, để phái thêm quan và binh góp sức chống giữ. ở ngoài chân các đê sông lớn cách 5 trượng hoặc 7 trượng, mỗi trượng trồng sáu cây tre để chống sóng dữ và khi khuyết vỡ thì lấy mà chống chữa, không quan hệ đến việc chống chữa thì không ai được chém tre ấy).

    8. Răn cấm. (Những quan lại quân lính khám xét, trông coi, làm việc, đều không được sách nhiễu tiền gạo của dân và bắt dân khiêng chở. Làm trái thì thành thần xét trị tội).

    Chia các công tượng [thợ] ở Bình Định làm ba ban để sang xuân về Kinh làm việc, lần lượt thay đội để cho nhọc rỗi đều nhau.

    Bọn Lê Duy Hoán, Lê Duy An vào chầu. Cho hơn 100 quan tiền.

    Bắc Thành bị gió bão, nước biển tràn lên. Hải Dương, Yên Quảng và Sơn Nam hạ nặng nhất, dân gian bị hại nhiều. Thành thần đem việc tâu lên, và xin sai người đến khám để bàn việc chẩn cấp.

    Chiếu trả lời rằng: “Dân đương mắc nạn đói, không thể trông nhờ vào đâu, nếu đợi khám rồi mới chẩn cấp thì làm sao cứu được cái nạn cần kíp như lửa đốt lông mày”. Bèn hạ lệnh cho Phạm Như Đăng đi Sơn Nam hạ, Đặng Trần Thường đi Hải Dương, Yên Quảng, theo tại nạn nặng nhẹ, khiến trấn thần sở tại phát ngay thóc mà chẩn cấp.

    Trấn thần Bình Định tâu rằng: “Dân thôn Vĩnh Khánh trưng mua đầm Hải Đông thuộc Thanh Châu gồm 10 sở, mỗi năm nộp thuế yến sào 10 cân, nay lấy không được, xin nộp thay bằng tiền 400 quan”. Vua y cho.

    Vua thấy Hình bộ Phước tâu các án, thường tâu sau khi các nha đã tâu việc rồi, bèn triệu đường quan sáu bộ mà dụ rằng: “Việc hình ngục quan hệ đến tính mạng của thiên hạ, từ nay các quan tâu việc, trừ khi là việc quan trọng khẩn cấp, thì bộ Hình đem việc án tâu trước để tỏ ý của trẫm kính cẩn việc dụng hình”.

    Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng.

    Tham hiệp Sơn Tây là Dương Công Tòng, Tham hiệp Sơn Nam thượng là Nguyễn Công Viên đều nghỉ đinh ưu. Lấy Tri phủ Kinh Môn là Lê Văn An làm Tham hiệp Sơn Tây, Tri phủ Lạng Giang là Nguyễn Văn Khánh làm Tham hiệp Sơn Nam thượng.

    Lưu thủ Quảng Đức là Nguyễn Công Hòa, Lưu thủ Quảng Trị là Nguyễn Cửu An xin nghỉ về thăm nhà. Vua y cho. Công Hòa nói với Binh bộ Lê Quang Định phái cấp cho 20 người lính dinh đi theo. Vua nghe tin nói rằng: “Về thăm nhà là việc riêng của Hòa, sao được đem riêng lính dinh đi theo?”. Tức thì xuống lệnh trói Quang Định ở công thự bên văn, bắt Công Hòa trở về Kinh, giao cho đình thần xét hỏi, rồi tha cho. Sai lấy lính đội Tiệp sai cấp cho Công Hòa 6 người, cấp cho Cửu An 5 người.